Chương 1. NHỮNG GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Vùng đất Nam Bộ 1. Về địa lí Nam Bộ nằm ở phía Nam của nước Việt Nam là một vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng thuộc hạ lưu sông Mê Kông, sông Vàm Cỏ và sông Đồng Nai, tiếp giáp với biển Đông.
Vùng đất Nam Bộ mang đặc điểm chung của thiên nhiên Việt Nam: bán đảo, nhiệt đới, gió mùa. Là một vùng đất mở và động, đa dạng về sinh thái, thiên nhiên vừa ưu đãi lại vừa khắc nghiệt. Vùng đất Nam Bộ có độ phì nhiêu cao nhất trong tất cả các đồng bằng nước ta. Toàn vùng có đến 4.000 kinh rạch, dài tổng cộng 5.700 km [32], với hai hệ thống sông lớn nhất của vùng là hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long.
Hệ thống sông Đồng Nai ở khu vực Đông Nam Bộ có lượng phù sa khá thấp, tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm, nhưng nhờ lòng sông sâu nên đây là nơi tập trung các cảng chính của khu vực như cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái, cảng Hiệp Phước, cảng Phú Mỹ. Hệ thống sông Cửu Long đã đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long mà diện tích lên tới 39. Nam Bộ là nơi gặp gỡ của các tuyến giao thông đường biển quốc tế, Việt Nam với Đông Nam Á, Việt Nam với phương Tây, ngã ba đường Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương. Nam Bộ là nơi gặp gỡ của những điều kiện tự nhiên thuận tiện, gần xích đạo nhưng mùa hè không quá nóng và ẩm như miền Bắc ở sâu trong lục địa, không quá khô và quanh năm không bao giờ bị bão lớn như miền Trung.
Khí hậu Nam Bộ mang tính chất nhiệt đới gió mùa, thời tiết có hai mùa: mùa mưa và mùa nắng. Ở Nam Bộ, từ tháng 5 đến tháng 10 là mùa mưa, những tháng còn lại không mưa gọi là mùa khô nên hầu như nơi đây nóng quanh năm và không có mùa đông. Riêng đồng bằng sông Cửu Long, từ tháng 8 trở đi thường có lũ lụt, ngập khoảng 25% diện tích (Đồng Tháp, An 13 Giang,…) và nhiệt độ trung bình cả năm là 260C. Các ngành kinh tế như nông, lâm, ngư nghiệp, nhất là nông nghiệp trồng lúa nước phát triển rất thuận lợi nhờ đất đai màu mỡ, thời tiết điều hòa.
Bên cạnh phèn chua, nhiễm mặn, ngập úng vào mùa mưa, thiếu nước vào mùa nắng luôn luôn là những thách thức cho vùng đất nơi đây. Hiện nay, vùng đất Nam Bộ có thế mạnh về nông nghiệp, công nghiệp, thương mại - dịch vụ, thủy sản lớn nhất nước ta với 19 tỉnh thành. Vùng đất hơi cao ở vùng phía Đông Bắc, thường được gọi là miền Đông Nam Bộ, độ cao trung bình từ vài chục mét đến khoảng 200 nét trên mực nước biển. Miền Đông Nam Bộ có 6 tỉnh thành là Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Nai và Thành phố Hồ Chí Minh.
Còn miền Tây Nam Bộ có 13 tỉnh thành như: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ và hàng trăm đảo lớn nhỏ, có đường biên giới bộ giáp với Campuchia dài gần 880 km. Dân số toàn vùng Nam Bộ hiện nay có trên 30 triệu người, chiếm hơn 1/3 dân số của cả nước (cả nước trên 80 triệu người), trong đó, người Khmer khoảng 1,3 triệu người, người Hoa trên 600.000 người, người Chăm trên 14.000 người, người Kinh gần 28 triệu người và một số dân tộc khác sinh sống ở vùng này nhưng với số lượng ít. Về lịch sử Tiến trình lịch sử của Nam Bộ khác với những vùng đất khác, nó không phát triển liên tục mà bị đứt quãng, điển hình là trên vùng đất này đã từng có vương quốc Phù Nam cổ xưa với nền văn hóa Óc Eo một thời phát triển rực rỡ. Những gì mà người ta nói về Nam Bộ ngày nay thường chỉ giới hạn trong phạm vi trên dưới ba trăm năm.
Người Việt di dân vào Nam có thể nói bắt đầu khi cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn nổ ra và sau đó là cuộc di dân thực sự vào thời nhà Nguyễn đầu thế kỷ XVIII khi nhà Nguyễn nắm được chính quyền Đàng Trong và kêu gọi những người giàu có vào khai khẩn trên đất Đồng Nai, Gia Định. Trong mấy trăm năm định hình và phát triển, Nam Bộ đã tạo nên cho 14 mình một lịch sử với giá trị văn hóa vật chất và tinh thần vô cùng phong phú, độc đáo và một bản sắc rất riêng so với các vùng miền khác. Cách nay khoảng 4000 năm đến 2500 năm, những cư dân bản địa của văn hóa Đồng Nam từ vùng miền Đông Nam Bộ như Stiêng, Chơ Ro, Mạ. đã di cư xuống đồng bằng sông Cửu Long và định cư ở đó.
Từ thế kỷ I đến thế kỷ thứ VII, hình thành vương quốc Phù Nam, chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo. Từ thế kỷ thứ VII, Phù Nam bị Chân Lạp xâm chiếm sau đó chia thành Lục Chân Lạp (địa phận Campuchia hiện nay) và Thủy Chân Lạp (địa phận Nam Bộ hiện nay). Thủy Chân Lạp hoang vắng từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XIII. Chỉ khoảng thế kỷ XIII, người Khmer mới từ Campuchia đến cư trú rải rác tạo thành những nhóm nhỏ tại Thủy Chân Lạp.
