Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Qua truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Bích thực hiện tại Đại học Thái Nguyên năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Bích Thu và TS. Đào Thủy Nguyên. Công trình thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62.21).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau mốc lịch sử năm 1975, văn học Việt Nam bước vào giai đoạn chuyển biến từ khuynh hướng sử thi, lý tưởng hóa sang tiếp cận hiện thực đời sống thế sự và số phận con người cá nhân. Trong bối cảnh này, thể loại truyện ngắn thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt và phản ánh kịp thời các vấn đề xã hội. Ba tác giả Nguyễn Minh Châu (sinh năm 1930), Nguyễn Khải (sinh năm 1930) và Ma Văn Kháng (sinh năm 1936) thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong chiến tranh, đồng thời giữ vai trò nòng cốt trong giai đoạn mở đầu công cuộc đổi mới văn học theo hướng cách tân trên nền tảng truyền thống.

Tuy lý thuyết tự sự học (Narratology) đã được giới nghiên cứu tại Việt Nam giới thiệu và ứng dụng, song các công trình trước đó chủ yếu dừng lại ở các bài viết nghiên cứu đơn lẻ từng tác gia, hoặc khảo sát diện rộng toàn bộ thể loại văn xuôi mà chưa có công trình chuyên khảo nào phân tích đối sánh có hệ thống về nghệ thuật tự sự của ba nhà văn tiêu biểu này trong truyện ngắn sau 1975. Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống học thuật nêu trên.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung chính:

  1. Làm rõ nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 qua sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng trên ba bình diện: ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật.
  2. Xác định những điểm tương đồng của thế hệ, nét riêng trong phong cách của từng tác giả, từ đó xác định đóng góp của ba nhà văn đối với sự vận động và đổi mới thể loại truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể theo ba nội dung:

  • Nhiệm vụ 1: Vận dụng lý thuyết tự sự học hiện đại để tìm hiểu và phân tích truyện ngắn sau 1975 của ba tác giả, làm nổi bật giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng, chỉ ra điểm chung và điểm riêng của từng phong cách.
  • Nhiệm vụ 2: Đặt truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng trong thế đối sánh với truyện ngắn trước 1975 của chính họ và với truyện ngắn của các thế hệ nhà văn khác nhằm xác định các chuyển biến, thành công và giới hạn.
  • Nhiệm vụ 3: Thông qua việc khảo sát sự đổi mới mô hình tự sự, khẳng định diện mạo tinh thần và vị trí của ba tác giả trong tiến trình hiện đại hóa thể loại truyện ngắn và văn học Việt Nam hiện đại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975, tập trung vào ba phương diện cấu trúc: ngôi kể, điểm nhìn nghệ thuật và giọng điệu trần thuật qua các tác phẩm của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải và Ma Văn Kháng.
  • Phạm vi tư liệu:
    • Ngữ liệu khảo sát trọng tâm là các truyện ngắn sáng tác sau năm 1975 trong ba tuyển tập: Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu (NXB Văn học, 2006), Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải (NXB Hội Nhà văn, 2007), và Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng (NXB Hội Nhà văn, 2002).
    • Ngữ liệu đối sánh gồm các truyện ngắn sáng tác trước 1975 của ba tác giả cùng các tác phẩm tiêu biểu của những thế hệ sáng tác tiếp nối ("6X", "7X", "8X", "9X") như Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân tích và tổng thuật lịch sử nghiên cứu theo ba nhóm tài liệu chính:

