mở đầu của thơ hiện đại Việt Nam, ảnh hưởng lớn nhất và quan trọng nhất là nó đã góp phần tạo nên cái “hồn dân tộc”, cái “tính cách Việt Nam” của Thơ Mới. Ảnh hưởng của thơ ca dân gian tới thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Pháp Tháng Tám năm 1945 với dân tộc ta là một dấu mốc đặc biệt quan trọng. Nó ghi lại thời điểm đổi thay về thân phận, từ một vùng thuộc địa trở lại là một đất nước có chính phủ, có chủ quyền. Đặc biệt hơn, chính từ thời điểm cuộc cách mạng thần kì ấy diễn ra, nhận thức của muôn triệu người Việt c 16 Nam thay đổi.
Ý thức về sự tự chủ, về quyền con người, về vì thế dân tộc như bừng tỉnh. Cái thay đổi ấy không chỉ làm nên sức mạnh thần thánh để cả dân tộc bước vào cuộc trường kì kháng chiến gian khổ nhưng vẻ vang mà nó còn để lại dấu ấn và các sáng tác nghệ thuật, bao gồm cả thơ ca. Văn học nghệ thuật Việt Nam thời kì này không phải chỉ dành riêng cho giới trí thức tiểu tư sản. Với nhiệm vụ mới của nền văn học cách mạng, xem văn chương cũng là vũ khí, người nghệ sĩ cũng là chiến sĩ, văn học xác định đối tượng thưởng thức của mình là nhân dân.
Vậy là, như một cuộc hành trình trở về với bản thể, nền văn học nói chung và thơ ca nói riêng tự nhiên tìm về cội nguồn dân gian. Có lẽ chính các nghệ sĩ đã nhận thức rõ, chỉ có con đường ấy mới là con đường gần nhất để đến với nhân dân, đến với tầng lớp công – nông – binh của đất nước bước ra từ lao khổ nhọc nhằn. Trước tiên là về thể loại. Các thể thơ thuần dân tộc, dùng trong ca dao, đồng dao nay được dùng để sáng tác thơ kháng chiến, có khi là các bài vè tuyên truyền, có khi là các tác phẩm nghệ thuật được viết bằng tất cả rung động mãnh liệt của trái tim người nghệ sĩ- chiến sĩ.
Ta thấy cái mộc mạc như một điệu đồng dao trong bài thơ của Minh Huệ với thể thơ 5 chữ quen thuộc: Anh đội viên thức dậy, Thấy trời khuya lắm rồi Mà sao Bác vẫn ngồi? Đêm nay Bác không ngủ. Lặng yên bên bếp lửa, Vẻ mặt Bác trầm ngâm Trời thì mưa lâm thâm Mái lều tranh xơ xác … (Đêm nay Bác không ngủ) c 17 Đây là một lời ru thời kháng chiến. Thể thơ lục bát xưa, làn điệu êm đềm xưa thấm đẫm trong những câu thơ hiện đại: Con ong làm mật yêu hoa Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời. Con người muốn sống con ơi, Phải yêu đồng chí, yêu người anh em.
Một ngôi sao chẳng sáng đêm, Một thân lúa chin chẳng nên mùa màng Một người đâu phải nhân gian, Sống chăng một đốm lửa tàn mà thôi. (Lời ru – Tố Hữu) Phong vị ca dao không chỉ thể hiện ở thể thơ, mà còn hiện ra trong những lối so sánh, ví von, diễn đạt, xây dựng từ ngữ hình ảnh… Chính Hữu là một nhà thơ chiến sĩ. Từ một người lính của Trung đoàn Thủ Đô, ông vào chiến trường chiến đấu trên các mặt trận đồng thời sáng tác thơ ca kháng chiến. Bài thơ Đồng chí được Chính Hữu xây dựng trên những hình ảnh, ngôn ngữ chân thực, giản dị – giàu sức biểu cảm.
