Chương 1 HÀNH TRÌNH NGHỆ THUẬT CỦA NGUYỄN DUY Khi nói đến những con đường dẫn người nghệ sĩ đi tới việc tạo ra những tác phẩm của mình, nhà thơ P.Antokolxky đã phát biểu: “Cũng như trong bất kỳ một lãnh vực nào cái quan trọng nhất trong nghệ thuật là quá trình, là sự hình thành, là cuộc đấu tranh, là sự tìm tòi, là một dòng nước không bao giờ cạn tự khơi lấy một dòng sông” [66, tr. Để tìm hiểu cảm hứng chủ đạo trong thơ Nguyễn Duy, không thể xem xét từng tác phẩm của ông mà phải nhìn nhận sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Duy trong gần bốn mươi năm qua như một hành trình mà mỗi tác phẩm chỉ là một sự kiện, một mắt xích, một cột mốc trong hành trình đó. Hướng tiếp cận này cũng sẽ cung cấp cho chúng ta một cái nhìn tổng thể, là cơ sở quan trọng để đi sâu khám phá về những cảm hứng chính trong các tác phẩm cũng như đi sâu vào từng vấn đề cụ thể trong toàn bộ sáng tác của nhà thơ. Do sự tác động của hoàn cảnh lịch sử và sự vận động trong ý thức của chủ thể nhà thơ, hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy có thể chia làm hai giai đoạn: trước những năm tám mươi và sau những năm tám mươi.
Sở dĩ chúng tôi phân chia như vậy là vì sau những năm tám mươi, thơ Nguyễn Duy mới thực sự có những chuyển biến đáng kể. Sự chuyển biến đó thể hiện ở tất cả các cấp độ: cảm hứng chủ đạo, thể loại, ngôn ngữ và giọng điệu. Ở những chương tiếp theo của luận văn, chúng tôi sẽ cố gắng chỉ rõ sự khác biệt ấy, nhưng cũng xin lưu ý: sự chuyển biến trong sáng tác của Nguyễn Duy trước và sau những năm tám mươi chỉ là sự chuyển biến mang tính tiếp nối, không phải là những bước ngoặt đưa thơ ông rẽ sang những hướng đi khác, bởi về cơ bản, các sáng tác của ông luôn nhất quán dưới sự chi phối mạnh mẽ của triết lí nhân sinh: “Ta là dân- vậy thì ta tồn tại”. Nếu như Chế Lan Viên tuyên bố hùng hồn về cuộc chiến tranh giữ nước: Ta đánh Mỹ vậy ta tồn tại, Lưu Quang Vũ ngây ngất trong tình yêu: Anh yêu em vậy anh tồn tại, còn Nguyễn Duy trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng nói lên cái “triết lí thảo dân” (Chu Văn Sơn) kia của mình.
Thông thường, có được một quan niệm riêng đúng đắn, xem như có một hoa tiêu tin cậy cho hành trình sáng tạo rồi. Dẫu biết rằng quan niệm của người nghệ sĩ không phải nhất thành bất biến, song ở Nguyễn Duy cái quan niệm buổi chập chững đã là một kim la bàn khá chuẩn, càng về cuối càng sắc nét hơn và được hiện thực hóa trong suốt hành trình sáng tạo của ông. Hành trình qua nhiều miền Tổ quốc Trước hết, hành trình nghệ thuật của Nguyễn Duy là cuộc hành trình qua những miền đất, hay nói cách khác, đó là cuộc hành trình đầy ắp chất liệu thực tế do nhà thơ gặt hái được từ những chuyến đi, “Duy đi hầu khắp đất nước, đi qua bão, qua lụt, qua đạn, qua bom, đi “xẻ dọc Trường Sơn”[111, tr. Chỉ nhìn vào tựa đề các bài thơ và thời điểm sáng tác, ta thấy ông đã đặt chân lên hầu hết mọi miền quê trên đất nước mình: từ các tỉnh miền Bắc như Lạng Sơn, Hà Nội, Hà Nam đến dải đất miền Trung với Huế, Quảng Bình, Quảng Trị; từ đồng bằng sông Cửu Long qua Tiền Giang, Hậu giang, Đồng Tháp và đến tận Mũi Cà Mau.
