Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TÁC PHẨM TỰ SỰ 1.1 Người kể chuyện trong tác phẩm tự sự 1.1 Vai trò của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự Suốt một thời gian dài, khi nghiên cứu tác phẩm tự sự, các lý thuyết văn học chỉ chú trọng đến việc khảo sát thế giới nghệ thuật được nhà văn xây dựng bên trong đó. Các phương diện khác có liên quan đến “cuộc sống” của tác phẩm văn học như tác giả, người đọc thì ít được chú ý và xem trọng. Đến khoảng thế kỷ thứ XIX – đầu thế kỷ XX, các nhà lý luận phương Tây đã chú ý nhiều hơn đến việc khảo sát hai nhân tố người đọc và tác giả trong đời sống văn học. Điều này đã làm thay đổi nhận thức trong việc cảm thụ văn học.
Từ đây, tiếp nhận văn học là một quá trình tương tác giữa ba thành tố cơ bản là tác giả - tác phẩm – người đọc. Song đến lúc đó, vai trò của người kể chuyện vẫn chưa được nhìn nhận một cách thỏa đáng trong quá trình vận động của đời sống tác phẩm văn học. Dù nhân tố này có mối liên hệ mật thiết đối với tác giả thực tế, tức là nhà văn, người trực tiếp sáng tạo nên tác phẩm văn học. Phải đến khi ngành nghiên cứ tự sự học ra đời, phương diện người kể chuyện mới được chú ý đến một cách hệ thống và toàn diện.
Tự sự học là một nhánh phát triển từ thi pháp học hiện đại, đặt trọng tâm vào việc nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hay nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của nghệ thuật tự sự để tìm ra một cách đọc. Trong số các yếu tố trong cấu trúc văn bản tự sự, người kể chuyện là yếu tố giữ vai trò trung tâm. Mọi nghiên cứu về nghệ thuật tự sự đều ít nhiều phải động chạm đến phương diện này. Thêm vào đó, các khái niệm cơ bản nhất của tự sự học như: điểm nhìn, tiêu điểm, người tiêu điểm hóa, lời văn nghệ thuật, tình tiết tự sự….đều được phản ánh thông qua người kể chuyện trong tác phẩm.
Tương đương với thuật ngữ người kể chuyện, người đứng ra kể trong tác phẩm tự sự còn được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác như: người trần thuật, người thuật chuyện, kẻ mang thông điệp, chủ thể trần thuật, chủ thể kể chuyện…Trong luận văn, chúng tôi thống nhất chọn dùng tên gọi người kể chuyện. Theo các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa, thì “người trần thuật là một nhân vật hư cấu hoặc có thật, mà văn bản tự sự là do hành vi ngôn ngữ của anh ta tạo thành (…) nó bị trừu tượng hóa đi, trở thành một nhân vật hoặc ẩn hoặc hiện trong tác phẩm tự sự” [25, tr. Như vậy, người kể chuyện là một hình tượng do nhà văn sáng tạo ra trong tác phẩm của mình và văn bản tự sự chính là sản phẩm ngôn từ do hoạt động ngôn ngữ nhân vật này xây dựng nên. Còn theo nhà nghiên cứu Ngô Tự Lập thì người kể chuyện có vai trò như một “kẻ mang thông điệp” chuyển tải những thông điệp từ người phát ngôn đến người nhận: “Các thông điệp của một văn bản bao giờ cũng được chuyển đi, trực tiếp hoặc gián tiếp, nhờ một hay một vài phát ngôn viên (speaker, hoặc narrator), mà tôi gọi là kẻ mang thông điệp: một người sĩ quan ra mệnh lệnh, người kể chuyện trong tiểu thuyết, hay các đối tác ký vào hợp đồng hợp tác kinh doanh…Những kẻ mang thông điệp có thể có thật hoặc hư cấu” [48, tr.
Với một quan điểm rộng dựa trên nền của lý thuyết hội thoại, tác giả của Văn chương như là quá trình dụng điển đã xác định được vai trò quan trọng của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự: cầu nối trung gian giữa tác giả, tác phẩm và người đọc. Thêm vào đó ông còn nhấn mạnh “chính đặc điểm và mối quan hệ giữa thông điệp và kẻ mang thông điệp là cái quyết định tính chất của văn bản”[48, tr.178] và “trong truyện, thông điệp mang tính chất khái quát, và kẻ mang thông điệp là những nhân vật hư cấu” [48, tr. Quan điểm này thống nhất với các tác giả của Từ điển thuật ngữ văn học ở trên. Tác giả Lại Nguyên Ân lại đưa ra một định nghĩa khá sâu sắc về người kể chuyện trong trần thuật tự sự: “Trần thuật tự sự được dẫn dắt bởi một ngôi được gọi là người trần thuật – một loại trung giới giữa cái được miêu tả và thính giả (độc giả), loại người chứng kiến và giải thích về những gì đã xảy ra” [3, tr.Trong định nghĩa này, nhà lý luận một lần nữa khẳng định vai trò cầu nối và dẫn dắt câu chuyện của người kể chuyện trong tác phẩm tự sự, đồng thời nhấn mạnh vai trò chứng kiến và giải thích của hình tượng này.
Đây là những dấu hiệu cơ bản nhất để nhận diện người kể chuyện trong các sáng tác tự sự từ xưa đến nay. Tác giả Lê Ngọc Trà đưa ra một quan niệm ngắn gọn hơn về người kể chuyện, dựa trên mối quan hệ giữa chủ thể kể chuyện và lời kể trong tác phẩm tự sự: “Người kể chuyện là chủ thể của lời kể chuyện, là người đứng ra kể trong tác phẩm văn học” [86,tr. Ở đây, định nghĩa đã nêu bật được vai trò đặc trưng mang tính chức năng của người kể chuyện. Với cách nhìn nhận đặt trong tương quan giữa người kể chuyện và kết cấu tác phẩm, nhà nghiên cứu Huỳnh Như Phương khẳng định: “Khái niệm hình tượng tác giả (người kể chuyện – NV) nói lên bản chất của tác phẩm nghệ thuật và là nơi tập trung sự thống nhất về tư tưởng, kết cấu, hình tượng và ngôn từ của tác phẩm.
