CHƯƠNG 1 CƠ SO LÝ LUẬN VÀ GIỚI THIỆU PHAM VI KHÔNG GIAN NGHIÊN CỨU 1. Hệ thống các khái niệm 1. Khái niệm Am thực dưỡng sinh Am thực là ăn uống, dưỡng sinh (3ÊZ) là duy trì sức sống. Cụ thé dưỡng là nuôi nang, bồi bổ; sinh là sinh mạng, sự sống.
Người Việt Nam và người Trung Quốc đều có câu liên quan đến việc ăn uống như là: Nhân sinh vĩ thực di tiên nghĩa là việc ăn uống cần được coi trọng hàng đầu. Việt Nam hay ví có thực mới vực được đạo, Thực túc binh cường. Âm thực là nhu cầu thiết yếu của dé duy trì và phát trién của toàn xã hội. Âm thực ngày nay là một phương tiện dé duy trì và lưu giữ văn hóa.
Từ xưa người ta quan niệm “bệnh từ miệng mà ra” nên không những ăn uống đúng cách có thé giúp con người bôi bé khí huyết, sức khỏe mà còn tránh được bệnh tật. Như vậy, khái nệm 4m thực dưỡng sinh thể hiện quá trình ăn uống có kế hoạch được đảm bảo bằng kiến thức khoa học và tri thức dân gian. Việc ăn uống có kế hoạch ở đây bao gồm tránh những thực phẩm có hại cho sức khỏe và tăng cường nhũng thực phẩm có lợi hoặc phối hợp các thực phẩm với nhau đề bồi bé sức khỏe từ bên trong. Người xưa thường nói: “Thánh nhân chỉ ngừa bệnh chứ không chữa bệnh” 4m thực dưỡng sinh ngày nay dạy chúng ta ăn uống đúng vệ sinh, thực phẩm cân bằng day đủ chất dinh dưỡng, tăng cường hoạt động thé dục thé thao dé giữ cho thân thé khoẻ mạnh.
Trong quan niệm của Đông y, khí mùa Xuân thông với tạng Gan, ứng với hành Mộc. Nếu chức năng của Gan bị trục trac, con người sẽ dé bị kích động, phát sinh “nộ khí” (cau giận). [28] Cho nên trong khoảng thời gian nay nên tăng cường việc nuôi trồng tránh với sát sinh, tạo nghiệp cho bản thân. Đồng nghĩa với việc vào mỗi mùa trong năm cần ăn những loại thực phâm phù hợp đề cơ thể có thê hài hòa với điều kiện bên ngoài.
Khái niệm Âm dương quân bình Trong xã hội Trung Quốc và Việt Nam tổn tại khái niệm âm - dương quân bình. Quan niệm âm dương quân bình nằm trong hệ thống quan niệm vũ trụ luận nguyên sơ phương Đông chỉ phối nguồn gốc của tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới này. Trong đó, con người và môi trường nằm trong một thể thống nhất tương sinh, tương khắc lẫn nhau. Âm- đương luôn vận động trong thế giới tạo ra hài hòa ở vạn vật.
Theo Đông Y Dich lý có câu: “Troi lay dương sinh van vật, lay âm thành vạn vật. Sinh là nhân, thành là nghĩa. Cho nên thánh nhân dùng nhân dé dục vạn vật, dùng nghĩa để chính vạn vật”. Câu nói này nói lên cách sống của con người, đó là giữ cho được sự tĩnh: Sống hoà hợp với lẽ biến hoá của âm dương.
