Chương 1: Một số vấn đề chung - Cơ sở tìm hiểu văn học dân gian ở Phú Lƣơng, Thái Nguyên. Chương 2: Loại hình tự sự dân gian trên vùng đất Phú Lƣơng, Thái Nguyên. Chương 3: Loại hình trữ tình dân gian trên vùng đất Phú Lƣơng, Thái Nguyên. 7 NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG - CƠ SỞ TÌM HIỂU VĂN HỌC DÂN GIAN PHÚ LƢƠNG, THÁI NGUYÊN Phú Lƣơng tự hào là mảnh đất giàu truyền thống văn hóa và là địa danh cách mạng, an toàn khu trong kháng chiến chống thực dân Pháp, cửa ngõ ATK Định Hóa.
Huyện có điều kiện thiên nhiên ƣu đãi, đất đai màu mỡ, nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, có sản phẩm chè xanh chất lƣợng và giá trị cao, là địa phƣơng nổi tiếng với nhiều sản phẩm chè chất lƣợng. Đặc biệt Phú Lƣơng là địa phƣơng giàu bản sắc văn hóa với nhiều di sản văn hóa (có 118 điểm di tích, trong đó 04 di tích cấp quốc gia, 14 di tích cấp tỉnh, 06 di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia). Đến với Phú Lƣơng là đến với những đồi chè xanh mát, du khách sẽ đƣợc đắm mình trong không gian văn hóa đa dạng, giàu bản sắc của đồng bào các dân tộc địa phƣơng, đƣợc trải nghiệm cuộc sống mộc mạc, giản dị của ngƣời dân nơi đây. Ngoài ra, những vị du khách yêu thích văn chƣơng còn đƣợc thƣởng thức nền văn học dân gian vô cùng đặc sắc, mang đậm sắc màu dân tộc.
Và ở chƣơng này, chúng tôi sẽ trình bày những cơ sở lý thuyết và lịch sử - xã hội có liên quan đến đề tài; khái niệm văn học dân gian và diện mạo, hiện trạng của văn học dân gian trên mảnh đất Phú Lƣơng. Từ đó, tạo tiền đề cho sự khai triển hai chƣơng sau. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, dân cƣ, kinh tế - xã hội, văn hóa và truyền thống lịch sử huyện Phú Lƣơng, Thái Nguyên 1. Điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên là một trong những yếu tố ảnh hƣởng mạnh mẽ đến sự tồn tại và phát triển của con ngƣời.
Cũng nhờ vào hoàn cảnh tự nhiên mà các giá trị văn hóa, văn học mới nảy sinh, tồn tại và phát triển. Vị trí địa lý Phú Lƣơng là huyện miền núi, nằm ở vùng phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên. Phía Bắc giáp với huyện Chợ Mới (tỉnh Bắc Kạn); phía Nam và Đông 8 Nam giáp T.P Thái Nguyên; phía Tây giáp huyện Định Hóa; phía Tây Nam giáp huyện Đại Từ; phía Đông giáp huyện Đồng Hỷ. Huyện lỵ đặt tại thị trấn Đu, cách trung tâm T.P Thái Nguyên 22km về phía Bắc.
BẢN ĐỒ ĐỊA CHÍNH HUYỆN PHÚ LƢƠNG (Nguồn: http://phuluong. Địa hình Phú Lƣơng là huyện có địa hình tƣơng đối phức tạp, độ cao trung bình so với mặt biển từ 100 - 400m. Các xã phía Bắc và Tây Bắc có địa hình núi cao, chia cắt phức tạp, tạo ra nhiều khe suối, độ cao trung bình 300 - 400m (độ dốc lớn trên 200). Các xã phía Nam có địa hình bằng phẳng hơn với độ dốc thƣờng dƣới 150 tƣơng đối thuận tiên cho sản xuất nông nghiệp.