Đó là phạm trù thi pháp cao nhất quyết định đặc điểm và nội dung của cấu trúc tác phẩm, quyết định cả tính khuynh hướng và sự triển khai tác phẩm đó” [26, tr. Có nghĩa là, người kể chuyện giữ vai trò định hướng và quyết định đối với việc tổ chức các yếu tố trong cấu trúc của một văn bản tự sự. Mỗi định nghĩa khai thác khái niệm người kể chuyện ở một phương diện khác nhau, nhưng tựu trung lại, chúng ta có thể khái quát được những đặc điểm cơ bản sau về người kể chuyện trong tác phẩm tự sự: + Người kể chuyện là một dạng hình tượng do tác giả hư cấu, sáng tạo nên, là người đại diện phát ngôn cho tác giả trong tác phẩm tự sự. + Trong phạm vi tác phẩm, người kể chuyện là chủ thể của lời kể, là người đứng ra kể chuyện và là nhân tố trung tâm chi phối việc tổ chức, kết cấu cấu trúc của văn bản tự sự.
+ Người kể chuyện giữ vai trò trung giới giữa tác giả, tác phẩm và người đọc. Tác phẩm tự sự nào cũng có hình tượng người kể chuyện của nó. Không phải lúc nào người đọc cũng được thông báo về số phận riêng tư, diện mạo hoặc mối quan hệ qua lại của người kể chuyện với các nhân vật, hoặc vì đâu, trong tình huống nào mà tiến hành kể chuyện. Nhiều khi người kể chuyện tỏ ra khách quan không để lộ mối thiện cảm, ác cảm hay thái độ suy nghĩ của mình.
Nhưng bao giờ người đọc cũng cảm thấy được linh hồn của người kể chuyện một cách rõ rệt, gần gũi. Người đọc nhận ra hình tượng người kể chuyện qua cái nhìn, cách cảm thụ, phương thức tư duy, năng lực trí tuệ và chất tình cảm của anh ta. Người kể chuyện không phải là một phương diện thuần túy thuộc về hình thức văn học mà là hiện thân của một hình tượng đặc biệt, gắn liền với tư tưởng, thái độ của tác giả về hiện thực, về thế giới và con người.Tuy nhiên, tác giả và hình tượng người kể chuyện là hai thực thể độc lập. Một bên là chủ thể sáng tạo, một bên là hình tượng nghệ thuật.
Người kể chuyện mang trong mình nó cả nhân vật và người kể. Người kể chuyện là một trong những hình thức thể hiện quan điểm của tác giả trong tác phẩm. Song quan điểm tác giả chỉ có thể được thể hiện qua điểm nhìn, tầm nhận thức của người kể chuyện như một hình tượng ít nhiều tồn tại độc lập. Người kể chuyện cũng có thể có tính cách như nội dung của hình tượng.
Khác với hình tượng nhân vật khác, tính cách của người kể chuyện bộc lộ không chỉ qua việc trực tiếp tham gia vào hành động trong tác phẩm, hay qua những lời giãi bày tâm sự của chính mình, mà chủ yếu qua thái độ đối với thế giới câu chuyện được kể lại thông qua một điểm nhìn được xác định. Phần nào có thể nói đây là một loại “hình tượng thái độ”. Tuy nhiên, không nên đồng nhất tác giả với người kể chuyện. Tác giả không bao giờ hiện diện trong truyện kể như một người kể, người phát ngôn mà chỉ xuất hiện như một tác giả hàm ẩn, một cái Tôi thứ hai của nhà văn với tư cách là người mang hệ thống quan niệm và giá trị trong tác phẩm.
Tác giả xuất hiện chỉ như người ghi chép hay nghe trộm người kể. Người kể chuyện là kẻ được sáng tạo ra để mang lời kể. Và sản phẩm của hành vi trần thuật đó là văn bản tự sự. Thêm vào đó, thái độ của người kể chuyện đối với thế giới câu chuyện được kể lại có thể phần nào trùng với quan điểm của tác giả, nhưng không bao giờ trùng khít hoàn toàn.
Thứ nhất, bởi vì quan điểm tác giả bao giờ cũng rộng hơn, nó không thể được thể hiện một cách toàn diện qua bất kỳ một chủ thể lời nói riêng biệt nào trong tác phẩm. Dù chủ thể lời nói đó có thể gần gũi với tác giả đến đâu, mà chỉ có thể được thể hiện qua toàn bộ tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật. Thứ hai, bởi vì ngoài phần thái độ chủ quan được thừa hưởng của tác giả, người kể chuyện mang trong mình cả một phần nội dung khách quan của thế giới được phản ánh vào tác phẩm; phần nội dung khách quan đó thường thể hiện một loại hình thái độ phản ứng với thực tại điển hình cho thời đại của nhà văn được nhà văn tái hiện và miêu tả lại trong tác phẩm của mình. Bất kỳ người kể chuyện nào về nguyên tắc là một “cái tôi – được sáng tạo nên”, là sự thống nhất thuộc về tác giả với cái khách quan ngoài tác giả để tạo nên cái “chúng ta” chung.
Ngay cả trong những tác phẩm có tính tự truyện thì giữa người kể chuyện với tác giả vẫn có những nét khác nhau.