Trong 4m thực, mọi đồ ăn - thức uống đều mang trong mình thuộc tính âm - dương. Theo quan niệm của Đông Y và Y học cổ truyền Việt Nam “hoa tur miệng mà ra”, những thứ ta nạp vào cơ thé không phù hợp, cân bang có thé trở nên nhiễm độc, trong khi ngược lại nếu cân bằng được âm dương sẽ bồi bổ được khí huyết, cơ thé khỏe mạnh sống lâu. Trong “Hoàng Đề Nội kinh tố vấn” (Nguyễn Tử Siêu dịch) có đoạn nói rất rõ vai trò quan trọng của 4m thực dưỡng sinh: “Tôi nghe người đời thượng cổ đều sống đến trăm tuổi mà sức khỏe không kém sút, đến nay người mới năm mươi mà sức khỏe đã kém sút. Đó là vì thời thế khác chăng? Hay là lỗi tại người chăng? Kỳ Bá thưa rằng: Về đời thượng cổ, những người biết đạo, bắt chước ở âm, dương; điều hóa với thuật số, ăn uống có mực, khởi cư có thường, không làm quá sức, cho nên gìn giữ được hình hài và tinh thần, sống trọn số trời, linh trăm tuổi mới thác.
Người đời nay thì không thé; lấy rượu thay làm nước uống; lay can bay làm sự thường; đương lúc say thì nhập phòng; do lòng dục làm kiệt mat tinh, hao tán đến mat khí chân nguyên; không biết gin giữ can thận; không biết điều dưỡng tinh than; 13 chỉ cốt cho được khoái tâm, làm trái ngược thú vui của dưỡng sinh; khởi cư không có điều độ. Cho nên nửa độ trăm tuôi là đã suy yếu” [14, tr. Những triệu chứng thường gặp liên quan đến âm- dương chứng STT Âm chứng Dương chứng 1 Cảm thấy lạnh, hay ớn lạnh, sợ | Thường cảm thấy nóng, hay bứt rứt trong nước. người, không sợ gió, sợ lạnh: thích gió.
2 It khát nước (hay uống nóng). | Thường khát nước (hay uống lạnh). Thường ăn nhiều, ngon miệng. Thường mau tiêu.
7 Thường bị tiêu chảy, phân | Thường táo bón, kiết, tiêu vàng, đỏ. Đái mềm, tiêu trong, nhiều. 8 Yếu kém về tình dục. Mạnh về tình dục.
9 Hay nằm, ngồi, lười biếng. Hoạt động nhiều. 10 Da mềm, lạnh (mát) xanh. Da cứng, ấm (nóng), hồng.
11 Mach cham, yếu, chìm, nhỏ. | Mạch nhanh, nỗi to. 12 Huyết áp thường thấp. Huyết áp thường cao.
Nguồn: Sách am thực dưỡng sinh, GS.TS: Bùi Quốc Châu 1. Tri thức dân gian, tri thức địa phương Theo PGS.TS Lê Trọng Cúc: “Tri thức địa phương hay còn gọi là tri thức bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ khác nhau. Tri thức địa phương được hình thành trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được hình thành dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội. Nó hướng đên việc hướng dân và điêu hòa các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người và sản xuất [3, tr.TS Ngô Đức Thịnh: “Tri thức ban dia là toàn bộ hiểu biết của con người về tự nhiên, xã hội và bản thân, hình thành và tích lũy trong quá trình lịch sử lâu dai của cộng đồng, thông qua trải nghiệm trong quá trình sản xuất, quan hệ sản xuất và thích ứng môi trường.
Nó tồn tại đưới nhiều hình thức khác nhau truyền từ đời này sang đời khác bằng trí nhớ và thực hành xã hội. Tri thức bản địa gồm những lĩnh vực sau: Tri thức về tự nhiên và môi trường (kê cả vũ trụ), tri thức về bản thân con người (cơ thể học, dưỡng sinh, trị bệnh); tri thức về sản xuất, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; tri thức về ứng xử xã hội và quản lý cộng đồng; tri thức về sáng tạo nghệ thuật” [18, tr. Theo Trần Công Khánh và Trần Văn Ơn: “Là hệ thống tri thức, bao gồm rất nhiều lĩnh vực liên quan đến sản xuất, phong tục, tập quán, tín ngưỡng, sức khỏe, tô chức cộng đồng, của một tộc người hoặc một cộng đồng tại một khu vực địa lý cụ thể. Nó được hình thành trong quá trình sống và lao động của cả cộng đồng, từ đàn ông, đàn bà, người lớn tuổi đến trẻ em.