Các loại đất phù sa, đất dốc tụ, đất bạc màu, đất đỏ vàng thích hợp cho việc phát triển các loại cây khác nhau chỉ chiếm 23,5% diện tích đất đai toàn huyện; hai loại đất đỏ vàng trên phiến thạch sét và đất nâu đỏ trên đá mácma bazơ và trung tính tƣơng đối phù hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và bố trí sản xuất theo hƣớng nông, lâm kết hợp, chiếm trên 50% diện tích, còn lại là các loại đất khác. Nhìn chung địa hình Phú Lƣơng tƣơng đối phức tạp, nhƣng có nhiều tiềm năng phát triển và giao lƣu kinh tế, văn hoá, xã hội, du lịch với các vùng trong và ngoài tỉnh. Khí hậu Do ảnh hƣởng của vị trí địa lý và cấu trúc địa hình nên đặc trƣng của khí hậu Phú Lƣơng là khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa đông lạnh và hè nắng nóng rõ rệt. Trong mùa đông nhiệt độ xuống thấp, thƣờng xuyên có các đợt gió mùa Đông Bắc hanh khô.
Mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ cao, nhiều khi có mƣa lớn và tập trung. Nhiệt độ trung bình năm 220C, tổng tích nhiệt khoảng 8. nhiệt độ bình quân cao nhất trong mùa nắng đạt khoảng 27,2 0C, bình quân thấp nhất trong mùa đông khoảng 200C; tháng 7 là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất, có năm lên tới 28-290C. Nhiệt độ trung bình thấp nhất là tháng 1, khoảng 15,60C.
Số giờ nắng trong năm là 1.628 giờ, năng lƣợng bức xạ khoảng 115 Kcallo/cm2. Nhƣ vậy chế độ nhiệt của huyện cho phép phát triển tập đoàn cây trồng, vật nuôi đa dạng (nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới), có thể gieo trồng 2 - 3 vụ cây ngắn ngày/năm. Chế độ mƣa ẩm: Phú Lƣơng có lƣợng mƣa trung bình 2. Mƣa thƣờng tập trung vào thời gian từ tháng 4 đến tháng 10, có thể chiếm tới trên 90% tổng lƣợng mƣa cả năm; tháng 7 có lƣợng mƣa lớn nhất, 10 bình quân 410 - 420mm/tháng và có số ngày mƣa 17 - 18 ngày/tháng.
Tháng 12 và tháng 1 là những tháng mƣa ít, lƣợng mƣa khoảng 24 - 25mm/tháng, mỗi tháng chỉ có từ 8 - 10 ngày mƣa. Huyện Phú Lƣơng có 2 hƣớng gió chính là gió Bắc và Đông Bắc: từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, thịnh hành là gió Bắc và gió Đông Bắc, tốc độ gió từ 2 - 4m/s. Gió mùa Đông Bắc tràn về theo đợt, mỗi đợt kéo dài từ 3 đến 5 ngày, tốc độ gió trong những đợt gió mùa Đông Bắc đạt tới cấp 5, cấp 6. Đặc biệt gió mùa Đông Bắc tràn về thƣờng lạnh, giá rét, ảnh hƣởng đến mùa màng, gia súc và sức khỏe con ngƣời.
Nhìn chung, điều kiện khí hậu Phú Lƣơng cho phép phát triển nhiều loại cây trồng và tƣơng đối đa dạng: cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả, trồng rừng hoặc nông, lâm kết hợp. có thể bố trí chuyển đổi cơ cấu cây trồng với các loại cây trồng 1. Tài nguyên, khoáng sản * Tài nguyên đất Theo kết quả tổng hợp trên bản đồ thổ nhƣỡng 1/25.000, trên địa bàn huyện Phú Lƣơng có 13 loại đất chính sau: - Đất phù sa đƣợc bồi: phân bố chủ yếu ven sông Cầu thuộc các xã Phú Đô, Vô Tranh, Tức Tranh. - Đất phù sa không đƣợc bồi: phân bố tập trung ven sông Đu và sông Cầu.
- Đất phù sa ngòi suối: phân bố chủ yếu ở các xã Yên Ninh, Yên Trạch, Động Đạt, Ôn Lƣơng. - Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng: phân bố chủ yếu ở xã Hợp Thành. - Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa: phân bố tập trung ở các xã Phấn Mễ và thị trấn Đu. - Đất dốc tụ: phân bố rải rác ở các xã trong huyện nhƣng tập trung nhiều ở các xã Động Đạt, Hợp Thành, Phấn Mễ, Vô Tranh, Tức Tranh.
- Đất bạc màu: phân bố tập trung ở các xã Yên Đổ, Cổ Lũng. - Đất nâu vàng trên phù sa cổ: phân bố tập trung ở các xã Vô Tranh, Sơn Cẩm, Cổ Lũng, Phấn Mễ và thị trấn Đu. - Đất nâu đỏ trên đá vôi: phân bố ở các xã Yên Ninh, Yên Đổ và Yên Lạc, chủ yếu phân bố ở độ dốc trên 200. 11 - Đất vàng nhạt trên đá cát: phân bố tập trung ở xã Yên Ninh, Động Đạt, Vô Tranh, Tức Tranh và Cổ Lũng.
