Luận án tiến sĩ nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn việt nam sau 1975 qua truyện ngắn của nguyễn minh châu nguyễn khải ma văn kháng

Luận án phân tích nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 qua tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng.

Trường đại học

Đại Học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Văn Học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2014

177
7
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nghệ Thuật Tự Sự Trong Truyện Ngắn Việt Nam Sau 1975

Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã trải qua nhiều biến đổi đáng kể. Sau khi đất nước thống nhất, các nhà văn đã tìm kiếm những cách thể hiện mới mẻ, phản ánh chân thực cuộc sống và con người trong bối cảnh xã hội đang chuyển mình. Truyện ngắn trở thành một thể loại linh hoạt, có khả năng nắm bắt nhanh chóng những vấn đề thời sự và tâm tư của con người. Các tác giả như Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, và Ma Văn Kháng đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển này.

1.1. Khái Niệm Nghệ Thuật Tự Sự Trong Văn Học

Nghệ thuật tự sự là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong văn học, liên quan đến cách thức kể chuyện, cấu trúc cốt truyện và nhân vật. Nó không chỉ đơn thuần là việc kể lại một câu chuyện mà còn là cách mà tác giả thể hiện ý tưởng và cảm xúc của mình qua ngôn ngữ.

1.2. Tình Hình Nghiên Cứu Nghệ Thuật Tự Sự Tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về nghệ thuật tự sự đã phát triển mạnh mẽ từ những năm 2000. Nhiều công trình đã được thực hiện để phân tích các khía cạnh khác nhau của tự sự học, từ ngôi kể đến điểm nhìn và giọng điệu trần thuật.

II. Những Thách Thức Trong Nghệ Thuật Tự Sự Sau 1975

Sau 1975, văn học Việt Nam đối mặt với nhiều thách thức trong việc phản ánh hiện thực xã hội. Các nhà văn phải tìm cách vượt qua những rào cản về tư tưởng và thể hiện những vấn đề nhạy cảm trong xã hội. Điều này dẫn đến sự xuất hiện của nhiều phong cách viết khác nhau, từ truyền thống đến hiện đại.

2.1. Sự Đổi Mới Trong Tư Duy Nghệ Thuật

Sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật đã mở ra nhiều hướng đi mới cho các nhà văn. Họ không còn bị ràng buộc bởi những khuôn mẫu cũ mà có thể tự do khám phá và thể hiện bản thân qua tác phẩm.

2.2. Những Vấn Đề Xã Hội Được Phản Ánh

Các vấn đề xã hội như nghèo đói, bất công, và khát vọng tự do đã được các nhà văn đưa vào tác phẩm của mình. Điều này không chỉ phản ánh thực tế mà còn thể hiện tâm tư, tình cảm của con người trong thời kỳ đổi mới.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Nghệ Thuật Tự Sự Trong Truyện Ngắn

Để nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn, cần áp dụng các phương pháp phân tích cụ thể. Các phương pháp này giúp làm rõ cấu trúc, ngôi kể, và giọng điệu trong tác phẩm. Việc áp dụng lý thuyết tự sự học sẽ giúp hiểu sâu hơn về cách thức mà các tác giả thể hiện ý tưởng của mình.

3.1. Phân Tích Ngôi Kể Trong Tác Phẩm

Ngôi kể là một yếu tố quan trọng trong nghệ thuật tự sự. Việc phân tích ngôi kể giúp hiểu rõ hơn về cách mà tác giả xây dựng nhân vật và truyền tải thông điệp đến người đọc.

3.2. Điểm Nhìn Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn

Điểm nhìn nghệ thuật quyết định cách mà câu chuyện được kể. Các nhà văn có thể chọn điểm nhìn bên ngoài hoặc bên trong để tạo ra những hiệu ứng khác nhau cho tác phẩm.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Nghệ Thuật Tự Sự

Nghệ thuật tự sự không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy và nghiên cứu văn học. Các tác phẩm truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, và Ma Văn Kháng đã trở thành tài liệu quý giá cho sinh viên và giảng viên trong các trường đại học.

4.1. Giá Trị Giáo Dục Của Truyện Ngắn

Truyện ngắn không chỉ giúp người đọc giải trí mà còn mang lại những bài học quý giá về cuộc sống, con người và xã hội. Việc giảng dạy các tác phẩm này giúp sinh viên phát triển tư duy phản biện và khả năng phân tích văn học.