Tình hình nghiên cứu lý thuyết tự sự học

  • Quốc tế: Chủ nghĩa hình thức Nga với B. Tomachevski (phân biệt fabula - chuyện kể và sujet - cốt truyện; thời gian chuyện kể và thời gian trần thuật), V. Shklovski (kết cấu vòng tròn, bậc thang, thủ pháp làm lạ hóa, xâu chuỗi, đóng khung), B. Eikhenbaum (nghiên cứu cấu trúc truyện ngắn). Chủ nghĩa cấu trúc và hậu cấu trúc Pháp với Roland Barthes (Dẫn luận phân tích tác phẩm tự sự, S/Z), Tzvetan Todorov (Thi pháp văn xuôi, Ngữ pháp "Câu chuyện mười ngày"), Gérard Genette (lý thuyết tiêu điểm: zero focalization, internal focalization, external focalization). Các nhà lý luận Mỹ và phương Tây khác như Wayne Booth, Norman Friedman, Lubomír Doležel, Gerald Prince, Seymour Chatman, Manfred Jahn, Katie Wales, Mikhail Bakhtin.
  • Tại Việt Nam: Hội thảo khoa học toàn quốc về tự sự học năm 2001 tại Đại học Sư phạm Hà Nội đánh dấu bước tiếp nhận lý thuyết này. Các công trình tiêu biểu gồm Tự sự học - Một số vấn đề lí luận và lịch sử (Tập 1, Tập 2) và Dẫn luận thi pháp học do Trần Đình Sử chủ biên/biên soạn; các bài viết lý thuyết của Phương Lựu, Đặng Anh Đào, Cao Kim Lan, Lê Phong Tuyết, Phan Thu Hiền, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Đăng Điệp, Lê Huy Bắc.

Nghiên cứu nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975

  • Các công trình chuyên khảo và kỷ yếu hội thảo: 50 năm - Văn học Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám (Nguyễn Thị Bình khảo sát nhân vật văn xuôi sau 1975); Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lí luận (Đại học Quốc gia Hà Nội nghiên cứu thi pháp truyện ngắn 1975–2000, tập trung vào Nguyễn Minh Châu và Nguyễn Huy Thiệp); Văn học Việt Nam sau 1975 - những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy (các bài viết của Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Văn Hiếu về điểm nhìn); Truyện ngắn Việt Nam - Lịch sử, thi pháp, chân dung (Phan Cự Đệ chủ biên).
  • Các luận án, luận văn liên quan: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Huệ (1998, khảo sát giai đoạn 1980–1986 qua 4 tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy (khảo sát ngôn ngữ kể chuyện và điểm nhìn); Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hương Thủy (nghiên cứu truyện ngắn từ góc độ thể loại sau 1986); Luận án tiến sĩ của Ngô Thu Thủy (nghiên cứu văn xuôi thời kỳ 1975–1985); Luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thanh Hà, Trần Thanh Việt.

Nghiên cứu về ba tác giả Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng

  • Nguyễn Minh Châu: Các chuyên luận, bài viết của Tôn Phương Lan (Phong cách nghệ thuật Nguyễn Minh Châu), Nguyễn Văn Long và Trịnh Thu Tuyết (Nguyễn Minh Châu và công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau 1975), Huỳnh Như Phương, Nguyễn Tri Nguyên; Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Thanh Nga (Lời văn nghệ thuật trong sáng tác của Nguyễn Minh Châu); các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hải Phương, Phạm Thị Hồng, Phạm Văn Dũng, Hồ Thị Thanh, Nguyễn Thúy Hạnh, Nguyễn Việt Hà.
  • Nguyễn Khải: Tuyển tập nghiên cứu Nguyễn Khải về tác gia và tác phẩm (các bài viết của Vương Trí Nhàn, Nguyễn Thị Bình, Bích Thu, Đoàn Trọng Huy, Đào Thủy Nguyên); Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Tuyết Nga (Tìm hiểu phong cách văn xuôi Nguyễn Khải); chuyên khảo của Đào Thủy Nguyên (Phương pháp tiếp cận sáng tác của Nguyễn Khải trong giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại); các luận văn thạc sĩ của Hà Huy Dũng, Hoàng Thị Anh, Lê Nguyễn Hạnh Thảo.
  • Ma Văn Kháng: Luận án tiến sĩ của Đỗ Phương Thảo (Nghệ thuật tự sự trong sáng tác của Ma Văn Kháng); các bài viết của Lã Nguyên (Khi nhà văn đào bới bản thể ở chiều sâu tâm hồn), Phong Lê, Nguyễn Thị Huệ, Nguyễn Ngọc Thiện; đề tài khoa học của Đào Thủy Nguyên; các luận văn thạc sĩ của Phạm Mai Anh, Nguyễn Thị Thủy, Nguyễn Thị Thêu, Trần Thị Mai Viên.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận từng tác gia riêng rẽ hoặc nghiên cứu bao quát toàn bộ thể loại văn xuôi mà chưa xem xét thể loại truyện ngắn theo hướng tiếp cận tự sự học chuyên sâu. Luận án lựa chọn giải quyết vấn đề cấu trúc tự sự qua ba bình diện (ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu) trên ngữ liệu truyện ngắn sau 1975 của ba tác giả cùng thế hệ, làm rõ mô hình vận động thi pháp của giai đoạn chuyển giao văn học.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các thành tựu của thi pháp học và tự sự học:

