chương 1 chúng tôi sẽ trình bày cơ sở lý thuyết và thực tiễn của nghiên cứu, đây là bước có tinh chìa khóa để mở ra được tác pham theo con đường thé nào, hướng đi cụ thé trong phân tích văn hóa. Đồng thời, giới thiệu về nha văn và dua ra tình hình tư liệu cho việc triển khai nghiên cứu. Tiếp đến là chương 2 sẽ đi vào vấn đẻ văn hóa vật chất được ca dao — dân ca kiến tạo. Đó là những phương điện ve sinh thái tự nhiên, về sinh kế và vẻ sự hòa hợp của con người và sinh thái.
Phan này chỉ rõ bôi cảnh văn hóa ở đây chính là thé giới vốn di đã ton tại, và con người tạo dựng thêm dé có thé sinh sống. Sau văn hóa vật chat sẽ là văn hóa tinh than ở chương 3, đây là tìm kiểm những bỗi cảnh văn hóa được ca dao — dân ca kiến tạo nhằm cố kết cộng đồng. hiểu tâm tư cá nhân để có thé sông, phát triển với vùng đất này với tâm thé của con người day hăng hái và sáng tạo. Cuối cùng là chương 4 khi nhìn lại một cách có hệ thống quá trình phân tản của ca đao — dân ca với việc kiến tạo bối cảnh trong hệ thống cau trúc cốt truyện.
Mỗi một phan ca dao — dan ca đều đảm nhan, va thé hién hết vai trỏ, tinh đắc dụng của mình như thể nảo đều được chúng tôi chỉ rõ. Bên cạnh đó, chúng tôi còn có một bảng phụ lục nhằm khảo sắt vị trí, và tra cứu yếu tô văn hóa liên quan đến ca đao — dan ca, phục vụ chính yếu cho việc triển khai đẻ tài. 15 NOI DUNG CHUONG 1. CO SO LY THUYET VA THUC TIEN LIEN QUAN DEN DOI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1.
Mối quan hệ giữa văn học dân gian và văn học viết Văn hoc dan gian và văn học viết có môi tương tác từ xa xưa, trong suốt quá trình phát triển nó không hè tách rời mà tiếp biến, hỗ trợ lẫn nhau. Ta dễ dang bat gặp dau ấn của những van ca dao trong các sáng tác bằng chữ viết, âm hưởng của truyện cô xa xưa trong tư duy người muôn thuở. Những tác phầm van học lớn từ xa xưa như Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Truyện Kiêu của Nguyễn Du và thơ Nôm Hồ Xuân Huong, ba vị đại gia cao sang, tài hoa của thời kỳ trung đại đã không ngừng vận dụng, thể hiện văn học dân gian trong sáng tác của mình.
Ta thấy âm vang lời ca đao. tứ thơ lục bát trong Truyện Kieu, thay ty hao va nang niu ting van thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi có đáng vóc của văn học dân gian, và thấy chất thành ngữ. tục ngữ hay cả truyện cười trong những câu thơ táo bạo, mãnh liệt của Hỗ Xuân Hương. Không dừng lại ở đó, văn học hiện đại đã tạo nên những thời son tráng lệ cũng có dấu ấn của văn học dân gian, và từ đó thé giới của câu ca, lời kế bình dân chưa bao giờ thôi thôn thức thi sĩ đi tìm cái tôi.
Sức ám gợi, vọng vang của tứ thơ ca dao mang đanh thi sĩ của chân quê Nguyễn Binh, có câu hò Hué nao lòng người điên Han Mặc Từ,. và nhiều nha thơ khác cứ vậy mà đến, mà cập bến bờ của văn học dan gian. Vì lẽ đó, mỗi quan hệ văn học dan gian và văn học viết như một sợi dây lâu bên, cứ ngỡ là hai đường song song nhưng thật ra vô cùng tiệm cận, giao nhau trong muôn vàn con chữ. Nói về mối quan hệ này, tác giả Nguyễn Xuân Kính cũng từng khang định: ang 4.
