Chương I: Cơ sở lý luận Chương II: Kết trị danh từ chung trong tiếng Anh và tiếng Việt – Những tương đồng và dị biệt Chương III: Kết trị biểu hiện nghĩa của danh từ chỉ các bộ phận trên khuôn mặt người trong tiếng Anh và tiếng Việt Cuối cùng là danh mục các tài liệu tham khảo tiếng Anh và tiếng Việt đã được sử dụng như là nguồn trích dẫn trong luận văn. 11 z PHẦN B: NỘI DUNG Chƣơng I: CƠ SỞ LÝ LUẬN- MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1.1 Danh từ chung tiếng Anh và tiếng Việt 1.1 Khái niệm danh từ Trong tiếng Anh danh từ (Noun) được định nghĩa là “từ dùng để chỉ người hoặc sự vật, danh từ chỉ tên người (John), chỉ nghề nghiệp (doctor- bác sĩ), chỉ đồ vật (table- cái bàn), chỉ địa điểm, nơi chốn (London), chỉ phẩm chất (courage- dũng cảm), chỉ một sự việc, một trạng thái, một cảm xúc (laughter- tiếng cười). Danh từ dùng để xác định tên của người, vật, sự vật v.34) Theo Đinh Văn Đức (2001, tr.57), danh từ tiếng Việt được định nghĩa là “từ loại mang ý nghĩa “sự vật tính”, các danh từ gắn với tên gọi về khái niệm về sự vật như đồ đặc (bàn, ghế, sách.) sự vật (núi, sông, đất nước) người (học sinh, hoa hồng) động vật (gà, trâu, bò…) khái niệm trừu tượng (khoa học, kinh tế, phương pháp)”… Còn rất nhiều định nghĩa cho danh từ và đều có nội dung tương tự. Định nghĩa được trích dẫn sau đây có thể được xem như là một khái quát hóa chung nhất để trả lời cho câu hỏi danh từ là gì: “Về mặt ý nghĩa, danh từ là những từ có ý nghĩa khái quát chỉ sự vật và các khái niệm trừu tượng” (Hữu Quỳnh, 1980, tr.55) Một điều đáng quan tâm khi nói về danh từ là, để mô tả đầy đủ hơn các bình diện từ vựng học, cú pháp học và đặc biệt là ngữ nghĩa học, danh từ thường được đặt đặt trong danh ngữ để xem xét.
Danh ngữ là một tổ hợp, một cụm từ mà trong đó có danh từ làm trung tâm (chính tố). Xung quanh danh từ trung tâm là những thành tố phụ, đa dạng về thể loại, bổ nghĩa cho danh từ trung tâm, theo quan hệ một chiều – chính-phụ. Về mặt cú pháp, danh 12 z từ có thể kết hợp được với nhiều từ loại khác nhau: tính từ, động từ, số từ, loại từ … Dưới góc độ ngôn ngữ tri nhận, về phương diện ngữ nghĩa, danh từ đóng nhiều vai nghĩa khác nhau, trong mối liên quan với các thành tố xung quanh trong cụm từ hoặc trong câu. Xét ví dụ sau: Cậu bé đáng yêu đang ngủ kia học ngoại ngữ qua mạng.
Xét hẹp trong cụm từ cậu bé đáng yêu kia thì danh từ cậu bé được hạn định là cậu bé nào bởi hai cụm từ đáng yêu (tính từ) và đang ngủ kia (cụm động từ) nhưng với đáng yêu thì cậu bé là thụ thể còn đối với đang ngủ kia thì cậu bé là tác thể gây ra hành động. Xét trong phạm vi câu thì cậu bé là tác thể, còn danh từ ngoại ngữ là thụ thể của động từ học. Trong khi đó, danh từ mạng đi với giới từ qua lại tạo thành yếu tố công cụ của hành động học. Tóm lại, khả năng kết hợp cú pháp rộng rãi trong câu, đóng nhiều vai nghĩa khác nhau là điểm nổi bật của danh từ.2 Danh từ chung tiếng Anh và tiếng Việt Danh từ chung là danh từ dùng để định danh, gọi tên các lớp sự vật thuộc cùng một loại, danh từ riêng là danh từ dùng để chỉ tên riêng cho người, vật, địa điểm… (Từ điển Ngôn Ngữ học, 1985) Danh từ chung tiếng Anh và tiếng Việt có một sổ điểm nổi bật giống nhau và khác nhau.
