Tổng quan nghiên cứu

Tỉnh Hải Dương là một trong những cái nôi văn hóa lâu đời tại trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, sở hữu hệ thống di sản phong phú với 1.089 di tích lịch sử văn hóa, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt, 140 di tích cấp quốc gia và 62 di tích cấp tỉnh. Nổi bật trên vùng đất khoa bảng Nam Sách là khu di tích đền thờ Mạc Đĩnh Chi tại thôn Long Động, xã Nam Tân, đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 26 tháng 6 năm 1995. Danh nhân Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên năm Giáp Thìn 1304 dưới triều vua Trần Anh Tông, giữ chức Tả Bộc Xạ và đi sứ nhà Nguyên năm 1308, được vinh danh là Lưỡng quốc Trạng nguyên.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là khám phá cấu trúc không gian lễ hội đền thờ Mạc Đĩnh Chi như một không gian tương tác cộng đồng đa chiều, vượt ra khỏi khuôn khổ của một nghi lễ tín ngưỡng thông thường. Mục tiêu cụ thể bao gồm: khảo tả diện mạo quần thể di tích, phân tích diễn trình lễ hội truyền thống, giải mã các mối quan hệ tương tác xã hội giữa làng xã và dòng họ, đồng thời đánh giá sự chuyển biến của lễ hội trong bối cảnh đương đại.

Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại xã Nam Tân có diện tích 6,089 km2 với 5 thôn và quy mô dân số 4.488 người, trọng tâm là làng Long Động cùng các di tích phụ cận như Điện Sùng Đức và Lăng Quan Trạng. Trục thời gian khảo sát thực địa được triển khai từ năm 2015 đến năm 2016, kết hợp nghiên cứu lịch sử từ thế kỷ XIV đến nay. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để quản lý lễ hội, bảo tồn không gian di tích quy hoạch 22.000 m2, củng cố khối đại đoàn kết địa phương và phát triển du lịch văn hóa bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết văn hóa học hiện đại nhằm tiếp cận toàn diện đối tượng nghiên cứu. Trọng tâm là Lý thuyết không gian văn hóa và không gian sống của Matthews (2003), xem xét không gian không chỉ ở khía cạnh vật chất tĩnh tại mà là môi trường sống động nơi các hành vi xã hội diễn ra. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp quan điểm về không gian thiêng và không gian phàm của Phạm Quỳnh Phương (2010), giải thích cơ chế con người thánh hóa không gian di tích để tạo điểm kết nối tâm linh giữa thế giới trần tục và thế giới thần linh. Ngoài ra, lý thuyết chức năng và cố kết cộng đồng của các học giả như Trần Quốc Vượng và Ngô Đức Thịnh được sử dụng để phân tích vai trò gắn kết xã hội của lễ hội làng quê Bắc Bộ.

Hệ thống 4 khái niệm then chốt được xây dựng chuẩn xác gồm: Không gian tương tác cộng đồng (môi trường giao tiếp, chia sẻ trách nhiệm và tái tạo quan hệ xã hội), Không gian thiêng (khu vực thờ tự tôn nghiêm chứa đựng tính biểu tượng tôn giáo), Cấu trúc lễ hội cổ truyền (sự kết hợp giữa phần lễ trang nghiêm và phần hội sinh hoạt cộng đồng), và Cố kết dòng tộc (mối liên kết huyết thống và ý thức cội nguồn giữa các thế hệ).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm tư liệu Hán Nôm sơ cấp như văn bia khắc năm 1865 (năm Tự Đức thứ 18), bản Hợp biên thế phả họ Mạc, hồ sơ khoa học xếp hạng di tích quốc gia năm 1995, cùng các văn bản quản lý nhà nước như Quyết định số 3867/QĐ-UBND năm 2009 và Quyết định số 1563/QĐ-UBND năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương.