Lời ăn tiếng nói của nhân dân thấm vào từng câu chữ, hòa quện nhuần nhụy đến tự nhiên, đằm thắm: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá (Đồng chí) Đó thực là những lời tâm sự thủ thỉ, chân thành, mộc mạc và hồn hậu của những người nông dân vào chiến trường mang áo lính. Cái nghèo khổ, nhọc nhằn được nhắc đến đầy thực thà và cảm động. Câu thơ vận dụng khéo léo đến độ tinh tế các thành ngữ dân gian, khiến cho tự tình trong đó dễ dàng c 18 được cảm hiểu. Đó là những người lính nông dân, ra đi từ những vùng quê nghèo.
Một vùng chiêm trũng “nước mặn đồng chua”, một vùng trung du khô cằn, bạc màu: “đất cày lên sỏi đá”. Tác giả đã sử dụng tài tình những cụm từ giản dị quen thuộc trong văn học dân gian. Câu chuyện về những người lính gốc gác nông dân càng trở nên chân thực và cảm động. Trần Hữu Thung, là một nhà thơ trưởng thành trong phong trào thơ ca quần chúng.
Con đường thơ chân thật đó có lẽ được tạo bởi sự kế thừa các yếu tố thơ ca dân gian. Thăm lúa là bài thơ diễn tả tâm trạng của một chị nông dân có chồng đi bộ đội… và nỗi nhớ mong của người chồng ra đi chiến đấu mang đậm màu sắc dân gian: Chiếc xắc mây anh mang Em nách mo cơm nếp Lúa níu anh trật dép Anh cúi sửa vội vàng… (Thăm lúa) Cái chất dân gian mộc mạc của bài thơ không chỉ nằm ở thể thơ năm chữ mà đậm sâu hơn thế, nó tấm vào cảm xúc và biểu hiện tình cảm của chủ thể trữ tình. Xòe bàn tay bấm đốt Tính đã bốn năm ròng Người ta bao không trông Ai cũng nhủ đừng mong Riêng em thì em nhớ (Thăm lúa) Ngay cả cách tính đếm thời gian, cách bày tỏ nỗi nhớ mong cũng bình dị và trong sáng đến đơn sơ. c 19 Có thể khẳng định Hoàng Cầm là một trong số những nhà thơ độc đáo của nền văn học Việt Nam hiện đại.
Thơ ông dẫn dắt chúng ta vào cõi mộng của những khao khát cổ tích trong những huyền thoại dân gian. Bên kia sông Đuống, đó là bài thơ tiêu biểu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Hoàng Cầm đã gửi vào trang viết của mình tình cảm đối với một vùng quê bị giặc đóng chiếm. Bên kia sông Đuống Quê hương ta lúa nếp thơm nồng Câu thơ đã gợi lên cho người đọc chúng ta về một vùng quê trù phú với hương vị đậm đặc của vùng Kinh Bắc.
Rồi những giá trị văn hóa dân gian được điểm tô qua các huyền thoại, ca dao và đặc biệt là những hội hè, phong tục tập quán của vùng đất Kinh Bắc. Nơi đây là một vùng đất giàu có, phì nhiêu… có truyền thống văn hóa nghệ thuật lâu đời với những ngôi đền chùa cổ kính, lễ hội, vùng đất của làn điệu dân ca quan họ; vùng đất của tranh dân gian Đông Hồ nổi tiếng. Đó là nét đặc sắc truyền thống văn hóa của Kinh Bắc, mà cũng là nơi tiêu biểu cho văn hóa dân gian toàn quốc: Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp Bức tranh thường miêu tả sinh hoạt dân gian, cảnh đánh vật, đánh ghen, hứng dừa… Qua đó Hoàng Cầm gửi vào đó khát khao khẳng định một cuộc sống thanh bình cho người dân thôn dã từ rất xa xưa, hôm nay bị kẻ thù xâm chiếm. Tố Hữu- lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam, thơ ông cũng như lòng ông, luôn dạt dào tình yêu đất nước, yêu cách mạng.