Những điểm giống nhau nằm ở việc phân loại trên cơ sở ngữ nghĩa. Về ngữ nghĩa, danh từ đều được phân thành từng cặp theo kiểu nhị phân luận: - Danh từ cụ thể và danh từ trừu tượng - Danh từ đếm được và danh từ không đếm được - Danh từ tập hợp và danh từ đơn lẻ Điểm khác biệt đáng chú ý nhất giữa danh từ tiếng Anh và danh từ tiếng Việt là danh từ tiếng Anh có hệ hình (paradigm) diễn đạt các phạm trù 13 z ngữ pháp (grammatical category) và đặc điểm tạo từ (wordformation) mang tính chất hình vị học (morphology). Để có thể mô tả chi tiết về những vấn đề này phải có những chuyên khảo riêng. Dưới đây là một số khía cạnh cơ bản thường thấy nhất.
- Về hệ hình, danh từ tiếng Anh thay đổi hình thái tùy thuộc vào các phạm trù ngữ pháp mà nó được sử dụng. Các phạm trù ngữ pháp có liên quan tới hệ hình của danh từ tiếng Anh là: phạm trù số (number), phạm trù cách (case) và phạm trù giống (gender). Đáng quan tâm hơn cả là phạm trù số. + Ở các phạm trù cách, chỉ có sở hữu cách làm biến đổi dạng của danh từ phụ tố và diễn đạt mối quan hệ sở hữu của danh từ phụ tố đối với danh từ chính tố.
Hình vị ngữ pháp (gramatical morpheme) „s được đặt vào sau danh từ phụ tố, mà thường là những danh từ chỉ người hoặc con vật, ví dụ: Teacher’s book (sách của thầy giáo) hay sheep’s eyes (mắt của con cừu). + Phạm trù giống rất ít được sử dụng với ý nghĩa là phạm trù ngữ pháp, tức là dùng hình vị ngữ pháp (gramatical morpheme) để tạo ra nghĩa đực hay cái trong tiếng Anh. Chỉ có một vài danh từ được dùng với hậu tố (suffix) ess để biến danh từ giống đực thành giống cái như actor - actoress (nam- nữ diễn viên), hay waiter - waiteress (nam- nữ bồi bàn), v.v… Để phân biệt giới tính, cụ thể là nữ giới, đối với danh từ chỉ người, trong tiếng Anh thường dùng từ ghép như woman teacher (cô giáo). Còn đối với danh từ chỉ loài vật thì thường dùng hai từ khác nhau như cock (gà trống) - hen (gà mái), ox (bò đực) – cow (bò cái), v.
Trong tiếng Việt, để phân biệt giới tính người, danh từ thường đi với các từ thể loại (ông - bà, anh- chị …): ông quản gia – bà thợ may, hoặc dùng tính từ đực hoặc cái, đối với loài vật: dê cái- dê đực, lợn cái - lợn đực. 14 z Phạm trù số của danh từ giữa Tiếng Anh và Tiếng Việt rất khác biệt.Trong tiếng Việt phân biệt số ít số nhiều của danh từ thuộc phạm trù ngữ nghĩa, không liên quan đến hình thái của danh từ như một tay – hai tay. Trong Tiếng Anh, số là một phạm trù ngữ pháp. Hậu tố -s, một hình vị ngữ pháp (gramatical morpheme), thường được sử dụng để chỉ số nhiều, ví dụ như book – books.