a ° 2 os ˆ ° ` - Â fe “ Trong môi quan hệ hai chiêu giữa văn học dan gian và văn học viet, nói nhự Lê Kinh Khién, “văn học dân gian cho nhiều hơn là nhận. ” 16 (Tran Dinh Sử chủ biên: 2021: 47) Hay nói như Xuân Diệu các nha thơ phải ra công học tập từ ca dao: “Riêng tôi, từ hơn ba chục năm nay tôi đã học. Làm nghề gì, lo nghệ ấy. Làm thơ, mà không nghe, học ca dao từ thuở mới biết khôn, thì, như lời Không Tit: “Không học Kinh Thi lấy gì mà nói? ”, không học ca dao từ nhỏ, thì làm sao cho giỏi được thơ? Nguyễn Du đã di học trường của cô Uy, cô Sa, Trường Lưu nhị nữ, đã trước tiên di học trưởng hát ví của các cô gai phường vai, thì mới hơi thơ Kiéu; Pu-sơ- kin vỡ lòng đã học trường văn học dan gian Nga của bà nhĩ mau.
Nay tôi chỉ kế những ky niềm trên đường Kháng chiến lan trước của mình. Tuổi trên ba mươi, lại mang sẵn ý thức gặp ca dao hay ai đánh rơi thì nhật lấy ngay vẻ mà cất, tôi đã được những cai sung sướng that thú vị của the. 2021: 79) Qua đó, đủ dé thay văn học dan gian luôn có sự ảnh hưởng đến văn học viết, và sự kết hợp của cả hai tạo nên nên văn học dân tộc đặc sắc, đậm đà văn hóa. Dân tộc tinh ấy trước hết được hun đúc và nuôi đưỡng bởi môi trường, nguồn cội của văn học dân gian.
Và thế giới của thơ, của văn xuôi sẽ cực kỳ phong phú nếu vận dụng và thê hiện văn học dân gian: “Ngay từ khi khởi phát, dòng văn học viết dan tộc, trong đó chủ yếu là văn học tự sự. các nhà văn đã lấy các truyện cô dân gian làm nên tảng. Và trong suốt tiễn trình lịch sử của văn học, ké từ 10 thể ky văn học trung dai đến thời kỳ hiện dai, kho tàng truyện dén gian luôn dong một vai trò quan trong trong việc hình thành phát triển các thể loại tự sự văn học. ” (Phạm Thị Tram, 2002: 37) Những chất liệu trong truyện truyền kỳ, chí quái thời trung đại là sự tiếp thu những mảnh vỡ của huyền thoại, truyền thuyết xa xưa, thé hiện ở nhiều phương điện khác nhau 17 trong cac tac pham tự sự trung đại.
Tao nên một nên tảng, luôn kích thích sự sang tạo va vận dụng mới trong các tác phẩm văn học viết. Thé giới ấy luôn tạo nên một sức ám ảnh, và luôn dat dào sức sống “cường ký.” (tức lâu dài, bền vững) trong ngòi bút nhà văn. Có thẻ, những yếu tô văn học dan gian sẽ không còn quá cụ thé nhưng nó vẫn là nguồn mạch cho những sáng tác. ở thời văn học hiện đại.
càng trở nên tái sinh dé ứng dụng vào quá trình phát triển xã hội, đời sóng. Những trang viết sẽ luôn chất chứa linh hồn, mang tinh than văn hóa dân tộc khi nha van nhắc đến những câu ca muôn thuở, câu kế muôn đời dé khắc vào tác phẩm. và đó cũng là cách khắc tác phẩm vào lòng người. Dịnh hướng tiếp cận giá trị văn hóa trong tác phẩm văn học Tiếp cận văn học từ góc nhìn văn hóa, hay tiếp cận giá trị văn hóa trong tác phẩm văn học đã là những công việc thường xuyên trong các nghiên cứu đương đại.
