phần mở đầu, 3 chương và phần kết luận. Tổng quan về vùng đất Long Động - Nam Tân. Không gian Lễ hội đền thờ Mạc Đĩnh Chi. Lễ hội đền Mạc Đĩnh Chi trong đời sống cộng đồng Ngoài ra luận văn còn có thêm phần phụ lục, phần tài liệu tham khảo mà tác giả sử dụng trong quá trình hoàn thành luận văn.
7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. TỔNG QUAN VỀ VÙNG ĐẤT LONG ĐỘNG - NAM TÂN 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Vùng đất Long Động (Lũng Động) xưa, nay là thôn Long Động thuộc xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Đây là một vùng đất cổ thuộc miền văn hóa xứ Đông giàu truyền thống.
Nam Tân là một trong 18 xã của huyện Nam Sách, có diện tích 6,089 km2, dân số tính đến năm 2005 là 4. Từ huyện lỵ Nam Sách, theo đường quốc lộ 183 đến Thanh Quang, rẽ trái đi chừng 2 km thì đến trung tâm xã Nam Tân. Xã Nam Tân nằm ven con sông Kinh Thày, ba mặt của xã đều giáp sông - phía bắc, đông bắc và đông. Phía Tây giáp các thôn Ngô Đồng và Trần Xá thuộc xã Nam Hưng.
Phía Nam và Tây Nam giáp Thôn Tề và Thôn Đống thuộc xã Hợp Tiến. Hiện nay, xã Nam Tân được chia thành 05 thôn, bao gồm: Bảng 1. Các thôn trong xã Nam Tân, Nam Sách, Hải Dương Số TT Tên thôn Tên chữ Tên Nôm Số hộ nhân khẩu 1 Thôn Đột Hạ Đột Lĩnh Đột 237 881 2 Thôn Đột Thượng Đột Lĩnh Đột 233 797 3 Thôn Long Động Lũng Động Sách 279 953 4 Thôn Quảng Tân Quảng Tân Quảng 342 1214 5 Thôn Trung Hà Trung Hà 176 643 (Nguồn: Theo Dư địa chí Hải Dương [65, tr.49]) Về địa hình, toàn tỉnh Hải Dương có cảnh quan đồng bằng khá đồng nhất. Động lực chính để tạo lập đồng bằng là phù sa sông Thái Bình, có xen kỹ phần nhỏ phù sa sông Hồng, sông Đuống với rừng cây sú vẹt và tác động 8 sớm của con người.
Những nhân tố này chi phối toàn bộ quá trình phát triển tự nhiên của khu vực đồng bằng tỉnh Hải Dương và được phân hóa tự nhiên trong khu vực, gồm hai dạng: đồng bằng tích tụ cao thuộc hữu ngạn sông Thái Bình có cốt đất cao 2m - 3m, lớp đất canh tác mỏng, chua; đồng bằng tích tụ thấp tả ngạn và hữu ngạn sông Thái Bình, bao gồm các huyện Ninh Giang, Thanh Miện, Kim Thành, Nam Sách, Thanh Hà, được bồi đắp bởi phù sa sông Thái Bình và một phần sông Đuống và ảnh hưởng phù sa sông Hồng. Khu vực này có cốt đất thấp (1m -2m), dốc về phía đông nam, chịu ảnh hưởng của úng lụt và triều mặn, theo như cách phân bố địa hình này thì Nam Tân thuộc khu vực đồng bằng tích tụ thấp tả ngạn và hữu ngạn sông Thái Bình. Hơn nữa so với toàn khu vực, Nam Tân xếp vào nhóm địa hình thấp nhất với độ cao trung bình so với mực nước biển là 0,6m. Địa hình toàn xã bằng phẳng, một vài khu đất ven sông Kinh Thày nằm trũng hơn những khu vực khác, ba mặt xã Nam Tân giáp các con sông: sông Kinh Thày và các con kênh trung, thủy nông của huyện Nam Sách.
