Đặt vấn đề khảo sát các phương tiện ngôn ngữ biểu thị màu sắc địa phương nói chung và phương tiện từ vựng nói riêng trong tác phẩm văn học như đã đề cập trên đây lẽ dĩ nhiên không thể tách rời bình diện ngữ nghĩa. Là một hiện tượng xã hội - lịch sử, sự hình thành của phương ngữ gắn liền với quá trình vận động và phát triển không ngừng của ngôn ngữ, sự tách biệt về không gian địa lý, hoàn cảnh sống, đặc điểm kinh tế xã hội, quá trình tiếp xúc văn hóa - ngôn ngữ… Vì thế, hiểu tiếng địa phương không chỉ giới hạn bởi những yếu tố có tính hình thức mà còn bao hàm cả yếu tố nội dung. Quan điểm đối lập phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân hoặc một phương ngữ khác là một trong những cơ sở xác định màu sắc địa phương trong tác phẩm văn học. Ngôn ngữ học tri nhận và nghĩa học tri nhận 1.1 Khái niệm về ngôn ngữ học tri nhận Ngôn ngữ học tri nhận là một khuynh hướng, một trào lưu của ngôn ngữ học hiện đại.
Sự ra đời của ngôn ngữ học tri nhận có nguồn gốc từ việc tiếp thu tư tưởng mới trong lĩnh vực tâm lý học. Những nhân vật có ảnh hưởng đến sự ra đời của khuynh hướng này không thể không nhắc tới W.Humboldt là người tiếp cận ngôn ngữ dưới bình diện văn hóa, tâm lý. Ông từng đưa ra những luận điểm nổi tiếng: ngôn ngữ làm nên linh hồn một dân tộc; thế giới ngôn ngữ là một thế giới trung gian giữa thế giới khách quan bên ngoài và thế giới con người; sự phản ánh trong ý thức con người không đơn thuần là con đường trực tiếp, một đối một với hiện thực mà bao giờ cũng bị ảnh hưởng của thế giới ngôn ngữ… B.Whorf đề cập tới tính tương đối của ngôn ngữ. Thế giới là một thể liên tục, không chia cắt.
Tuy nhiên, để nhận thức và biểu thị kết quả nhận thức con người phải chia cắt thế giới thành những tế phần khác nhau. Những cộng đồng ngôn ngữ khác nhau có thể chia cắt hiện thực một cách khác nhau, tạo nên “bức tranh ngôn ngữ về thế giới” một cách khác nhau. Nói cách khác, thế giới xung quanh ta được cấu trúc hóa một cách khác nhau trong mỗi ngôn ngữ. Vì thế, về nguyên tắc sẽ không có sự đồng nhất ý nghĩa giữa các ngôn ngữ.
Sự chuyển hướng của tâm lý học trong những năm 60 của thế kỷ 20 tiếp tục có những tác động to lớn đối với đời sống ngôn ngữ học. Cái công thức nhị nguyên “kích thích-phản ứng” (S-R) của trường phái hành vi luận đã không đề cập đến trạng thái tinh thần hay những hiện tượng tâm lý tác động đến quá trình đó. Quan điểm này đề nghị phải nghiên cứu con người như một hệ thống xử lý thông tin mà nó tiếp nhận. Neisser cho rằng: “tất cả các quá trình trong đó các cứ liệu cảm giác đầu vào được cải biến, được giảm bớt, được làm phong phú thêm, được lưu trữ và được sử dụng” [53, tr.