4.2. Nghiên Cứu Văn Học Qua Nghệ Thuật Tự Sự

Nghiên cứu nghệ thuật tự sự giúp làm rõ những đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam sau 1975. Điều này không chỉ góp phần vào việc phát triển lý thuyết văn học mà còn giúp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

V. Kết Luận Về Nghệ Thuật Tự Sự Trong Truyện Ngắn Việt Nam

Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã có những bước tiến đáng kể. Các nhà văn đã không ngừng đổi mới và sáng tạo, mang đến cho độc giả những tác phẩm sâu sắc và ý nghĩa. Tương lai của nghệ thuật tự sự hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển và mở rộng hơn nữa.

5.1. Tương Lai Của Nghệ Thuật Tự Sự

Nghệ thuật tự sự sẽ tiếp tục là một lĩnh vực nghiên cứu hấp dẫn trong văn học. Các nhà văn trẻ sẽ tiếp tục khám phá và phát triển những cách thể hiện mới mẻ, phản ánh chân thực cuộc sống hiện đại.

5.2. Đóng Góp Của Các Tác Giả Nổi Bật

Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, và Ma Văn Kháng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong văn học Việt Nam. Những đóng góp của họ không chỉ làm phong phú thêm kho tàng văn học mà còn mở ra những hướng đi mới cho các thế hệ nhà văn sau này.

27/06/2025
Luận án tiến sĩ nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn việt nam sau 1975 qua truyện ngắn của nguyễn minh châu nguyễn khải ma văn kháng

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu với công trình Dẫn luận 8 phân tích tác phẩm tự sự (1968) và S/Z (1970) (tác phẩm này đã bắt đầu chuyển sang hậu cấu trúc chủ nghĩa). Todorov là một trong những người đầu tiên đề xuất thuật ngữ tự sự học với chuyên luận Thi pháp văn xuôi. Todorov còn có công trình Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”… Từ góc độ ngữ pháp, Todorov coi “nhân vật như danh từ, tình tiết là động từ” (dẫn theo [165, tr. Genette thì tuyên bố “mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu” (dẫn theo [165, tr.

Barthes cũng tán thành quan điểm đó… Như vậy, mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là “nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự” (dẫn theo [165, tr. Tiếp theo phải kể đến các nhà tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa như M. Uspenski… Các tác giả này quan tâm đến các phương thức biểu đạt ý nghĩa khác nhau, lấy văn bản làm cơ sở (Jean - Claude Coquet). Hình thức tự sự chính là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm.

Tổng quan quá trình nghiên cứu của lí thuyết tự sự, nhà lí luận Mĩ Gerald Prince đã chia làm ba nhóm theo ba loại hình như sau: Nhóm thứ nhất (gồm những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V. Propp, Todorov, Barthes, Remak, Norman Friedman, Northrop Frye, Etienne Souriau…) chú ý tới cấu trúc của câu chuyện được kể, bỏ qua hoặc không đi sâu vào đặc trưng biểu đạt của chất liệu; nhóm thứ hai (gồm G. Genette, Dolezel, Micke Bal…) xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ biểu đạt và vai trò của người trần thuật là quan trọng nhất; nhóm thứ ba (đại diện là Gerald Prince và Seymour Chatman) lại coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể. Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên cho người ta thấy sự phức tạp của cấu trúc tự sự với các vấn đề cần phải tìm tòi, suy ngẫm như vấn đề NKC, điểm nhìn, dòng ý thức, không gian, thời gian, giọng điệu nghệ thuật… Lí thuyết tự sự sẽ giúp cho ta nghiên cứu nghệ thuật tự sự của các thể loại nói chung và của từng tác phẩm văn học cụ thể nói riêng, qua đó cho thấy cả truyền thống văn học, văn hoá của mỗi dân tộc.

Ở Việt Nam, năm 2001, hội thảo quy mô toàn quốc về tự sự học đã được tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong bài viết Tự sự học - một bộ môn 9 nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng, Trần Đình Sử đã hệ thống, khái lược những vấn đề tự sự từ chủ nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học Saussure, Platon, Aritoste, Tz. Tododov, Genette… Qua đó, ông khẳng định vai trò quan trọng của tự sự học. Trong công trình Dẫn luận thi pháp học [167], Trần Đình Sử đã xác định vị trí của thi pháp học trong khoa nghiên cứu văn học, đối tượng phạm trù và phương pháp nghiên cứu thi pháp, ông tập trung đi sâu hệ thống, cắt nghĩa những khái niệm thuộc về trần thuật học như quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian - không gian nghệ thuật, tác giả và kiểu tác giả, tính quan niệm và cấu trúc thể loại, cấu trúc của văn bản trần thuật, ngôn từ nghệ thuật… Trần thuật học - Nhập môn lí thuyết trần thuật học của tác giả Manfred Jahn công bố vào ngày 28 - 07 - 2003 [131], đăng tải trên trang web http://www.de đã xây dựng một hệ thống những khái niệm nền tảng về truyện kể và chỉ ra cách sử dụng chúng khi phân tích tác phẩm.