Do đó, vào mùa mưa, một số thôn trong xã vẫn phải đối mặt trực tiếp với nguy cơ úng và lũ lụt. Nam Tân cũng như các xã khác trong huyện Nam Sách là vùng đất phù sa được bồi đắp bởi các con sông Thái Bình, Kinh Thày và Lai Vu. Đất đai màu mỡ phù hợp với sự sinh trưởng phát triển của các cây nông nghiệp, đặc biệt là các cây vụ đông như hành, tỏi… Nam Tân có khí hậu đặc trưng nhiệt đới gió mùa của đồng bằng Bắc Bộ với số ngày nắng nhiều, lượng mưa lớn, nguồn nước dồi dào. Đây là điều kiện vô cùng thuận lợi để phát triển một nền nông nghiệp trồng lúa và hoa màu đa dạng.
Quá trình hình thành Đất Nam Tân và toàn huyện Nam Sách đều là miền đất cổ có lịch sử lâu đời. Vùng đất này đã ghi những dấu ấn sinh cơ lập nghiệp đầu tiên của người Việt cổ trong quá trình xuống khai thác và định cư trên vùng châu thổ 9 Bắc Bộ. Nam Sách đã từng là đại bản doanh của nhiều triều đại như Triều đại Hai Bà Trưng những năm đầu công nguyên, nhà Tiền Lý (thế kỷ VI-VII), nhà Ngô (thế kỷ X), nhà Trần (thế kỷ XIII-XIV). Nhiều danh nhân lịch sử bao gồm cả các vị vua, tướng lĩnh, trạng nguyên đều phát tích từ vùng đất này.
Nổi bật nhất phải kể đến các trạng nguyên danh tiếng lẫy lừng như Thủ khoa Minh kinh bác học Mạc Hiển Tích (đỗ đạt năm 1086), Trạng nguyên Trần Quốc Lặc (1256), Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1304), Trạng nguyên Trần Sùng Dĩnh (1487), Trạng nguyên Vũ Dương (1493), Thám hoa Đặng Thì Thố (1559)… Cũng chính vì miền đất này có nhiều người đỗ đạt cao mà có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Nam Sách từ là “Sách của trời Nam”. Trong đó Mạc Hiển Tích và Mạc Đăng Dung đều là những danh nhân kiệt xuất của dòng họ Mạc phát tích tại đất Long Động, thuộc xã Nam Tân ngày nay. Dưới triều Lý, với công trạng đỗ thủ khoa Khoa thi Minh Kinh bác học năm 1086 của Mạc Hiển Tích, miền đất Long Động, Nam Tân chính thức được ghi danh trong dòng chảy lịch sử văn hóa của dân tộc. Dưới cùng triều đại vua Lý Nhân Tông (1072 - 1127), người em trai của Trạng Nguyên Mạc Hiển Tích là Mạc Kiến Quan cũng đỗ tiến sĩ và làm đến chức Thượng thư bộ Công.
Các thế hệ tiếp theo của dòng họ Mạc đều sản sinh ra nhiều nhân tài cho đất nước. Dưới thời Trần, Mạc Đĩnh Chi đất Nam Tân ngay từ nhỏ đã tỏ ra mẫn tiệp, học một biết mười, có tư chất thông minh hơn người. Đến kỳ thi đại khoa năm Hưng Long thứ 12 (1304), ông đỗ đầu Đệ nhất giáp, tức Trạng Nguyên. Cuộc đời làm quan của ông nổi bật nhất là những lần đi sứ Nguyên triều và để lại nhiều giai thoại bởi khí phách kiên cường, tài văn thơ ứng đối siêu việt.
Ông được nhà Nguyên phong là Trạng Nguyên và đi vào lịch sử dân tộc với danh xưng đầy tự hào “Lưỡng Quốc Trạng Nguyên”. Cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi là Mạc Đăng Dung được sinh ra tại làng Cổ Trai, Kiến Thụy, Hải Phòng. Sau này ông trở thành vị vua sáng lập nên 10 triều Mạc tồn tại trên 150 năm trong lịch sử Việt Nam. Bởi thế mà dân gian còn truyền lưu đôi vế đối: Long Động khai khoa bảng Cổ trai khai đế nghiệp Hay: Long Động văn chương quang nhật nguyệt Cổ Trai đế nghiệp tráng sơn hà Những thế hệ tiếp theo của dòng họ Mạc và người dân Long Động Nam Tân cũng đều chú trọng con đường học vấn, tích cực tăng gia sản xuất trên đồng ruộng.