Hay ý kiến của Solso: “nghiên cứu xem con người tiếp nhận thông tin về thế giới như thế nào, những thông tin đó con người hình dung ra sao, chúng được lưu trữ và cải biến thành tri thức như thế nào” [53, tr.13] Về đối tượng, ngôn ngữ học tri nhận xác định: đó chính là ngôn ngữ trong mối quan hệ với sự tri nhận đồng thời có nhiệm vụ bao quát một cách toàn diện chức năng tri nhận của ngôn ngữ. Tác giả Trần Văn Cơ cho rằng ngôn ngữ học tri nhận là “phải trả lời hàng loạt những câu hỏi có liên quan đến mối quan hệ giữa ngôn ngữ và các quá trình tri nhận bao gồm quá trình nhận thức (trí tuệ hay ý thức), ý niệm hóa, tri giác và các biểu tượng tinh thần đang diễn ra trong não bộ con người, nhờ đó con người tiếp nhận được những tri thức về thế giới” [14, tr.2 Ngữ nghĩa học tri nhận và vấn đề màu sắc địa phương trong tác phẩm văn học Tri nhận được hiểu vừa là tri thức vừa là nhận thức của con người cùng với vốn kinh nghiệm được tích lũy. Ngôn ngữ là hình thức tồn tại của kinh nghiệm lịch sử - xã hội. Mỗi dân tộc có kinh nghiệm lịch sử - xã hội của riêng mình.
Do đó, những ngôn ngữ khác nhau có thể tồn tại những nét dị biệt, biểu thị những ý nghĩa riêng. Có thể nói, chính chủ trương “khảo sát một số khả năng tri nhận của con người cái khả năng ngôn ngữ cũng như miêu tả các tri thức ngôn ngữ được lưu trữ trong đầu óc con người dưới dạng các biểu tượng tinh thần đặc biệt” [53, tr.14] khiến cho ngôn ngữ học tri nhận đặc biệt quan tâm tới việc nghiên cứu về nghĩa. Khác với ngôn ngữ học truyền thống, ngôn ngữ học tri nhận đề cao vấn đề nghĩa nhưng nhưng không phải là ý nghĩa trong mối quan hệ với thực tại khách quan mà là mối quan hệ với thế giới tinh thần, phản ánh năng lực tri nhận của con người. Điều này khiến cho ngôn ngữ học tri nhận đặt ra cho mình nhiều nội dung nghiên cứu: quá trình tạo sinh và hiểu ngôn ngữ, vấn đề phạm trù hóa, ý niệm hóa, vấn đề ý niệm cảm xúc của con người, cái nhìn của con người đối với thế giới hay “bức tranh ngôn ngữ thế giới”, vai trò của cơ thể đối với ý thức ngôn ngữ… Trong đó, nội dung quan trọng bậc nhất của ngôn ngữ học tri nhận là nghiên cứu ý niệm hóa và quá trình ý niệm hóa về thế giới.
Xin được lược trích ý kiến về một trường hợp cụ thể sau đây của tác giả Trần Văn Cơ: Các nhà từ điển học thường lấy phương pháp phân tích thành tố ý nghĩa để xác định nghĩa từ vựng. Tuy nhiên, điều này không làm thỏa mãn nhiều nhà ngữ học. Ví dụ: “Nhà” được giải nghĩa “công trình xây dựng có mái, có tường vách để ở hay để dùng vào việc nào đó” [41, tr. Định nghĩa này đã bỏ qua nhiều nét nghĩa quan trọng trong cấu trúc nghĩa của từ.
Dễ thấy, “ngôi nhà” Việt Nam không giống nhà châu Âu, châu Phi… “Nhà” người Việt không chỉ khác về kiến trúc mà còn ở những tình cảm, quan niệm được gửi gắm: “nhà” là nơi che chở, đùm bọc, bảo vệ, là hơi ấm, sự chờ đợi. Họ gọi vợ mình hoặc chồng mình là “nhà tôi” với hy vọng về một mái ấm che thân, sự bình an trong cuộc đời. Phải là người Việt mới hiểu được ý nghĩa sâu xa của “xa nhà”, “nhớ nhà”, “về nhà”, “người nhà”… Đó là lý do cần bổ sung việc giải nghĩa bằng phương pháp phân tích ý niệm. Cũng theo tài liệu của tác giả này, ý niệm có cấu trúc theo mô hình trung tâm và ngoại vi.