  • Người kể chuyện (Narrator): Là chủ thể trần thuật thực hiện chức năng kể, dẫn dắt và tổ chức văn bản nghệ thuật. Luận án phân định vai trò của người kể chuyện theo các cấp độ hiển ngôn và hàm ẩn, người kể chuyện đóng vai nhân vật xưng "tôi" hoặc người kể giấu mình.
  • Điểm nhìn nghệ thuật (Point of view / Perspective): Được xác định là cự ly, vị trí quan sát, đánh giá và cảm thụ của chủ thể trần thuật đối với hiện thực được miêu tả. Luận án ứng dụng và hệ thống hóa thành các dạng thức:
    • Tự sự ngôi thứ ba: Điểm nhìn bên ngoài (ĐNBN - tái hiện hành động khách quan), điểm nhìn bên trong (ĐNBT - thâm nhập vào ý thức, tâm lý nhân vật), điểm nhìn phức hợp (ĐNPH - dịch chuyển linh hoạt giữa bên trong và bên ngoài).
    • Tự sự ngôi thứ nhất: Điểm nhìn đơn tuyến (ĐNĐT - một nhân vật xưng "tôi" dẫn dắt mạch truyện), điểm nhìn đa tuyến (ĐNĐaT - phối hợp nhiều nhân vật xưng "tôi" với các góc nhìn độc lập).
  • Giọng điệu trần thuật (Tone / Voice): Luận án phân biệt voice (chất giọng, âm thanh, chủ thể phát ngôn) và tone (thái độ, cảm xúc, lập trường thẩm mỹ của chủ thể trước đối tượng miêu tả). Giọng điệu là phương tiện biểu đạt thế giới quan và cá tính sáng tạo của nhà văn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng sáu phương pháp nghiên cứu văn học:

  1. Phương pháp tiếp cận tự sự học: Ứng dụng hệ thống khái niệm tự sự học để phân tích cấu trúc văn bản truyện ngắn.
  2. Phương pháp thống kê: Khảo sát văn liệu tác phẩm nhằm ghi nhận tần suất xuất hiện của các dạng ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu.
  3. Phương pháp hệ thống: Đặt các tác phẩm trong hệ thống sáng tác của từng tác giả và hệ thống tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.
  4. Phương pháp loại hình và phân tích theo đặc trưng thể loại: Nhận diện các mô hình trần thuật, kiểu người kể chuyện theo đặc trưng truyện ngắn.
  5. Phương pháp so sánh: Đối sánh giữa sáng tác trước và sau 1975 của ba tác giả; đối sánh giữa ba tác giả với nhau; đối sánh với các thế hệ nhà văn khác.
  6. Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các luận điểm từ kết quả phân tích ngữ liệu thực tế.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Danh mục tư liệu chính Tác giả Nhà xuất bản / Năm xuất bản
Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Minh Châu Nguyễn Minh Châu NXB Văn học, 2006
Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Khải Nguyễn Khải NXB Hội Nhà văn, 2007
Truyện ngắn chọn lọc Ma Văn Kháng Ma Văn Kháng NXB Hội Nhà văn, 2002
Hệ thống tác phẩm đối sánh Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu... Nhiều NXB (giai đoạn 1975 đến nay)