Từ thế kỷ thứ XVI đến XVII, cư dân Việt từ Đàng Trong (sau đó từ miền Bắc, miền Trung) di cư vào lập nghiệp ngày càng đông. Năm 1698, Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Cảnh vào lập phủ Gia Định; Chúa Nguyễn là người bảo hộ cho quá trình khai phá và thiết lập chủ quyền ở Nam Bộ một cách hòa bình hữu nghị. Trên vùng đất Nam Bộ, Chúa Nguyễn đã thi hành chính sách khuyến khích đặc biệt đối với việc khai phá đất hoang, cho phép người dân biến ruộng đất khai hoang được thành sở hữu tư nhân. Trước làn sóng tự phát di cư vào Nam tìm đất sinh sống của đông đảo những người nông dân Thuận - Quảng, Chúa Nguyễn cho người đứng ra tổ chức các cuộc di cư này và lập thành các xã, thôn, phường, ấp của người Việt.
Chúa Nguyễn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những địa chủ giàu có ở Thuận - Quảng đem tôi tớ và chiêu mộ nông dân lưu vong vào đây khai hoang lập ấp, chính sách này được thực thi lâu dài và nhất quán như một phương thức khai hoang chủ yếu ở Nam Bộ. Lực lượng khai hoang chủ yếu là lưu dân người Việt và một bộ phận những người dân gốc Chăm Pa, Chân Lạp. Ngoài ra, một số lính đồn trú, một số người Trung Quốc, người dân tộc thiểu số khác cũng được sử dụng vào việc khai khẩn và canh tác. 15 Trải qua quá trình dựng nước và giữ nước lâu dài của dân tộc, lãnh thổ và biên giới của Việt Nam ngày càng được củng cố và từ lâu đã trở thành thực thể thống nhất từ Bắc chí Nam, trong đó có vùng đất Nam Bộ.
Với truyền thống kiên cường, bất khuất và tinh thần lao động cần cù của cả dân tộc, các thế hệ người Việt đã viết nên những trang sử hào hùng trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển vùng đất Nam bộ, góp phần làm rạng rỡ non sông, đất nước Việt Nam. Trong cuốn sách Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam, các tác giả đã nghiên cứu lịch sử Nam Bộ bắt đầu từ văn hóa Óc Eo và nước Phù Nam, nghĩa là từ khi nhà nước đầu tiên ra đời trên vùng đất này vào đầu Công nguyên. Cuốn sách đã trình bày quá trình nước Phù Nam suy sụp, vùng đất Nam Bộ thuộc lãnh thổ nước Chân Lạp từ thế kỷ VII cho đến thế kỷ XVI, rồi sự xuất hiện những nông dân người Việt, người Hoa vào khai phá lập nghiệp từ thế kỷ XVII. Từ đây, cư dân bản địa người Khmer, người Chăm và một số tộc người thiểu số khác cùng người Việt, người Hoa mở rộng công cuộc khẩn hoang, phát triển kinh tế.
Ở thế kỷ XIII, cư dân ở vùng đất Nam Bộ còn thưa thớt. Chu Đạt Quan, một người Trung Quốc có dịp đến Chân Lạp vào năm 1296 - 1297, đã mô tả vùng đất này như sau: Từ chỗ vào Chân Bồ trở đi, hầu hết là rừng thấp cây rậm. Sông dài cảng rộng, kéo dài mấy trăm dặm, cổ thụ rậm rạp, mây leo um tùm, tiếng chim muông chen lẫn nhau ở trong đó. Đến nửa cảng mới thấy ruộng đồng rộng rãi, tuyệt không có một tấc cây.
Nhìn xa chỉ thấy cây lúa rờn rờn mà thôi. Trâu rừng họp nhau thành từng đàn trăm ngàn con, tụ tập ở đấy. Lại có giồng đất đầy tre dài dằng dặc mấy trăm dặm. Loại tre đó, đốt có gai, măng rất đắng [22, 25].
Trong suốt quá trình lịch sử đó, cộng đồng cư dân các dân tộc trên đất Nam Bộ ngày càng gắn bó với nhau trong vận mệnh chung của quê hương và đất nước với nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ vùng đất Nam Bộ. Trên cơ sở thực tế lịch sử và các văn bản pháp lý mang tính quốc tế, Nam Bộ là một bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam. Cuốn sách 16 dành một phần thích đáng trình bày về cuộc sống của cộng đồng cư dân Nam Bộ và mối quan hệ đoàn kết, giao thoa văn hóa mật thiết giữa các dân tộc Việt, Khmer, Hoa, Chăm cùng các dân tộc ít người khác và những nét đặc trưng của không gian lịch sử, văn hóa Nam Bộ. Các tác giả nhấn mạnh truyền thống đoàn kết dân tộc của cộng đồng các dân tộc ở Nam Bộ trong lao động sáng tạo, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cũng như trong đấu tranh kiên cường, bất khuất bảo vệ độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc Việt Nam.
Có thể khẳng định rằng chân lý Nam Bộ là đất Việt Nam [22, 51], Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi [22, 59] đã được làm sáng tỏ trong cuốn sách Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam do Hội Khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với Nhà xuất bản Thế giới xuất bản, phát hành cuối năm 2006. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858, đánh chiếm Nam Bộ, người dân Nam Bộ đã đoàn kết kháng chiến chống ngoại xâm.