Loại đất này thƣờng phân bố ở độ dốc 10 - 200 và thƣờng có tầng đất mỏng. - Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét. Đây là loại đất có diện tích lớn nhất so với các loại đất khác của huyện. Loại đất này phân bố tập trung ở các xã phía Bắc huyện, phần lớn đất có độ dốc 15 - 200, đa số diện tích có tầng dày 50 - 70cm, tƣơng đối thích hợp với trồng cây dài ngày và trồng cây nông, lâm kết hợp.
- Đất nâu đỏ trên đá mác ma bazơ và trung tính: phân bố chủ yếu ở khu vực phía Bắc xã Yên Ninh, phía Tây xã Phấn Mễ, Phú Lý, yên Lạc và khu vực thị trấn Đu. Loại đất này thƣờng có độ dốc cao 20 - 250. - Đất đỏ vàng trên đá biến chất: phân bố tập trung ở các xã Yên Ninh, Yên Trạch, Yên Đổ. Loại đất này thƣờng có độ dốc 20 - 250, độ phì khá, thích hợp với trồng cây dài ngày (chè, cây ăn quả).
- Các loại đất phù sa, đất dốc tụ, đất bạc màu, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa thƣờng có độ dốc 0 - 30, rất thuận lợi cho trồng cây hàng năm, nhƣng chỉ chiếm 23,5% diện tích đất đai của huyện. Do đó trong quy hoạch sử dụng đất cần ƣu tiên bố trí sử dụng các loại đất trên vào sản xuất nông nghiệp (chủ yếu là đất cây hàng năm), hạn chế tới mức thấp nhất việc bố trí các loại đất này cho các mục đích phi nông nghiệp. - Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét và đất nâu đỏ trên đá mácma bazơ và trung tính là 2 loại đất tƣơng đối phù hợp với trồng cây công nghiệp dài ngày, cây ăn quả và sản xuất theo hƣớng nông, lâm kết hợp. Diện tích 2 loại đất này chiếm tới 50% diện tích các loại đất của huyện.
* Tài nguyên nƣớc Nguồn nƣớc mặt: Phú Lƣơng có hệ thống sông suối khá dày, đây là nguồn nƣớc mặt với trữ lƣợng lớn, đảm bảo cho nhu cầu sản xuất nông nghiệp của các xã trong toàn huyện. Nƣớc ngọt từ các hồ, đập nƣớc đƣợc dẫn tới các khu sản xuất nông nghiệp nhờ hệ thống kênh mƣơng dẫn nƣớc nội đồng dài 80 km (đã được kiên cố hóa) cung cấp nƣớc tƣới ổn định cho 3.000 ha lúa vụ xuân, 4.000 ha lúa vụ mùa và hàng trăm ha cây rau, màu vụ đông, đồng thời tạo nguồn nƣớc tƣới cho trên 500 ha chè vụ đông. Qua kết quả quan trắc cho thấy chất lƣợng nƣớc sông, hồ còn tốt, các thông số quan trắc đều nằm trong tiêu 12 chuẩn cho phép, ảnh hƣởng của các hoạt động kinh tế - xã hội tới chất lƣợng nƣớc không lớn. Nguồn nƣớc tại các ao, hồ: Phú Lƣơng có các hồ thủy lợi và nuôi trồng thủy sản rất có giá trị nhƣ hồ Ô Rô (Phủ Lý), hồ Đầm ấu, Tuông Lạc (Ôn Lƣơng), hồ Khuân Lân, Phủ Khuôn (Hợp Thành), hồ Núi Mủn (Cổ Lũng), hồ Suối Mạ (Yên Trạch).
Nguồn nƣớc sinh hoạt của Nhân dân thị trấn đƣợc lấy từ nguồn nƣớc ngầm do dân tự khai thác, nguồn cấp nƣớc sạch đô thị đã có kế hoạch xây dựng. Nguồn nƣớc ngầm: Phú Lƣơng có trữ lƣợng nƣớc ngầm khá lớn, chất lƣợng nƣớc khá tốt, đảm bảo cho nhu cầu sinh hoạt của Nhân dân.