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu lý thuyết tự sự học trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời điểm duyệt các công trình nghiên cứu về văn xuôi sau 1975 và sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng. Chương 1 chỉ ra rằng các công trình đi trước đã cung cấp nhiều nhận định về phong cách, thế giới nhân vật và cảm hứng sáng tác, nhưng việc đi sâu phân tích cấu trúc truyện kể dưới góc độ thi pháp tự sự ở nhóm tác giả thế hệ mở đường vẫn là mảnh đất học thuật cần được bổ sung một cách hệ thống.

Chương 2: Một số vấn đề cơ bản của tự sự học. Khái lược về truyện ngắn Việt Nam sau 1975

Nội dung chương 2 chia thành hai phần chính:

  • Cơ sở lý thuyết tự sự học: Xác lập nội hàm khoa học của các thuật ngữ trung tâm gồm Người kể chuyện, Điểm nhìn nghệ thuật (với các mô hình phân loại của Genette, Friedman, Doležel, Diệp Tú Sơn, Trần Đình Sử), và Giọng điệu trần thuật (phân biệt giữa phương diện ngữ pháp âm thanh và sắc thái biểu cảm thẩm mỹ).
  • Tiến trình truyện ngắn Việt Nam sau 1975:
    • Chặng đường 1975–1985: Giai đoạn xuất hiện các tín hiệu đổi mới bước đầu khi các tác phẩm bắt đầu chuyển dịch từ đề tài chiến tranh thuần túy sang khai thác chiều sâu tâm lý, bi kịch số phận và vấn đề thế sự đời tư (Bến quê, Bức tranh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu; Mẹ con chị Hằng, Đứa ăn cắp của Ma Văn Kháng).
    • Chặng đường 1986 đến nay: Giai đoạn phát triển mạnh mẽ của tư duy nghệ thuật dân chủ hóa sau Đại hội Đảng lần thứ VI. Xuất hiện các hiện tượng văn học và các tác giả thuộc nhiều thế hệ tiếp nối như Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tư.
    • Sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật: Chuyển từ phản ánh hiện thực chiến tranh sang hiện thực đời thường đa chiều; chuyển từ xây dựng mẫu hình con người sử thi sang con người thế sự, đa diện và phức tạp trong đời sống nội tâm.

Chương 3: Ngôi kể và điểm nhìn trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng

Chương 3 đi sâu khảo sát văn bản nghệ thuật trên hai bình diện ngôi kể và điểm nhìn:

  • Truyện ngắn kể theo ngôi thứ ba:
    • Người kể chuyện ẩn mình theo điểm nhìn bên ngoài: Thể hiện thái độ khách quan, ghi nhận hành vi, lời nói và bối cảnh mà không can thiệp vào ý nghĩ nhân vật, tạo khoảng trống cho bạn đọc đồng sáng tạo.
    • Người kể chuyện ẩn mình theo điểm nhìn bên trong: Người kể thâm nhập vào dòng tâm tư, ý thức của nhân vật, xuất hiện hình thức lời văn nửa trực tiếp (lời kể hòa lẫn độc thoại nội tâm).
    • Người kể chuyện ẩn mình dịch chuyển điểm nhìn: Sự luân chuyển linh hoạt giữa điểm nhìn bên ngoài và bên trong, giúp mở rộng biên độ phản ánh hiện thực và soi chiếu nhân vật ở nhiều chiều kích.
  • Truyện ngắn kể theo ngôi thứ nhất:
    • Người kể chuyện xưng "tôi" duy nhất theo điểm nhìn đơn tuyến: Thể hiện cái tôi cá nhân tự ý thức, tự vấn, độc thoại và chiêm nghiệm về các giới hạn của bản thân trước cuộc đời.
    • Nhiều người kể chuyện xưng "tôi" theo điểm nhìn đa tuyến: Cấu trúc truyện ngắn có sự phân thân hoặc lồng ghép nhiều mạch kể của các nhân vật xưng "tôi" khác nhau, tạo nên tính chất đối thoại đa thanh trong văn bản trần thuật.