Phương pháp điền dã dân tộc học được thực hiện thông qua việc quan sát tham dự trực tiếp lễ hội vào tháng 2 âm lịch các năm 2015 và 2016. Tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu với cỡ mẫu gồm 10 đối tượng đại diện, bao gồm: 2 cán bộ quản lý văn hóa xã Nam Tân, 3 đại diện Hội đồng Mạc tộc địa phương, 3 người cao tuổi tại thôn Long Động và 2 du khách thập phương. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn nhằm thu thập thông tin định tính xác thực, đảm bảo nguyên tắc bảo mật danh tính người cung cấp thông tin.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích liên ngành giữa văn hóa học, sử học và xã hội học là nhằm giải mã các tầng ý nghĩa biểu tượng của nghi lễ, phân tích sự tương tác giữa các chủ thể văn hóa và đánh giá chính xác tác động kinh tế - xã hội của di tích đối với cộng đồng sở tại.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, không gian di tích mang tính liên hoàn và cấu trúc chặt chẽ với 3 bộ phận trọng yếu. Trung tâm là đền Long Động tọa lạc trên diện tích quy hoạch 4.180 m2 (chiếm 18,97% tổng diện tích khu di tích 22.000 m2), kết nối với phế tích Điện Sùng Đức cách 300 m về phía đông bắc (gò Mã Thảo rộng hơn 100 m2) và Lăng Quan Trạng cách 500 m về phía nam (khuôn viên 2.880 m2 với 3 ngôi mộ quy mô 5,3 m x 3,3 m x 1 m xây dựng năm 1993). Trục không gian này tái hiện toàn vẹn lịch sử khởi nghiệp và phát tích của dòng họ Mạc từ thời Lý - Trần đến thế kỷ XVI.

Thứ hai, có sự chuyển biến rõ nét trong cấu trúc tổ chức lễ hội giữa truyền thống và đương đại. Trước năm 1945, lễ hội kéo dài 7 ngày (từ mùng 9 đến rằm tháng 2 âm lịch) do 4 giáp Đông, Tây, Nam, Bắc tự đảm nhiệm kinh phí và nhân lực. Từ năm 2009, thời gian tổ chức được chuẩn hóa còn 3 ngày (từ mùng 9 đến 11 tháng 2 âm lịch, chính hội ngày mùng 10), giảm 57% thời gian nhưng chuyên nghiệp hóa thông qua 5 tiểu ban chuyên trách của chính quyền địa phương. Lễ hội được định kỳ tổ chức quy mô lớn 5 năm một lần bởi Ủy ban nhân dân xã Nam Tân vào các năm chẵn, các năm còn lại do ban quản lý thôn phụ trách.

Thứ ba, không gian lễ hội tạo lập mạng lưới tương tác xã hội đa tầng bậc. Lễ hội thu hút sự tham gia trực tiếp của 279 hộ dân thôn Long Động (953 nhân khẩu), kết nối 5 thôn trong toàn xã Nam Tân và mở rộng đến đại diện hơn 50 chi họ gốc Mạc trên toàn quốc. Đội ngũ tham gia thực hành nghi lễ truyền thống được phân công cụ thể gồm 27 tráng đinh rước cờ ngũ hành, 16 người rước kiệu bát cống, 12 người dẫn ngựa bạch, cùng các ban bồi tế, đương cai, thủ từ.

Thảo luận kết quả

Sự biến đổi của không gian lễ hội bắt nguồn trực tiếp từ điều kiện kinh tế - xã hội địa phương. Năm 2014, tỷ lệ hộ khá và trung bình tại xã Nam Tân đạt 92%, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 7,8%, thu nhập bình quân đạt 9,5 triệu đồng/người/năm. Đời sống vật chất cải thiện tạo nguồn lực xã hội hóa mạnh mẽ để trùng tu di tích theo Quyết định số 1665/QĐ-UBND năm 2013, đồng thời thúc đẩy nhu cầu tìm về cội nguồn tâm linh.

Cấu trúc phân bổ không gian khu di tích được thể hiện rõ nét qua bảng cơ cấu sử dụng đất: đất đền chính chiếm 18,97%, đất nhà tưởng niệm Mạc Thị Bưởi chiếm 7,21% (1.589 m2), đất công viên cây xanh và đường dạo chiếm 26,76% (5.895 m2), đất quảng trường chiếm 17,37% (3.828 m2), đất mặt nước và hồ cảnh quan chiếm 19,24% (4.240 m2), và vùng bảo vệ II chiếm 9,24% (2.032 m2). Dữ liệu này phản ánh sự cân đối hài hòa giữa không gian thiêng thờ tự và không gian sinh hoạt công cộng.