Sang thế kỷ XX, hòa vào dòng chảy chung của lịch sử cách mạng đất nước, con cháu Nam Tân lại tiếp tục có những cống hiến lớn lao làm rạng danh truyền thống quê hương. Nổi bật nhất phải kể đến tấm gương hy sinh anh dũng của nữ liệt sĩ Mạc Thị Bưởi với những chiến công giết giặc mưu trí trên sông Kinh Thầy. Năm 1978, nhà nước ta đã phong Mạc Thị Bưởi là anh hùng lực lượng vũ trang để ghi nhớ công lao của chị với đất nước. Đất Long Động với bề dày truyền thống lịch sử văn hóa cũng trải qua nhiều giai đoạn thay đổi về địa danh hành chính.
Tương truyền, miền đất này có tên Nôm là làng Sách (hoặc là Kế Sách). Bởi vậy, lúc sinh thời, trạng nguyên Mạc Hiển Tích còn có tên tục gọi là Tú Sách. Đền thờ Mạc Đĩnh Chi tại làng Long Động vì thế cũng có tên Nôm là Đền Sách. Miền đất cổ xưa Long Động trước thế kỷ XVI có tên gọi là “Lũng Động”.
“Lũng” là thung lũng, “Động” là nơi ở. “Lũng Động” tức là nơi ở gần thung lũng. Đến thế kỷ XVI, sau khi Mạc Đăng Dung khai lập triều Mạc, truy tôn ông tổ Mạc Đĩnh Chi là “Huệ cảm linh khánh vương”, làng Lũng Động được đổi tên thành Long Động (vì chữ “Vương” cũng có nghĩa là “Long”). Vào khoảng những thập niên đầu thế kỷ XIX, Long Động thuộc tổng Cao Đôi, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, trấn Hải Dương.
Đến năm Đồng Khánh thứ hai (1887), các tổng của Chí Linh thuộc hữu ngạn sông Kinh Thày 11 cắt về Thanh Lâm, Long Động trở thành một xã của huyện Thanh Lâm. Trước năm 1945, Long Động thuộc tổng Cao Đôi, huyện Nam Sách. Năm 1946, xã Long Động sát nhập với xã Trung Hà, Quảng Tân, Đột Lĩnh lấy tên là xã Tân Dân. Năm 1950, xã Tân Dân sát nhập với xã Nam Hưng gọi là xã Tiên Hưng.
Năm 1956 lại tách thành hai xã Nam Tân và Nam Hưng. Xã Nam Tân từ đó cho đến nay được giữ nguyên địa giới hành chính với năm thôn: Long Động, Trung Hà, Quảng Tân, Đột Thượng, Đột Hạ. Đời sống kinh tế Long Động, Nam Tân mang đặc trưng của một làng thuần nông điển hình. Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng nhất.
Trong đó, cây lúa nước chiếm vị trí hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp. Cho đến tận cuối thế kỷ XIX, ở Nam Tân, kinh tế tiểu nông khép kín theo kiểu tự cấp, tự túc vẫn là đặc trưng nổi bật nhất. Cách thức sản xuất truyền thống được duy trì qua nhiều thế hệ. Từng hộ nông dân sử dụng lao động trong gia đình, tổ chức canh tác trên những thửa ruộng thuộc sở hữu của gia đình mình.
Sản phẩm thu được chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các hộ nông dân. Những hộ nghèo không có ruộng hoặc có ít ruộng để canh tác thì làm thuê, cấy rẽ để lấy bát cơm, manh áo sống qua ngày đoạn tháng. Trước đây, điều kiện canh tác ít thuận lợi, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên. Nhà nước phong kiến mới chỉ quan tâm đến tôn tạo đê điều chống lụt, khơi thông dòng chảy mương máng.
Tuy nhiên, Nam Tân có 3 mặt giáp sông, địa hình thấp nên tình trạng ngập úng thường xuyên xảy ra dài ngày trong một năm. Bởi vậy, toàn xã luôn trong cảnh “chiêm khê, mùa thối”, hầu hết diện tích chỉ cấy được một vụ trong năm. Cùng với kỹ thuật canh tác lạc hậu, sản xuất nông nghiệp nói chung, trồng lúa nói riêng, vẫn chủ yếu dựa vào kỹ thuật cổ truyền đã được đúc kết thành bốn khâu cơ bản “nước, phân, 12 cần, giống” và các giống lúa bản địa, ít được đổi mới. Năng suất lúa của xã rất thấp, trung bình chỉ đạt dưới 01 tấn/ ha/ vụ.