Những định nghĩa này được dựa trên một loạt bài nhập môn cổ điển như cấu trúc của trần thuật, kể chuyện tiêu điểm và tình huống trần thuật, thì, thời và thức trần thuật, nhân vật và diễn ngôn… Cao Kim Lan trong bài viết Lí thuyết về điểm nhìn nghệ thuật của R. Kellogg [113] đã dựa vào cuốn Bản chất của tự sự (The nature of Narrative, Oxford University, tái bản 1968) để giới thiệu về điểm nhìn nghệ thuật và sự chi phối của điểm nhìn trong truyện kể, vấn đề quyền năng của NKC với điểm nhìn của nhân vật, điểm nhìn của NKC và điểm nhìn của người đọc… Lê Phong Tuyết trong bài Tiếp cận Genette qua một vài khái niệm trần thuật [201] đã giới thiệu về Genette và lí thuyết của ông một cách hệ thống với những khái niệm liên quan đến trần thuật. Trong đó, tác giả tập trung làm rõ hai vấn đề mới mẻ với giới nghiên cứu và bạn đọc Việt Nam là tình huống trần thuật và người nghe chuyện. Một trong những công trình có ý nghĩa lớn với việc giới thiệu lí thuyết tự sự vào Việt Nam đó là cuốn Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử [165] do Trần Đình Sử chủ biên.

Trong đó, Phan Thu Hiền có bài viết Về lí thuyết tự sự của Northrop Frye [165, tr. Tác giả giới thiệu Northrop Frye là đại biểu quan 10 trọng có ảnh hưởng sâu sắc nhất của lí thuyết Phê bình huyền thoại (Mythcritic) còn gọi là lí thuyết Phê bình nguyên mẫu (archetypal critism) với quan niệm cho rằng mục tiêu của văn chương là đạt đến sự giới thiệu, sự trình bày cuộc sống. Nguyễn Đức Dân giới thiệu về Greimas trong bài Greimas - Ngƣời xây nền cho trƣờng phái kí hiệu học Pháp [165, tr. 39 - 55] với mô hình vai hành động, cấu trúc cơ sở của nghĩa, mô hình cấu tạo.

Tiếp theo, đó là cuốn Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử (Tập 1 và tập 2) [166] cũng do Trần Đình Sử chủ biên. Ở đây, chúng tôi quan tâm đến bài viết Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật của Phương Lựu, Ngƣời kể chuyện - nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự [165, tr. 196 - 208] của Nguyễn Thị Hải Phương, Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong truyện kể của Đặng Anh Đào [165, tr. Qua những bài viết này, các tác giả đã góp phần làm rõ các khái niệm tự sự học như: NKC, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Như vậy, lí thuyết tự sự luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm.

Nó có vai trò quan trọng và cần thiết trong việc tiếp cận tác phẩm văn học, đặc biệt là tác phẩm văn xuôi. Ở Việt Nam, ngoài những tác phẩm dịch thuật, ít có công trình nghiên cứu sâu về nghệ thuật tự sự từ phương diện lí thuyết. Giới nghiên cứu tự sự tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về các phương diện của tự sự như: thời gian và không gian trần thuật, cấu trúc của văn bản trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, tình huống trần thuật, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Nói tóm lại, tất cả các thành phần của nghệ thuật tự sự đều được các học giả nghiên cứu và làm rõ qua các tác phẩm văn học. Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi được tiếp xúc nhiều với bài viết và công trình lý luận có quy mô khác nhau.