Không có một tác phâm nào có thê độc lập khỏi môi trường sinh thành, khỏi nơi hoài thai ra nó. Vì thế, hiểu biết các giá trị văn hóa được kiến tạo từ tác phẩm văn học chính là tiếp cận tác phẩm ở độ sâu, độ bao quát và gắn kết với nhiều thử tinh hoa. Nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy khang định văn học chính là một thành tô của tông thé văn hóa, vì thé tiếp cận văn học cũng la tiếp cận giá trị văn hóa, hiểu tác phẩm được thé hiện với tất cả ý nghĩa, con chữ của nó theo tình than giải cau trúc, hậu hiện đại với đời sống riêng biệt của tác phẩm văn học tạo khoảng trồng cho độc giá cảm nghiệm, lắp day điều phù hợp và can thiết: “Phê bình hậu hiện đại, vì thé, không chi di tìm nghĩa chủ ý, mà chủ yếu là đi tìm nghĩa kiến tạo. Nghĩa này do người đọc tạo ra, do đó phụ thuộc rất nhiều vào chính người đọc, đúng hơn văn hóa của người đọc.
Mỹ học tiếp nhận coi văn ban chỉ là một bộ khung xương còn day những khoảng trong/ trắng, những câu nói lap lửng, những thách đố. đòi hoi người đọc bằng kinh nghiệm thẩm my va kinh nghiệm nhân sinh của minh lap đây và bồi da đắp thịt cho thành một sinh thé. Thông diễn học đã chuyển trọng tâm phê bình từ phân tích văn bản sang diễn giải văn ban. Người thông điển văn bản phải là người có trình độ văn hỏa sâu rộng và, quan trong hơn, giàu ca tính sáng tạo.
Như vậy, văn hoa đúng hơn là sự trai 18 nghiệm văn hóa, ở người doc có vai trò quan trong trong việc kiên tạo nghĩa mới cho tác phẩm văn học. ” (Đỗ Lai Thúy, 2017: 134) Sự diễn giải ấy là việc tiếp cận giá trị văn hóa trong tác phẩm văn học bằng phương pháp phải nỗ lực khát quát và nhìn thấy được văn hóa từ trải nghiệm và vốn tri thức cá nhân. Tác phẩm văn học không chỉ là những thực thẻ cấu trúc với thi pháp, tự sự mà đã trở nên lỉnh động, màu sac và có da thịt khi được triên khai từ các giá trị văn hóa. Theo đẻ xuất của Đỗ Lai Thúy, cần tiếp cận giá trị văn hóa trong tác phẩm văn học băng phương pháp “nâu người văn hóa ”, vì mỗi một thời đại.
một giai đoạn, một hệ hình đều tạo nên một mẫu người. Đây là phương pháp tiếp cận dựa trên yếu tô con người làm trung tâm, vận hành văn hóa và từ đó mở ra các vẫn đẻ văn hóa. Nhưng đù thé, theo chúng tôi mẫu người văn hóa là nhìn từ phương diện cho người. từ đó nhiều yếu tổ ảnh hưởng bởi tính chi phối cách nhìn, cách nghĩ hơn là bản thân văn hóa nên không may phù hợp với dé tài của chúng tôi.
Theo truyền thống tiếp can, nhiều nhà nghiên cứu tiếp cận văn hóa theo hai phương diện: Vật chat và tinh thần. Tác giả Đỗ Lai Thúy không có nhiều đồng ý với cách phân chia văn hóa vật chất và phi vật chất, hay cũng có thê gọi là tinh than khi tìm hiệu về văn hóa trong tác phẩm văn học. Bởi vì văn hóa vật chat mang tính cụ thẻ, được biểu hiện bởi các công trình kiến trúc dé bị bào mòn theo thời gian. Còn văn hóa phi vật chất có cơ chế lưu truyền và gìn giữ khó khăn hơn, bởi nó không phải là hiện vật thấy, nhìn, sờ ngắm.
Điều này, theo chúng tôi tác giả Đỗ Lai Thủy đã quá tập trung vào văn hóa có tính chất gần với văn minh. mang tính thành tựu nhất thời của mỗi thời đại và sẽ bị thời gian bào mòn.