đặt vấn đề phân biệt tên gọi thi phái, đa số đều xếp sơn thuỷ và điền viên chung một dòng, và có thể gọi là phái sơn thủy điền viên, phái điền viên, phái sơn thủy, phái Vương Mạnh, hay phái tự nhiên. "Đại cương văn học sử Trung Quốc" của Nguyễn Hiến Lê khẳng định Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên là đại biểu của "phái tự nhiên", phái thơ "cho rằng không còn cách nào cải tạo được thời thế, nên chán đời, 12 muốn ẩn trong rừng sâu, núi thẳm, nghe tiếng suối, tiếng chim, nhìn mây bay, trăng mọc. Họ chịu di phong của Đào Tiềm và Tạ Linh Vận, nhàn tản giữa cảnh thiên nhiên, dùng nghệ thuật để tả cái thú nhấp trà trong sương sớm hoặc nhìn cúc dưới gió chiều" [61,443]. "Giáo trình lịch sử văn học Trung Quốc" của các tác giả Trương Chính, Trần Xuân Đề, Nguyễn Khắc Phi (NXB Giáo dục, H.1961) cũng nhận xét thơ tả cảnh của Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên là "thứ thơ sơn thuỷ điền viên của những người siêu thoát, nhàn nhã, tách rời cuộc sống xã hội" [44,11].
Cuốn "Đại cương văn hoá phương Đông" của Lương Duy Thứ khẳng định có thể chia thơ Đường thành bốn phái theo nội dung và phong cách biểu hiện: phái biên tái, phái điền viên, phái lãng mạn, phái hiện thực. Theo tác giả, phái điền viên "đề tài chủ yếu là cuộc sống ẩn dật nơi thôn dã, hai nhà thơ tiêu biểu là Vương Duy và Mạnh Hạo Nhiên" [104,50]. Sách "Giới thiệu văn hóa phương Đông" do Mai Ngọc Chừ chủ biên cho rằng thái độ sống "chọn con đường ẩn sĩ, muốn ẩn mình nơi núi rừng bao la, tìm sự thanh tịnh cho cuộc sống và tâm hồn" là đề tài sáng tác của phái thơ sơn thủy điền viên thời Thịnh Đường, đại diện là Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên. Các thi nhân ấy "bằng những lời thơ tinh tế và dẹp đẽ miêu tả cảnh sắc sông núi tươi đẹp và cuộc sống điền viên thanh tịnh, tâm hồn nhà thơ chìm đắm trong thế giới tự nhiên đầy màu sắc, trút bỏ hết những vướng bận của đời sống hiện thực xung quanh" [16,870].
Trong "Tìm hiểu thơ Đường", Trần Trọng San lại đánh giá "Thơ thời Thịnh Ðường có thể xếp thành ba phái chính: phái biên tái, phái điền viên và phái xã hội" trong đó "phái điền viên bắt nguồn từ thơ Ðào Uyên Minh thời Tấn. Trong thời kì này, phái điền viên có những tác giả hữu danh như nhà ẩn sĩ phong lưu Mạnh Hạo Nhiên, vị thi Phật Vương Duy với những bài thơ đầy điệu nhạc, ý họa và vị thi Tiên Lý Bạch phóng khoáng hồn nhiên" [86,6]. Cách phân chia thi phái như trên và việc xếp Lý Bạch vào dòng thơ điền viên là một gợi ý khá mới lạ. Trong lời giới thiệu cuốn "Thơ Đường", Nam Trân gọi phái thơ của Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Trừ Quang Hy là "phái Vương Mạnh".
Nguyễn Tôn Nhan trong "Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc" cũng giải thích về "Vương Mạnh thi phái": "Cuối đời họ đều thoát ly hiện thực, ẩn cư ở nơi cảnh đẹp, sống cuộc đời ẩn dật thanh nhã an nhàn, thơ thời kỳ này của họ chủ yếu là ca ngâm về vẻ đẹp của điền viên sơn thuỷ, diễn tả thú vui nhàn hạ của bản thân mình" [72,885]. Trong "Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung Quốc", Nguyễn Tôn Nhan khẳng định "trường phái thi ca ngâm vịnh cảnh sắc tự nhiên 13 sơn thủy và đời sống ruộng vườn ở đời Thịnh Đường" là sơn thủy điền viên phái [73,228]. Trong các chuyên luận của một số tác giả chuyên nghiên cứu về thơ Đường, thi phái mà Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên là đại biểu trứ danh đều được gọi là thi phái sơn thủy điền viên. Như "Diện mạo thơ Đường" của Lê Đức Niệm khẳng định thời Thịnh Đường "xuất hiện nhiều nhà thơ nổi tiếng đi vào đề tài xã hội, thiên nhiên và cá nhân.