Ở đâu, Nguyễn Duy cũng tìm được cho mình nguồn cảm hứng sáng tác và có những bài thơ hay. Nguyễn Quang Sáng đã yêu mến ví “Nguyễn Duy như một con ngựa sung sức, nếu không được buông vó trên đường dài thì ở trong tàu lúc nào cũng nghe cái gõ lộp cộp của nó, nó đòi đi. Và trong cuộc hành trình này, Nguyễn Duy không phải trong vai “người bộ hành phiêu lãng” (Thế Lữ) mà đã hóa thân vào đất đai, sông nước để diễn tả được “những cảnh sắc, thần thái riêng riêng” [103, tr.84] của từng miền đất. Cùng chung một cái gốc nhân bản và tâm hồn nhân hậu, thế mà ở thơ ông, mỗi khu vực địa lí khác nhau đều có chút riêng riêng khác nhau ấy.
Với Hà Nội, Nguyễn Duy xúc cảm trước thiên nhiên, con người, trước cái biến đổi của mảnh đất thủ đô ngàn năm văn hiến: “Hồ Gươm xanh màu xanh cổ tích con rùa vàng gửi bóng ở trên mây cây si mọc chúc cành xuống nước Thê Húc cong cong một nét lông mày Tóc em dài cho ta nhìn thấy gió áo em bay cho mờ tỏ thân hình em sâu sắc như kinh thành cổ kính gốc si già da mốc ngói rêu xanh. Em nhẹ nhõm đi về trong phố cũ tường nhà lở vôi cửa gỗ bức bàn ta lặn lội như một thằng ăn trộm nơm nớp lo mình bị bắt quả tang. Lần lữa mãi thế là ta lỡ dại để dành thành mất cắp cả tình yêu thế là ta mồ côi em mãi cát vu vơ chết đuối dưới sương chiều. Cửa gỗ cài then.bóng em mất hút xe cúp đã thay cho ngựa tía võng điều ta trở lại gốc si già.và làm lại làm thơ tình tặng những lứa đang yêu.” ( Một góc chiều Hà Nội ) Và cũng hàm súc biết bao những câu thơ ông viết về ruộng đồng miền Bắc có cái gì rất đặc trưng: “Vỏ ốc trắng những luống cày phơi ải bờ ruộng bùn lấm tấm dấu chân cua” ( Tuổi thơ ) hay “Giọt sương muối co ro đầu nhảnh mạ nhức nhối bàn chân phì phọp thở trong bùn” ( Lời ấm áp nói từ trong gió lạnh ) Về “thần hồn” của một vùng quê xưa: “chân đất đi đêm xem lễ đền Sòng - mùi huệ trắng quyện khói trầm thơm lắm - điệu hát văn lảo đảo bóng cô đồng.
Có thể thấy Nguyễn Duy viết rất hay về đồng bằng Bắc Bộ đặc biệt là quê hương Thanh Hóa, điều đó không có gì lạ vì đây là nơi “chôn nhau cắt rốn” của nhà thơ. Nhưng khi đến Huế, nhà thơ lại cho ra đời những bài thơ tuyệt vời đưa người đọc đến với dòng sông Hương nước êm đềm trong vắt có cầu Tràng Tiền mềm mại bắc qua sông, thấp thoáng tà áo người thiếu nữ, đẹp đến ngẩn ngơ lòng: “Vừa xa mà đã nghe lâu hỏi thăm áo tím qua cầu gió bay ớt Đông Ba có còn cay gạo de An Cựu độ này còn thơm? Hỏi thăm hoa phượng bên đường sông Hương mấy bữa mưa nguồn còn trong quán cơm Âm Phủ còn không cô gì hôm ấy lấy chồng hay chưa?.” ( Hỏi thăm ) hay nỗi trầm tư trước cảnh: “Bến Tuần loáng thoáng hàng dâu em xa vườn lựu từ lâu lắm rồi lối mòn đá cuội rong chơi lơ thơ trắng dưới chân đồi hoa mơ Lan báo hỉ nở tình cờ bông ngô đồng rụng xuống bờ Hương giang chợ chiều Bến Ngự chưa tan ai đi ngược dốc Phú Cam một mình. Cái sâu sắc nên thơ của Huế được đúc kết từ những nét rất giản dị, mộc mạc. Có thể chỉ một dòng sông Hương, chỉ một tà áo tím, chiếc nón bài thơ hay một mái tóc thề.