Trung tâm chính là khái niệm mang tính phổ quát. Nằm ở ngoại vi là những nét đặc thù văn hóa dân tộc. Nét đặc thù ấy bao gồm: văn hóa toàn dân tộc, văn hóa các tộc người, văn hóa vùng, miền… Đến đây có thể nói rằng, việc khảo sát từ ngữ địa phương trên cơ sở ngôn ngữ học tri nhận chính là cách tìm hiểu cơ sở tri nhận, cách thức ý niệm hóa trong sự tương tác với đặc thù văn hóa của địa phương đó. Đây cũng là một trong những cách thức làm sáng rõ màu sắc địa phương trong tác phẩm.
Tất nhiên, chúng ta hiểu rằng, cơ sở tri nhận của một cá nhân dù là ai cũng không thể tách rời khỏi cộng động. Chẳng hạn, do nhiều lý do khác nhau, người Nam Bộ dùng nhiều từ ngữ về sông nước. Bên cạnh tính phong phú và đa dạng trong định danh, một mặt người Việt nói chung, người Nam Bộ nói riêng xây dựng các bức tranh ý niệm và các ẩn dụ của mình thông qua các con đường sau: - Dùng trải nghiệm của chính bản thân mình để tri nhận thế giới (i). - Dùng trải nghiệm của chính thế giới để tri nhận lại chính mình (ii).
- Dùng trải nghiệm của một sự vật, hiện tượng trừu tượng thông qua một sự vật hiện tượng cụ thể (iii). Thuộc nhóm (i), trước hết có thể kể đến các từ ngữ: lòng sông, cỏ tóc tiên, mặt nước, rún lũ… Nhóm (ii) có thể kể: ngụp lặn trong công việc, công việc ngập đầu, bơi trong công việc, công việc trôi chảy, công việc ứ đọng… và (iii): đời người là dòng sông, đời người là cỏ cây, đời người là một ngày. Rõ ràng, các cách tri nhận trên không thể không ít nhiều ảnh hưởng đến việc xây dựng, miêu tả hình tượng trong truyện ký của Sơn Nam - một nhà văn am hiểu vùng đất mình sinh ra và trưởng thành.6 Tiểu kết Như đã trình bày, chương này có tính chất tổng quan. Luận văn đã bàn luận, đề cập đến: - Tiểu sử Sơn Nam.
- Lịch sử, văn hóa vùng đất Nam Bộ. - Đặc trưng của ngôn ngữ văn chương. - Phương ngữ và phương ngữ Nam Bộ. - Màu sắc địa phương - màu sắc Nam Bộ.
- Ngôn ngữ học tri nhận và các cách định danh. Đây có thể coi là bộ khung lý thuyết, xuất phát điểm để luận văn đi vào miêu tả một số chủ đề cụ thể trong chương tiếp theo. Chương 2 CÁC PHƯƠNG TIỆN NGÔN NGỮ BIỂU THỊ MÀU SẮC NAM BỘ TRONG TRUYỆN KÝ SƠN NAM Một trong những cách thức được đề tài sử dụng nhằm tiếp cận với những phương tiện này - đó là: so sánh, đối chiếu ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp phương ngữ với với ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp trong ngôn ngữ toàn dân nhằm xác định màu sắc địa phương trong tác phẩm. Từ vựng – ngữ âm Hiện nay, xung quanh vấn đề từ tiếng Việt tồn tại nhiều quan niệm khác nhau.
Tuy nhiên, như đã xác định, ở luận văn này chúng tôi không đi vào những vấn đề có tính lý luận mà chấp nhận quan điểm về từ của Nguyễn Tài Cẩn làm cơ sở khảo sát, nghiên cứu. Trên cơ sở phối hợp hai bình diện ngữ âm và ngữ nghĩa, từ địa phương được chia thành: (i) Nhóm không có từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ toàn dân, (ii) nhóm có từ ngữ tương đương trong ngôn ngữ toàn dân. Quá trình khảo sát được thực hiện trên 57 truyện ngắn (trong Hương rừng Cà Mau, Hương quê Tây Đầu Đỏ và một số truyện ngắn khác) và 02 tập hồi ký (Từ U Minh đến Cần Thơ, Ở chiến khu).