Lòng yêu đất nước quê hương được ghi nhận trong những cảnh đẹp của nhân dân thời xưa qua ca dao – trở thành thân thiết, tươi đẹp trong thơ Tố Hữu: Nước non mình đâu cũng đẹp như tranh Gương mặt người ai cũng sáng long lanh… c 20 Trong bài thơ Ta đi tới (tháng 8/1954) – ta bắt gặp hình ảnh: Đẹp vô cùng, Tổ quốc ta ơi! Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt Nắng chói sông Lô, hò ô tiếng hát Chuyến phà dào dạt bến nước Bình Ca… Một đất nước giàu đẹp đã quyện vào ý thơ, nghe trong bổng trầm tiết tấu lời ca ca ngợi quê hương ấy thấp thoáng làn điệu ca dao ăm ắp những tự hào. Thơ Tố Hữu thời kì chống Pháp có những bài gần gũi với ca dao đến độ người ta thuộc thơ ông và truyền miệng như thể ca dao, quen thuộc đến mức nhiều khi nhầm lẫn. Thử đọc các câu thơ trong bài thơ Việt bác mà xem - Mình về mình có nhớ ta? Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không? Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.
- Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân ly Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay. Ảnh hưởng của thơ ca dân gian trong thơ Tố Hữu, ta có thể tìm thấy trong cả nội dung và hình thức thể hiện. Thơ ca dân gian trở thành mạch nguồn cảm xúc trong thơ Tố Hữu, cũng là kho báu chất liệu để nhà thơ khai thác và sáng tạo các hình thức diễn đạt mới. Trong một thời gian không dài nhưng khối lượng sáng tác và một đội ngũ sáng tác đã phát triển mạnh mẽ.
Với Tố Hữu và những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp như Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hữu Loan, Hoàng Cầm… Ở đó, ta dễ thấy sự ảnh hưởng vô cùng quan trọng và tốt c 21 đẹp của văn hóa dân gian nói chung và ca dao dân ca nói riêng đối với thơ Việt Nam hiện đại. Điều đó một phần là do thơ kháng chiến được xây dựng lên từ phong trào văn nghệ quần chúng, là nền thơ “từ nhân dân mà ra”. Đó là nền thơ còn gắn liền với phương châm “đại chúng” của văn nghệ kháng chiến. Một điều chắc chắn là sự ảnh hưởng từ thơ ca dân gian không phải là việc lặp lại, sao chép, mô phỏng giản đơn.
Việc tiếp thu ảnh hưởng của thơ ca dân gian thời kì này vừa góp phần hình thành phong cách sáng tác gần gũi với quần chúng, và thực sự đã tạo nên những tác phẩm ngôn từ trong sáng, kế thừa di sản ngôn ngữ trong trẻo, giàu hình ảnh và sức gợi tả để chuyên chở những nội dung mới, sứ mệnh mới với tầm vóc mới. Ảnh hưởng của thơ ca dân gian tới thơ ca thời kỳ kháng chiến chống Mỹ Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước diễn ra trong khí thế hào hùng sôi nổi của thời điểm hào khí dân tộc vút cao. Hào khí ấy thực sự đã làm nên một tâm thế thời đại mới, tạo tiền đề cho một xu hướng sáng tạo thi ca mới. Cả một thế hệ anh hùng, một thời đại anh hùng, con người hy sinh cho lý tưởng, lãng mạn và hào sảng chính là mảnh đất mỡ màu để gieo hạt thi ca.
Mùa thơ chống Mỹ trĩu những hạt thơ vàng và ăm ắp hương. Làm nên mùa vàng ngát hương ấy, ngoài những yếu tố mang tính thời đại, không thể thiếu nguồn nước mát ngọt tuôn trào từ suối nguồn thơ ca dân gian. Bên cạnh những trang thơ mang sức nóng của chiến trường, hầu như viết bằng các thể thơ hiện đại, ta vẫn bắt gặp những áng thơ lục bát mềm mại.