Nó được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền bằng truyền miệng.15] Theo Hà Hữu Nga (2009), “Tri thức bản địa và phát triển”, Hội thảo khoa học “Đề xuất các giải pháp bảo tồn và phát triển huy động góp phan phát triển kinh tế — xã hội tỉnh Quảng Ngãi”: Tri thức dân gian là “Truyền thống, kinh nghiệm và tập quán song lâu đời cua một cộng đồng liên quan đến môi trường tự nhiên, xã hội, sinh hoạt và tinh thần của cộng đồng. Tri thức ban địa bao gồm các loại trí tuệ, kinh nghiệm, phong tục, tập quán và bài học của cộng đồng. Tri thức bản địa là được thê hiện qua các câu chuyện, thần thoại, văn học dân gian, các nghi thức, lễ tiết, phong tục, tập quán, quy định, luật tục được truyền từ đời này sang đời khác, từ người này sang người khác.” Tóm lại, tri thức dân gian hay tri thức bản địa bao gồm những đặc điểm sau: gắn liền với một cộng đồng, khu vực địa lý nhất định; được đúc kết trong quá trình lao động và sản xuất; được lưu lại qua trí nhớ và lưu truyền qua phương thức truyền miệng: được 15 kiểm chứng bằng kinh nghiệm. Với những đặc điểm trên tri thức dân gian đôi khi không chính xác trái ngược hoàn toàn đối với tri thức khoa học.
Tuy nhiên, đối với các cộng đồng dân cư thì đây là nguồn tư liệu quan trọng trong cuộc sống. Tri thức dan gian về am thực dưỡng sinh Tri thức dân gian về âm thực dưỡng sinh hiểu đơn giản thì đó là những hiểu biết, kinh nghiệm của cộng đồng về các thực phẩm có tác dụng chữa bệnh, bồi bé cơ thể; được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng trí nhớ và phương thức truyền khẩu, truyền miệng. Tri thức dân gian này hướng đến việc chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng đó bằng những nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên. Loại hình này với đặc tính là kinh nghiệm truyền miệng nên thường không có căn cứ khoa học mà chỉ được kiểm nghiệm độ hiệu quả dựa trên thực tế.
Lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu Lý thuyết âm thực dưỡng sinh là một lý thuyết quan trọng trong công tác nghiên cứu y học va âm thực hiện nay. Lý thuyết này trước kia rất phố biến trong dân gian và được xem như là cách thức phòng bệnh hiệu quả nhất được Đông Y và Nam dược khuyên dùng. Ngày nay, những tri thức ấy van tôn tại trong bữa ăn hàng ngày của người dân bản địa dé hỗ trợ bồi bổ cơ thé và bổ trợ cho quá trình chữa bệnh. Những chuyên gia trong Y học cũng luôn khuyến khích người dân sử dụng phương pháp này dé giữ gìn một cơ thé khỏe mạnh.
Trong Hoàng Dé nội kinh từng mượn việc van đáp giữa hoàng dé và các vị triều thần để nói đến việc ăn uống dưỡng sinh để có thể sống lâu, sống khỏe. Người Trung Hoa thì hay sử dụng bộ phận nào đó của con vật dé ngâm rượu uống hoặc tiềm với thuốc, ăn để chữa bệnh. Chính vì vậy, âm thực dưỡng sinh đã được khái quát thành một hệ thống tư tưởng trong văn hóa âm thực ở cả phương Đông và phương Tây hiện nay. Lý thuyết âm dương quân bình là một lý thuyết quan trọng về bản nguyên của thế giới trong quan niệm của người Trung Quốc và Việt Nam.
Âm dương đại diện cho hai phần ngược nhau nhưng hỗ trợ lẫn nhau tạo nên thế giới.