Trước thành tựu của công cuộc đổi mới văn học dân tộc sau 1975, đặc biệt là thể loại truyện ngắn, các nhà nghiên cứu phê bình đã tập trung bút lực nhằm giúp bạn đọc tiếp cận và thẩm định những cách tân mới mẻ trong “bước ngoặt” của dòng chảy văn học hiện đại Việt Nam. 11 Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm, đặc biệt là nghiên cứu từ góc nhìn tự sự, một vấn đề lí luận mới mẻ và còn nhiều “lời ngỏ”. Cuốn 50 năm - Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám [153] được chia làm ba phần: Đặc điểm, diện mạo, hướng tiếp cận; Văn học và chiến tranh cách mạng; Những vấn đề thi pháp thể loại. Trong đó, chúng tôi chú ý đến bài viết Mấy nhận xét về nhân vật của văn xuôi Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Thị Bình [153, tr.

Sau khi xác định tiêu chí, nguyên tắc xây dựng nhân vật của văn học sau 1975 trong thế đối sánh với văn học trước 1975, tác giả bài viết đã khẳng định nét mới rõ nhất trong việc xây dựng nhân vật là sự thay đổi mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, giữa nhà văn và bạn đọc. Đó là “mối quan hệ bình đẳng, là xu thế đối thoại dân chủ giữa nhiều ý thức, mỗi nhân vật có thể có một điểm nhìn đời sống độc lập với điểm nhìn của tác giả” [153, tr. Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lí luận [46] là công trình khoa học trọng điểm của Đại học Quốc Gia Hà Nội do một tập thể Viện sĩ, Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội hợp tác biên soạn. Công trình đã dành hẳn phần ba để nghiên cứu về “Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000”.

Trong đó, chương VI đề cập đến “Một số vấn đề thi pháp truyện ngắn hiện đại Việt Nam”. Các tác giả cho rằng giai đoạn 1975 - 2000 là “thời của truyện ngắn”, truyện ngắn thực sự khởi sắc, “các nhà văn đã có công tìm tòi nghệ thuật làm cho thể loại “nhỏ” có sức chứa”, “có khả năng khái quát hóa nghệ thuật đời sống theo chiều sâu” [46, tr. Và sau đó, họ tập trung nghiên cứu vào hai nhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp - những tên tuổi được dư luận quan tâm và có vị trí trên văn đàn. Nguyễn Minh Châu được đánh giá là “một phong cách đa dạng và biến ảo vì thế giọng điệu cũng luân phiên cho phù hợp với đối tượng” với “giọng chủ âm là trữ tình lo âu”, gần cuối đời có hiện tượng pha giọng.

Còn Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn “có công tìm tòi làm cho truyện ngắn đa dạng về hình thức”, là một hiện tượng văn học “hai lần lạ”, truyện ngắn của ông “có sức mạnh ở các chi tiết nghệ thuật”. Ta nhận thấy, bàn về vấn đề thi pháp truyện ngắn hiện đại Việt Nam, các tác giả đã 12 bày tỏ quan điểm về tình huống truyện, cốt truyện, các kiểu truyện ngắn hiện đại và nghệ thuật kể chuyện từ góc nhìn tự sự học. Tuy nhiên, những nhận xét vẫn chỉ dừng ở những nhận định khái quát, điểm xuyết mà chưa đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc văn bản truyện kể. Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy [158] là cuốn sách tập hợp những bài viết của Hội thảo khoa học do khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghệ Thuật Tự Sự Trong Truyện Ngắn Việt Nam Sau 1975" khám phá những đặc điểm nghệ thuật độc đáo trong thể loại truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975, nhấn mạnh vai trò của tự sự trong việc phản ánh tâm tư, tình cảm và những biến động xã hội. Tác giả phân tích cách mà các nhà văn đã sử dụng nghệ thuật tự sự để tạo ra những tác phẩm sâu sắc, mang tính nhân văn và phản ánh chân thực cuộc sống. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về cách thức mà nghệ thuật tự sự có thể làm phong phú thêm nội dung và ý nghĩa của truyện ngắn, từ đó nâng cao khả năng cảm thụ văn học.

Để mở rộng thêm kiến thức về nghệ thuật trong văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo tài liệu Khóa luận tốt nghiệp thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn tô hoài trước năm 1945, nơi phân tích nghệ thuật của một trong những tác giả nổi bật trước 1945. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ văn học đặc điểm nghệ thuật truyện ngắn tô hoài trước cách mạng cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về phong cách nghệ thuật của Tô Hoài, một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ thế giới nghệ thuật truyện ngắn hà lâm kỳ, để khám phá những khía cạnh nghệ thuật độc đáo trong tác phẩm của một tác giả đương đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về nghệ thuật tự sự trong văn học Việt Nam.