mở đầu với công trình Dẫn luận 8 phân tích tác phẩm tự sự (1968) và S/Z (1970) (tác phẩm này đã bắt đầu chuyển sang hậu cấu trúc chủ nghĩa). Todorov là một trong những người đầu tiên đề xuất thuật ngữ tự sự học với chuyên luận Thi pháp văn xuôi. Todorov còn có công trình Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”… Từ góc độ ngữ pháp, Todorov coi “nhân vật như danh từ, tình tiết là động từ” (dẫn theo [165, tr. Genette thì tuyên bố “mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu” (dẫn theo [165, tr.
Barthes cũng tán thành quan điểm đó… Như vậy, mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là “nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự” (dẫn theo [165, tr. Tiếp theo phải kể đến các nhà tự sự học hậu cấu trúc chủ nghĩa như M. Uspenski… Các tác giả này quan tâm đến các phương thức biểu đạt ý nghĩa khác nhau, lấy văn bản làm cơ sở (Jean - Claude Coquet). Hình thức tự sự chính là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phẩm.
Tổng quan quá trình nghiên cứu của lí thuyết tự sự, nhà lí luận Mĩ Gerald Prince đã chia làm ba nhóm theo ba loại hình như sau: Nhóm thứ nhất (gồm những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga như V. Propp, Todorov, Barthes, Remak, Norman Friedman, Northrop Frye, Etienne Souriau…) chú ý tới cấu trúc của câu chuyện được kể, bỏ qua hoặc không đi sâu vào đặc trưng biểu đạt của chất liệu; nhóm thứ hai (gồm G. Genette, Dolezel, Micke Bal…) xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ biểu đạt và vai trò của người trần thuật là quan trọng nhất; nhóm thứ ba (đại diện là Gerald Prince và Seymour Chatman) lại coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể. Lí thuyết tự sự học hiện đại lần đầu tiên cho người ta thấy sự phức tạp của cấu trúc tự sự với các vấn đề cần phải tìm tòi, suy ngẫm như vấn đề NKC, điểm nhìn, dòng ý thức, không gian, thời gian, giọng điệu nghệ thuật… Lí thuyết tự sự sẽ giúp cho ta nghiên cứu nghệ thuật tự sự của các thể loại nói chung và của từng tác phẩm văn học cụ thể nói riêng, qua đó cho thấy cả truyền thống văn học, văn hoá của mỗi dân tộc.
Ở Việt Nam, năm 2001, hội thảo quy mô toàn quốc về tự sự học đã được tổ chức tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trong bài viết Tự sự học - một bộ môn 9 nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng, Trần Đình Sử đã hệ thống, khái lược những vấn đề tự sự từ chủ nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học Saussure, Platon, Aritoste, Tz. Tododov, Genette… Qua đó, ông khẳng định vai trò quan trọng của tự sự học. Trong công trình Dẫn luận thi pháp học [167], Trần Đình Sử đã xác định vị trí của thi pháp học trong khoa nghiên cứu văn học, đối tượng phạm trù và phương pháp nghiên cứu thi pháp, ông tập trung đi sâu hệ thống, cắt nghĩa những khái niệm thuộc về trần thuật học như quan niệm nghệ thuật về con người, thời gian - không gian nghệ thuật, tác giả và kiểu tác giả, tính quan niệm và cấu trúc thể loại, cấu trúc của văn bản trần thuật, ngôn từ nghệ thuật… Trần thuật học - Nhập môn lí thuyết trần thuật học của tác giả Manfred Jahn công bố vào ngày 28 - 07 - 2003 [131], đăng tải trên trang web http://www.de đã xây dựng một hệ thống những khái niệm nền tảng về truyện kể và chỉ ra cách sử dụng chúng khi phân tích tác phẩm.
Những định nghĩa này được dựa trên một loạt bài nhập môn cổ điển như cấu trúc của trần thuật, kể chuyện tiêu điểm và tình huống trần thuật, thì, thời và thức trần thuật, nhân vật và diễn ngôn… Cao Kim Lan trong bài viết Lí thuyết về điểm nhìn nghệ thuật của R. Kellogg [113] đã dựa vào cuốn Bản chất của tự sự (The nature of Narrative, Oxford University, tái bản 1968) để giới thiệu về điểm nhìn nghệ thuật và sự chi phối của điểm nhìn trong truyện kể, vấn đề quyền năng của NKC với điểm nhìn của nhân vật, điểm nhìn của NKC và điểm nhìn của người đọc… Lê Phong Tuyết trong bài Tiếp cận Genette qua một vài khái niệm trần thuật [201] đã giới thiệu về Genette và lí thuyết của ông một cách hệ thống với những khái niệm liên quan đến trần thuật. Trong đó, tác giả tập trung làm rõ hai vấn đề mới mẻ với giới nghiên cứu và bạn đọc Việt Nam là tình huống trần thuật và người nghe chuyện. Một trong những công trình có ý nghĩa lớn với việc giới thiệu lí thuyết tự sự vào Việt Nam đó là cuốn Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử [165] do Trần Đình Sử chủ biên.
Trong đó, Phan Thu Hiền có bài viết Về lí thuyết tự sự của Northrop Frye [165, tr. Tác giả giới thiệu Northrop Frye là đại biểu quan 10 trọng có ảnh hưởng sâu sắc nhất của lí thuyết Phê bình huyền thoại (Mythcritic) còn gọi là lí thuyết Phê bình nguyên mẫu (archetypal critism) với quan niệm cho rằng mục tiêu của văn chương là đạt đến sự giới thiệu, sự trình bày cuộc sống. Nguyễn Đức Dân giới thiệu về Greimas trong bài Greimas - Ngƣời xây nền cho trƣờng phái kí hiệu học Pháp [165, tr. 39 - 55] với mô hình vai hành động, cấu trúc cơ sở của nghĩa, mô hình cấu tạo.