Chương 4: Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng

Chương 4 khảo sát các sắc thái biểu hiện của giọng điệu trần thuật qua 5 tiểu mục cụ thể:

  • Giọng điệu khẳng định, ngợi ca: Kế thừa âm hưởng khẳng định các giá trị nhân bản, vẻ đẹp tâm hồn và đạo lý truyền thống, nhưng được đặt trong bối cảnh đời thường thay vì tính chất sử thi thuần túy.
  • Giọng điệu trào lộng, châm biếm: Hướng vào phê phán những thói hư tật xấu, sự tha hóa đạo đức, tính giả tạo trong lối sống thời hậu chiến và kinh tế thị trường.
  • Giọng điệu xót xa, thương cảm: Thể hiện niềm trắc ẩn, đồng cảm sâu sắc trước những mất mát, bi kịch số phận và những tổn thương tinh thần của con người thời hậu chiến.
  • Giọng điệu trầm tư, triết lý: Mạch trần thuật mang tính chiêm nghiệm, đúc kết các quy luật nhân sinh, nhân thế qua những suy ngẫm của người kể chuyện và nhân vật.
  • Sự kết hợp, đan xen nhiều giọng điệu: Luận án chỉ ra cấu trúc đa thanh của truyện ngắn sau 1975, khi trong cùng một tác phẩm có sự dung hợp và chuyển hóa linh hoạt giữa nhiều sắc thái giọng điệu khác nhau.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn

Căn cứ theo công bố của tác giả, luận án mang lại các đóng góp cụ thể:

  • Vận dụng có hệ thống lý thuyết tự sự học hiện đại để phân tích cấu trúc truyện ngắn sau 1975 của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng trên các bình diện: ngôi kể, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật; làm rõ giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm.
  • Là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn sau 1975 của nhóm ba nhà văn gạo cội thuộc thế hệ "3X", từ đó xác định những điểm tương đồng thế hệ và phong cách riêng biệt của từng tác giả.
  • Thông qua việc đối chiếu sáng tác của ba nhà văn ở hai giai đoạn trước và sau năm 1975, kết hợp so sánh với các thế hệ nhà văn khác, luận án làm sáng tỏ quy luật vận động, đổi mới mô hình tự sự của thể loại truyện ngắn trong văn học Việt Nam đương đại.
  • Cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ trực tiếp cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập văn học Việt Nam sau 1975 tại các trường đại học, cao đẳng và các trường phổ thông.

Kiến nghị và ứng dụng

Luận án đề xuất việc ứng dụng phương pháp tiếp cận tự sự học như một công cụ hữu hiệu trong nghiên cứu thi pháp văn xuôi, đồng thời kiến nghị mở rộng việc giảng dạy tác phẩm văn xuôi hiện đại trong nhà trường từ góc độ cấu trúc trần thuật thay vì chỉ phân tích chủ đề và nhân vật theo lối truyền thống.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi ngữ liệu của ba tác giả thuộc thế hệ mở đường (Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng) và khu biệt đối tượng ở ba yếu tố cấu trúc tự sự (ngôi kể, điểm nhìn, giọng điệu), chưa bao quát toàn bộ các bình diện khác của thi pháp tự sự như cấu trúc thời gian - không gian nghệ thuật, cấu trúc cốt truyện hay motif trần thuật.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các yếu tố thi pháp tự sự khác (không gian, thời gian, ngôn ngữ thoại dẫn).
    • Ứng dụng mô hình phân tích tự sự học để khảo sát đối sánh sâu hơn với các thế hệ nhà văn xuất hiện sau thời kỳ Đổi mới (các thế hệ "7X", "8X").