Nhóm thơ sở trường sơn thuỷ điền viên có Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy, Trừ Quang Hy…" [74,31]. "Thi pháp thơ Đường", công trình nghiên cứu về hệ thống phương tiện nghệ thuật thơ Đường của Nguyễn Thị Bích Hải cũng cho rằng đời Đường có thi phái sơn thủy và thi phái biên tái, phái sơn thủy được khởi phát từ thời Lục triều với Đào Tiềm và Tạ Linh Vận. Trong tiểu luận "Văn học Trung Quốc với nhà trường", Hồ Sĩ Hiệp khi bình bài thơ Xuân hiểu của Mạnh Hạo Nhiên đã nhận định: "Mạnh Hạo Nhiên là người chủ xướng của thi phái sơn thủy điền viên cùng với Vương Duy" [38,71]. Các công trình nghiên cứu riêng về Vương Duy như Về thơ Vương Duy của Đinh Vũ Thùy Trang, Tác gia tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường: Vương Duy do Lê Nguyên Cẩn chủ biên, Nghệ thuật hội họa trong thơ sơn thủy điền viên của Vương Duy và Một số đặc trưng cảnh giới nghệ thuật thơ Vương Duy của Trần Thị Thu Hương đều đánh giá Vương Duy là chủ soái của thi phái điền viên sơn thủy.
Như vậy, đa số đều ghép thơ sơn thủy với thơ điền viên thành một dòng. Trong chuyên luận "Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường", Nguyễn Sĩ Đại phân chia hệ thống đề tài của thơ Đường trong đó có nhấn mạnh tới đề tài thiên nhiên và cho rằng sự phân chia đề tài chỉ có tính chất tương đối vì "bất cứ đề tài nào cũng lấp lánh hình ảnh thiên nhiên và trong đề tài thiên nhiên, điều các tác giả muốn gửi gắm vẫn là chuyện con người" [24,56]. Tác giả đánh giá cao đề tài này trong thơ Đường, cho nó "vừa làm nền, vừa là phương tiện biểu đạt, vừa thể hiện quan niệm đồng nhất giữa con người và thế giới, là chuẩn mực, là sự hướng tới của con người" [24,65] và lấy thơ Vi Ứng Vật để minh chứng cho luận điểm đó. Mặc dù không bàn trực tiếp về thi phái song tác giả đặc biệt quan tâm đến đề tài thiên nhiên, là cơ sở hình thành thi phái điền viên (thực chất phân chia thi phái là sơn thủy, là điền viên hay là biên tái đều dựa vào đề tài).
Chúng tôi nhận thấy trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã bắt đầu chú ý phân biệt thơ điền viên và thơ sơn thủy. Trong lời giới thiệu "Đường thi tuyển dịch", Lê Nguyễn Lưu phân chia thơ Đường theo đề tài và có khu biệt rõ ràng 14 sơn thuỷ với điền viên. Tác giả cho rằng thơ điền viên là "thơ miêu tả sinh hoạt nông thôn hay cảnh ngộ nông dân" còn thơ sơn thuỷ là "thơ thiên nhiên có nội dung miêu tả cảnh núi sông cây cỏ", là "một mảng thơ khá lớn, biểu hiện cảm xúc chủ đạo của hầu hết các tác giả đời Đường" [66,116]. Chuyên luận Thơ sơn thủy cổ trung đại Trung Quốc và bài báo Thơ sơn thủy Vương Duy cũng thể hiện sự phân biệt thơ điền viên và thơ sơn thủy của tác giả Trần Trung Hỷ.