Tiếp theo, đó là cuốn Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử (Tập 1 và tập 2) [166] cũng do Trần Đình Sử chủ biên. Ở đây, chúng tôi quan tâm đến bài viết Vấn đề phân loại góc nhìn trần thuật của Phương Lựu, Ngƣời kể chuyện - nhân vật mang tính chức năng trong tác phẩm tự sự [165, tr. 196 - 208] của Nguyễn Thị Hải Phương, Bàn về một vài thuật ngữ thông dụng trong truyện kể của Đặng Anh Đào [165, tr. Qua những bài viết này, các tác giả đã góp phần làm rõ các khái niệm tự sự học như: NKC, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Như vậy, lí thuyết tự sự luôn là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm.
Nó có vai trò quan trọng và cần thiết trong việc tiếp cận tác phẩm văn học, đặc biệt là tác phẩm văn xuôi. Ở Việt Nam, ngoài những tác phẩm dịch thuật, ít có công trình nghiên cứu sâu về nghệ thuật tự sự từ phương diện lí thuyết. Giới nghiên cứu tự sự tập trung tìm hiểu, nghiên cứu về các phương diện của tự sự như: thời gian và không gian trần thuật, cấu trúc của văn bản trần thuật, ngôn ngữ trần thuật, tình huống trần thuật, điểm nhìn, giọng điệu, ngôi phát ngôn… Nói tóm lại, tất cả các thành phần của nghệ thuật tự sự đều được các học giả nghiên cứu và làm rõ qua các tác phẩm văn học. Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 Trong quá trình khảo sát tư liệu, chúng tôi được tiếp xúc nhiều với bài viết và công trình lý luận có quy mô khác nhau.
Trước thành tựu của công cuộc đổi mới văn học dân tộc sau 1975, đặc biệt là thể loại truyện ngắn, các nhà nghiên cứu phê bình đã tập trung bút lực nhằm giúp bạn đọc tiếp cận và thẩm định những cách tân mới mẻ trong “bước ngoặt” của dòng chảy văn học hiện đại Việt Nam. 11 Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 đã được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm, đặc biệt là nghiên cứu từ góc nhìn tự sự, một vấn đề lí luận mới mẻ và còn nhiều “lời ngỏ”. Cuốn 50 năm - Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám [153] được chia làm ba phần: Đặc điểm, diện mạo, hướng tiếp cận; Văn học và chiến tranh cách mạng; Những vấn đề thi pháp thể loại. Trong đó, chúng tôi chú ý đến bài viết Mấy nhận xét về nhân vật của văn xuôi Việt Nam sau 1975 của Nguyễn Thị Bình [153, tr.
Sau khi xác định tiêu chí, nguyên tắc xây dựng nhân vật của văn học sau 1975 trong thế đối sánh với văn học trước 1975, tác giả bài viết đã khẳng định nét mới rõ nhất trong việc xây dựng nhân vật là sự thay đổi mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, giữa nhà văn và bạn đọc. Đó là “mối quan hệ bình đẳng, là xu thế đối thoại dân chủ giữa nhiều ý thức, mỗi nhân vật có thể có một điểm nhìn đời sống độc lập với điểm nhìn của tác giả” [153, tr. Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lí luận [46] là công trình khoa học trọng điểm của Đại học Quốc Gia Hà Nội do một tập thể Viện sĩ, Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Văn học, Đại học Sư phạm Hà Nội hợp tác biên soạn. Công trình đã dành hẳn phần ba để nghiên cứu về “Truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 - 2000”.
Trong đó, chương VI đề cập đến “Một số vấn đề thi pháp truyện ngắn hiện đại Việt Nam”. Các tác giả cho rằng giai đoạn 1975 - 2000 là “thời của truyện ngắn”, truyện ngắn thực sự khởi sắc, “các nhà văn đã có công tìm tòi nghệ thuật làm cho thể loại “nhỏ” có sức chứa”, “có khả năng khái quát hóa nghệ thuật đời sống theo chiều sâu” [46, tr. Và sau đó, họ tập trung nghiên cứu vào hai nhà văn Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp - những tên tuổi được dư luận quan tâm và có vị trí trên văn đàn. Nguyễn Minh Châu được đánh giá là “một phong cách đa dạng và biến ảo vì thế giọng điệu cũng luân phiên cho phù hợp với đối tượng” với “giọng chủ âm là trữ tình lo âu”, gần cuối đời có hiện tượng pha giọng.
Còn Nguyễn Huy Thiệp là nhà văn “có công tìm tòi làm cho truyện ngắn đa dạng về hình thức”, là một hiện tượng văn học “hai lần lạ”, truyện ngắn của ông “có sức mạnh ở các chi tiết nghệ thuật”. Ta nhận thấy, bàn về vấn đề thi pháp truyện ngắn hiện đại Việt Nam, các tác giả đã 12 bày tỏ quan điểm về tình huống truyện, cốt truyện, các kiểu truyện ngắn hiện đại và nghệ thuật kể chuyện từ góc nhìn tự sự học. Tuy nhiên, những nhận xét vẫn chỉ dừng ở những nhận định khái quát, điểm xuyết mà chưa đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc văn bản truyện kể. Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy [158] là cuốn sách tập hợp những bài viết của Hội thảo khoa học do khoa Ngữ văn - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội tổ chức.