So sánh với các nghiên cứu lễ hội vùng đồng bằng sông Hồng của Viện Nghiên cứu Văn hóa, lễ hội đền Mạc Đĩnh Chi thể hiện đặc trưng kép độc đáo: vừa là lễ hội Thành hoàng làng che chở cho cư dân nông nghiệp, vừa là ngày hội tôn vinh truyền thống hiếu học của danh nhân khoa bảng tầm vóc quốc gia. Sự hòa quyện giữa phép vua và lệ làng được minh chứng qua việc bài trí tượng thờ trong hậu cung, nơi Mạc Đĩnh Chi ngồi vị trí chính giữa trang trọng nhưng bệ tượng được đặt thấp hơn một chút so với thủy tổ Mạc Hiển Tích.

Đề xuất và khuyến nghị

Thực hiện quy hoạch tổng thể và hoàn thiện cơ sở hạ tầng khu di tích. Ủy ban nhân dân huyện Nam Sách phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Nam Tân tập trung giải phóng mặt bằng và hoàn thiện 100% các hạng mục phụ trợ trên tổng diện tích 22.000 m2 theo phê duyệt của tỉnh. Thời gian thực hiện từ năm 2026 đến năm 2028, đảm bảo kết nối đồng bộ tuyến đường giao thông liên xã và bãi đỗ xe đạt chuẩn phục vụ khách hành hương.

Chuẩn hóa kịch bản nghi lễ và phục dựng các trò diễn dân gian truyền thống. Ban Quản lý di tích xã Nam Tân chủ trì, phối hợp với Hội đồng Mạc tộc khôi phục đầy đủ các nghi thức cổ truyền như lễ rước nước sông Kinh Thầy, lễ tế tam sinh, diễn xướng hát chèo và các trò chơi dân gian như cờ tướng, đập niêu, thi viết chữ đẹp. Mục tiêu nâng cao tỷ lệ hài lòng của du khách đạt trên 85% trong các kỳ lễ hội giai đoạn 2026 - 2030.

Đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển du lịch di sản bền vững. Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Nam Sách cùng tổ chức Đoàn thanh niên tiến hành số hóa 3D toàn bộ không gian di tích, dịch thuật và lập mã định danh cho tấm bia đá năm 1865 ghi danh 16 vị đạt quan và hệ thống cổ vật thời Lê - Nguyễn. Mục tiêu tăng trưởng lượng khách du lịch đạt 25% đến 30% mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2030, kết nối đền Long Động vào tuyến du lịch Côn Sơn - Kiếp Bạc - Chu Văn An.

Thành lập Quỹ khuyến học Mạc Đĩnh Chi và xây dựng quy chế quản lý tài chính minh bạch. Hội đồng Mạc tộc Việt Nam và Ủy ban nhân dân xã Nam Tân ban hành quy chế quản lý nguồn tiền công đức công khai 100% trên bảng tin điện tử, trích tối thiểu 20% nguồn thu hàng năm để trao học bổng cho ít nhất 100 học sinh, sinh viên nghèo vượt khó đạt thành tích cao tại địa phương từ năm 2026 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà nghiên cứu văn hóa học, nhân học và lịch sử: Tài liệu cung cấp góc nhìn lý thuyết mới về không gian tương tác cộng đồng, khung phân tích không gian thiêng và hệ thống dữ liệu điền dã dân tộc học phong phú về văn hóa xứ Đông thế kỷ XIV - XXI.

Cán bộ quản lý văn hóa và chính quyền địa phương: Cung cấp bài học thực tiễn về phân cấp quản lý lễ hội cấp xã (mô hình 5 năm một lần), phương án phối hợp 5 tiểu ban tổ chức sự kiện và kinh nghiệm xử lý mâu thuẫn lợi ích giữa các dòng họ trong làng xã.

Ban quản lý di tích và Hội đồng các dòng tộc: Là cẩm nang tham khảo giá trị về phương pháp huy động nguồn lực xã hội hóa, cách thức duy trì sợi dây liên kết huyết thống giữa hơn 50 chi họ di duệ và quy trình bảo tồn di vật Hán Nôm cổ kính.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành khoa học xã hội: Tài liệu là mẫu hình nghiên cứu chuẩn mực về phương pháp luận điền dã liên ngành, kỹ thuật thiết kế bảng hỏi phỏng vấn sâu và cách xử lý số liệu quy hoạch không gian di sản.