cũng đủ làm nên nét Huế. Và cũng không biết từ đâu khi ngắm cảnh Huế, người ta khó tránh được cái buồn vơ vẩn, dường như nó là khí vị riêng của xứ này. Làm thế nào để “cảm” được cái buồn không tên ấy? Phải tìm thấy cái tình của Huế, phải nhận thức Huế bằng tâm linh. Phải yêu lắm, phải hiểu lắm mới thấy hết sự tinh tế sâu sắc tỏa sáng trong tâm hồn Huế, Nguyễn Duy mới viết được những câu thơ thấm đẫm chất Huế đến như vậy.
Dường như ở đâu ông cũng bắt được cái thần của con người và cái hồn của cây cỏ nhờ vào thế giới nội tâm phong phú và năng động của chính mình. Trong Đà Lạt một lần trăng, ông cũng đã thâu tóm được sự mơ màng huyền ảo của thành phố sương mù: “Trăng ảo ảnh lập lờ trong sương trắng ngọn gió nhà ai thấp thoáng bên đồi tiếng móng ngựa gõ ròn dốc vắng nghe mơ hồ một chiếc lá thông rơi.” Khi bàn chân nhà thơ đặt chân đến vùng đất tận cùng của Tổ Quốc, ông lại rung cảm với cuộc sống sông nước của những người nông dân ở đây. Lời ru từ mũi Cà Mau khắc ghi nguyên vẹn nét hoang sơ của mảnh đất địa đầu Tổ quốc, Xuồng đầy lưu giữ vẻ như thực như mơ của sông nước Cửu Long, Ông già sông Hậu thể hiện sự hồn nhiên phóng khoáng mà hồn hậu của người nông dân Nam Bộ: “Qua ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng ăn hết nhiều ở hết bao nhiêu nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía nón áo khỏi lo nhưng nhậu phải đều đều Ai nghèo thiếu qua nhường cơm xẻ áo bụng người sôi cũng sôi giống bụng ta ki cóp một thân làm chi cho cực giàu ở lòng còn đẹp ở thịt da. Chủ giục khách nhậu đi đừng hỏi nữa việc bán lúa dư đăng báo chi cho phiền dư ít nuôi làng, dư nhiều nuôi nước thành tích có gì mà phải nêu tên.
Không thể coi những bài thơ trên là báu vật của trời rớt xuống, nhà thơ có diễm phúc tình cờ vớ được bởi nếu không có những chuyến đi, và đặc biệt là tâm hồn nhạy cảm tinh tế, luôn lắng sâu hồn đất hồn người, thì làm sao Nguyễn Duy có thể viết lên những câu thơ lắng đọng “hồn” của từng vùng đất như vậy. Đến năm 1978- 1979, khi chiến tranh biên giới Tây Nam diễn ra, Nguyễn Duy cũng có mặt để ghi lại hình ảnh những anh lính băng rừng, lội suối, ngủ bưng, ngủ hầm: “. Hiếm hoi cái giấc yên lành hành quân xa lại tiếp hành quân xa bao anh lính trẻ đã già chưa sang hết suối chưa qua hết rừng Ngủ hầm, ngủ võng, ngủ bưng gối đầu tay ngủ cầm chừng mỗi đêm có người ngủ thế thành quen đã nghe sợi tóc bạc trên tay mình.” ( Lời ru đồng đội) Có thể nói đôi chân Nguyễn Duy không hề mệt mỏi trên bước đường tìm tòi, sáng tạo. Chính những chuyến đi không ngừng nghỉ về với cuộc sống hàng ngày của nhân dân đã giúp ông tìm “ngọc trong đá”, cung cấp cho ông vốn sống dân dã- nguồn “cát” vô tận- để nhà thơ đãi ra “vàng” thơ ca theo tâm nguyện “tìm ánh vàng trong muối mặn mồ hôi” của mình.
Sau này khi đến Matxcova, Dresden, Varzsava, Washington, Hollyood, Texas, San-Diego.