Tất nhiên, như chúng ta biết, còn có rất nhiều ngoại lệ, ở đó hậu tố này không sử dụng, ví dụ như a child – children (đứa trẻ - những đứa trẻ), this ox - these oxen (con bò này – những con bò này), thậm chí còn có nhiều trường hợp không sử dụng bất cứ hình vị phụ tố nào. Phạm trù số danh từ tiếng Anh được phân loại khá phức tạp thành các nhóm và tiểu nhóm, như sơ bộ được mô tả dưới đây: a) Có cả hình thái số ít và số nhiều (Singular – plural) 1. b) Không sử dụng hình vị tạo số nhiều như this sheep (con cừu này) – these sheep (những con cừu này). Nhóm 2 bao gồm những danh từ không có khả năng chuyển đổi số và được chia thành 2 phân nhóm: a) Luôn luôn số ít: money (tiền), advice (lời 15 z khuyên).
b) Luôn luôn ở dạng số nhiều như cattle (gia súc), the rich (những người giàu). - Về phương diện hình thái học thì cả tiếng Anh và tiếng Việt đều có danh từ đơn và danh từ ghép. Danh từ đơn được cấu tạo bởi một hình vị gốc (root morpheme) như case (tủ), book (sách), còn danh từ ghép thì có ít nhất là hai hình vị gốc như case book (tủ sách). Nhưng trong Tiếng Anh còn có danh từ phái sinh (derived noun) được cấu tạo bằng một phương pháp tạo từ (word-formation) rất thông dụng là dùng hậu tố (suffix).
Hậu tố là một loại hình vị tạo từ (derivational morpheme) đặt sau hình vị gốc. Để tạo danh từ, có nhiều hậu tố khác nhau như -ion: action (hành động), -ity: activity (hoạt động),-ing: learning (việc học). Trong tiếng Việt chỉ dùng từ chỉ loại (cái, sự, tính…) để biến một từ thuộc từ loại khác thành danh từ như khó – cái khó, học – việc học, khả thi – tính khả thi … Tóm lại, những khác biệt nổi bật của danh từ giữa hai thứ tiếng Anh – Việt là ở bình diện phạm trù ngữ pháp học và hình thái học.2 Kết trị danh từ - Khái niệm chung Như trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại” (Đinh Văn Đức, 2001) đã nêu, khi danh từ được xem xét ở bình diện vai trò từ loại, thì trong bất kì ngôn ngữ nào, đối lập danh – động cũng luôn là trung tâm. Danh từ là từ loại bình đẳng với động từ.
Từ đó, khái niệm ngữ trị (valency), vốn là một khái niệm thuộc về cú pháp của động từ vị ngữ lý giải các quan hệ thành tố cú pháp, được mở rộng tới từ loại này là “Ngữ trị của danh từ là toàn bộ giá trị ngữ pháp mà từ loại này có được từ các kết trị hiện hữu, thường xuyên và các diễn trị mà nó có ở trong câu từ các vai diễn mà danh từ thực hiện”. Như vậy, kết trị của danh từ là một bộ phận hợp thành, cùng với diễn trị tạo 16 z nên ngữ trị của nó. Nếu như diễn trị của danh từ được xác định bởi các “vai diễn” của nó trên “sàn diễn” ngữ nghĩa của câu thì kết trị của danh từ lại là giá trị ngữ pháp ngữ nghĩa của nó có được trong mối kết hợp với các thành tố xung quanh. Kết trị của danh từ được thể hiện chi tiết trong phạm vi danh ngữ.
Trong cấu trúc đầy đủ của một danh ngữ, các vị trí phụ tố xung quanh, đứng trước và sau danh từ trung tâm, kết hợp với danh từ trung tâm tạo ra một loại giá trị mà ta sẽ gọi là kết trị. Cũng trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại” (Đinh Văn Đức, 2001) đã chỉ rõ: Kết trị (compositional value) không phải là toàn bộ ngữ trị (valence) của danh từ, nó là bộ phận giá trị có được từ những kết hợp thường xuyên, tiềm tàng, lặp lại ở mỗi danh từ. Mối quan hệ thường trực đó, hiện diện trong cấu trúc danh ngữ dưới dạng các quan hệ phân bố ngữ pháp và quan hệ nghĩa của các vị trí ở trước và sau danh từ.