Câu hỏi thường gặp

Lễ hội đền thờ Mạc Đĩnh Chi diễn ra vào thời gian nào và có quy mô ra sao? Lễ hội được tổ chức thường niên trong 3 ngày từ ngày mùng 9 đến ngày 11 tháng 2 âm lịch, chính hội là ngày mùng 10 tháng 2 (ngày mất của Mạc Đĩnh Chi). Cứ 5 năm một lần vào các năm chẵn, lễ hội do Ủy ban nhân dân xã Nam Tân chủ trì tổ chức quy mô lớn với sự tham gia của hàng nghìn con cháu họ Mạc và du khách thập phương.

Quần thể di tích đền Mạc Đĩnh Chi hiện nay bao gồm những công trình nào? Khu di tích gồm 3 khu vực chính trong bán kính 500 m: Đền thờ chính Long Động rộng 4.180 m2 có kiến trúc chữ Đinh thời Nguyễn, phế tích Điện Sùng Đức rộng hơn 100 m2 nơi bờ sông Kinh Thầy, và Lăng Quan Trạng rộng 2.880 m2 gồm 3 ngôi mộ danh nhân họ Mạc được tôn tạo kiên cố.

Giá trị lịch sử nổi bật của văn bia năm 1865 lưu giữ tại đền là gì? Tấm bia đá 8 mái cao 2,5 m lập vào mùa xuân năm Tự Đức thứ 18 ghi lại sự nghiệp của 3 vị danh nho: Mạc Hiển Tích (Thủ khoa năm 1086), Mạc Kiến Quan (Tiến sĩ năm 1089), Mạc Đĩnh Chi (Trạng nguyên năm 1304) cùng danh sách 16 vị Đạt quan thành đạt của làng Long Động.

Tại sao tượng Mạc Đĩnh Chi được đặt giữa nhưng bệ thờ lại thấp hơn Mạc Hiển Tích? Đây là sự kết hợp tinh tế giữa quy tắc triều đình trọng tước (Mạc Đĩnh Chi đỗ Trạng nguyên, giữ chức Tể tướng nên ngồi giữa) và hương đảng trọng xỉ (Mạc Hiển Tích là bậc cụ tổ tiền bối nên bệ tượng được xây cao hơn một chút), phản ánh sự dung hòa văn hóa làng xã sâu sắc.

Dòng họ Mạc đóng vai trò như thế nào trong công tác bảo tồn di tích hiện nay? Hội đồng Mạc tộc Việt Nam và con cháu họ Mạc tại thôn Long Động đóng vai trò nòng cốt trong Ban khánh tiết, trực tiếp đóng góp hơn 80% kinh phí xã hội hóa tu bổ công trình, tổ chức lễ hội và duy trì quỹ khuyến học vinh danh truyền thống hiếu học quê hương.

Kết luận

Luận văn đã đạt được những kết quả nghiên cứu khoa học nổi bật thông qua 5 nội dung chính:

  • Khái quát toàn diện lịch sử cuộc đời, sự nghiệp ngoại giao xuất chúng của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1304) và vùng đất cổ Long Động, Nam Sách.
  • Vận dụng sáng tạo lý thuyết không gian văn hóa để phân tích sự tương tác cộng đồng sống động qua các mối quan hệ làng xã, dòng họ và chính quyền địa phương.
  • Khảo tả chi tiết hiện trạng quy hoạch 22.000 m2 di tích và hệ thống hiện vật quý giá từ thời Lê, Nguyễn còn được lưu giữ nguyên vẹn.
  • Đánh giá sự chuyển đổi cấu trúc lễ hội từ quy mô 7 ngày truyền thống sang mô hình 3 ngày hiện đại hóa, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị văn hóa cơ sở.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính khả thi cao nhằm gắn kết bảo tồn di sản với phát triển du lịch và khuyến học bền vững.

Đóng góp lớn nhất của công trình là khẳng định giá trị của lễ hội truyền thống như một thiết chế văn hóa cố kết cộng đồng vững chắc trong thời kỳ hội nhập. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2026 - 2030 đòi hỏi sự chung tay của các nhà khoa học, nhà quản lý và cộng đồng dòng tộc để tiếp tục số hóa di sản, đưa đền Mạc Đĩnh Chi trở thành điểm sáng trên bản đồ du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh Hải Dương. Kính mời quý độc giả, các nhà nghiên cứu và học viên quan tâm đón đọc toàn văn công trình nghiên cứu để tiếp cận trọn vẹn kho tàng tư liệu quý giá này.