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học Việt Nam và Lý luận văn học.
    • Giảng viên đại học, cao đẳng và giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông.
    • Các nhà nghiên cứu và phê bình văn học quan tâm đến thi pháp truyện ngắn và tiến trình đổi mới văn học thời kỳ hậu chiến.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phần hệ thống hóa cơ sở lý thuyết tự sự học về mối quan hệ giữa người kể chuyện, điểm nhìn và giọng điệu.
    • Khung thao tác phân tích ngữ liệu thực tế khi khảo sát sự dịch chuyển điểm nhìn và hiện tượng đa thanh giọng điệu trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát truyện ngắn của những tác giả nào và vì sao lựa chọn nhóm tác giả này?

Luận án khảo sát truyện ngắn của ba nhà văn: Nguyễn Minh Châu (sinh năm 1930), Nguyễn Khải (sinh năm 1930) và Ma Văn Kháng (sinh năm 1936). Nhóm tác giả này được lựa chọn vì họ cùng thuộc thế hệ "3X", trưởng thành trong kháng chiến và đóng vai trò nòng cốt mở đầu công cuộc đổi mới văn học Việt Nam sau năm 1975 theo khuynh hướng cách tân trên nền tảng truyền thống. Cả ba tác giả đều được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

2. Mô hình phân loại điểm nhìn trong tự sự ngôi thứ ba của luận án gồm những dạng thức nào?

Trong hình thức tự sự ngôi thứ ba, luận án phân loại thành ba dạng thức điểm nhìn:

  • Người kể chuyện ẩn mình kể theo điểm nhìn bên ngoài (ĐNBN).
  • Người kể chuyện ẩn mình kể theo điểm nhìn bên trong (ĐNBT).
  • Người kể chuyện ẩn mình dịch chuyển điểm nhìn (ĐNPH - điểm nhìn phức hợp kết hợp trong và ngoài).

3. Trong tự sự ngôi thứ nhất, luận án phân biệt các hình thức điểm nhìn ra sao?

Luận án chia tự sự ngôi thứ nhất thành hai dạng:

  • Người kể chuyện xưng "tôi" duy nhất kể theo điểm nhìn đơn tuyến (ĐNĐT): Tập trung vào một cái tôi cá nhân tự ý thức, độc thoại, chiêm nghiệm.
  • Nhiều người kể chuyện xưng "tôi" kể theo điểm nhìn đa tuyến (ĐNĐaT): Luân chuyển mạch kể qua nhiều chủ thể xưng "tôi" độc lập, tạo cấu trúc đối thoại đa thanh.

4. Những sắc thái giọng điệu trần thuật chính nào được luận án phân tích ở Chương 4?

Chương 4 khảo sát bốn sắc thái giọng điệu chủ đạo và một dạng thức tổ chức giọng điệu:

  • Giọng điệu khẳng định, ngợi ca.
  • Giọng điệu trào lộng, châm biếm.
  • Giọng điệu xót xa, thương cảm.
  • Giọng điệu trầm tư, triết lý.
  • Sự kết hợp, đan xen nhiều giọng điệu trong cùng một văn bản nghệ thuật.

5. Sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật của truyện ngắn sau 1975 được thể hiện qua các phương diện nào?

Theo luận án, sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật thể hiện ở hai phương diện cơ bản:

  • Chuyển biến từ phản ánh hiện thực sự kiện, biến cố lịch sử (chiến tranh) sang hiện thực đời sống thế sự, đạo đức thời bình.
  • Chuyển biến từ quan niệm con người sử thi, mẫu mực sang con người đời thường với đời sống tâm lý đa chiều, phức tạp và mang tính bản thể.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bích là công trình nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 qua sáng tác của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải và Ma Văn Kháng. Bằng việc vận dụng lý thuyết tự sự học hiện đại, luận án đã làm rõ các phương thức tổ chức ngôi kể, sự dịch chuyển điểm nhìn và tính chất đa thanh của giọng điệu trần thuật. Công trình xác lập những điểm tương đồng về mặt thế hệ và nét đặc thù trong phong cách của từng nhà văn, qua đó khẳng định quy luật vận động của thể loại truyện ngắn trong bối cảnh văn học chuyển giao thời kỳ hậu chiến.