Ông cho rằng "thơ điền viên là loại thơ lấy cảnh nông thôn, loại cảnh quan nhân vi (tức cảnh vật do bàn tay con người tái tạo sắp xếp) làm đối tượng thẩm mỹ chính, về tâm lý tỏ ra an nhiên, tự tại, ổn định" [48,11], còn "thơ sơn thủy là một thể tài độc lập của thơ ca, lấy thiên nhiên làm đối tượng thẩm mỹ chủ yếu, thông qua miêu tả cảnh vật để bộc lộ tâm tình", tác giả còn nhấn mạnh "tức là loại thơ lấy cảnh tự nhiên làm đề tài. Nó viết về núi sông, về trời đất bao la, không chỉ đơn thuần miêu tả một cành hoa, một phiến đá, một cánh chim., tức chỉ là cảnh tự nhiên một cách khách quan mà là cảnh tự nhiên đã được thi nhân chủ quan hóa" [48,8]. Theo tác giả, đối tượng chủ yếu của thơ điền viên là cảnh nông thôn mang tính nhân tạo, thể hiện ý thức quy ẩn theo mô hình xã hội nông nghiệp cổ truyền, bình lặng và ổn định, còn thơ sơn thủy chủ yếu là miêu tả tự nhiên phong quang, cảnh vật chất chứa tâm trạng lưu lạc, "tiếu ngạo giang hồ". Tác giả dựa vào tiêu chí đó để kết luận "trong hơn 400 bài thơ của Vương Duy chỉ có khoảng trên dưới mười bài (như Tân tình dã vọng, Chung Nam biệt nghiệp, Sơn cư thu minh, Sơn cư tức sự, Võng Xuyên nhàn cư tặng Bùi tú tài Địch, Tặng Bùi thập Địch, Vị Xuyên điền gia…) đích thực là thơ điền viên" [49,1].
Chúng tôi không cho rằng thơ điền viên của Vương Duy chỉ có khoảng trên dưới mười bài, nhưng sự xác lập ranh giới đề tài và phân biệt thơ sơn thuỷ với thơ điền viên như các ý kiến trên là những gợi ý bổ ích cho chúng tôi trong việc xác định phạm vi của vấn đề nghiên cứu. Về vấn đề tên gọi thi phái, theo chủ kiến của chúng tôi, phân chia sơn thuỷ và điền viên thành hai thi phái khác nhau có lẽ hợp lý hơn. Sơn thủy và điền viên tuy có những điểm tương đồng (cùng nói đến cảnh đẹp thiên nhiên khách quan, cùng thể hiện tâm thức lánh trần thoát tục) song cái bình yên, ấm áp nơi ruộng vườn khác hẳn cái diễm lệ, hùng vĩ của núi sông; cái an nhàn, thanh đạm giữa thôn quê không giống với cái tao nhã, phóng khoáng quanh non nước; và trạng thái lánh đời ở ẩn của người vui với thú điền viên cũng khác xa tâm thế ngao du thưởng ngoạn của kẻ phiêu dật chốn sơn thuỷ. 15 Đặc trưng không gian sơn thuỷ không trùng với không gian điền viên.
Trong luận án này, chúng tôi sẽ làm rõ sự khác biệt của hai kiểu không gian đặc trưng cho hai thi phái sơn thủy và điền viên. Về đặc trƣng nội dung và nghệ thuật của thơ điền viên Khi nhận xét về đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ điền viên, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đều có ý kiến tương đối thống nhất và họ đánh giá rất cao đặc trưng của dòng thơ này trong việc biểu hiện đời sống tinh thần con người thông qua những phương tiện nghệ thuật độc đáo. Các tác giả của sách "Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc" (Vương Kiến Huy - Dịch Học Kim chủ biên) nhận xét: "Về mặt nghệ thuật, thơ họ ngày càng tinh tế. Thông qua việc miêu tả cảnh sắc điền viên, họ bộc lộ tấm lòng tha thiết đối với cuộc sống yên tĩnh và lòng mến yêu phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp.
Qua đó, họ cũng nói lên nỗi buồn khi có tài mà không gặp vận và sự oán ghét đối với bọn quan trường hủ bại" [43,1177].