CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN DÂN CẤP HUYỆN 1. Lý luận cơ bản về động lực làm việc 1. Khái niệm động lực làm việc - Khái niệm động lực làm việc Theo các nhà nghiên cứu, có rất nhiều cách tiếp cận và hiểu khác nhau về động lực. Cụ thể như sau: Thuật ngữ động lực trong tiếng Anh là motivation có nguồn gốc từ tiếng Latinh motus, một dạng của động từ movere với nghĩa là chuyển động, thúc đẩy, ảnh hưởng, phấn chấn.
Theo nghĩa đó, động lực được hiểu là sự thúc đẩy một người hành động. và các cộng sự (2010) thì “ Động lực là lý do để thực hiện hành vi”[13, tr. Theo cách hiểu Broussard S. và các cộng sự (2004) “Động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó”[14,tr.
Một số tác giả khác như Greenberg và Baron (2003) quan niệm về động lực là một quá trình phản ứng tâm lý tạo ra sự mong muốn, định hướng và duy trì một hành vi nhằm hướng đến đạt một mục tiêu nào đó. Theo cách hiểu này, có ba yếu tố chính trong động lực, bao gồm: thứ nhất là mong muốn, đây là cơ sở để thúc đẩy hành vi; thứ hai là định hướng, tức là loại hành vi nào được lựa chọn và phù hợp với yêu cầu và mục tiêu của tổ chức; thứ ba là duy trì, tức là làm thế nào để hành vi này tiếp tục lặp lại[15]. Trong tác phẩm “ Động lực: các học thuyết mới, nghiên cứu và thực tiễn” viết năm 1982 , Mitchell khẳng định động lực làm việc có thể hiểu là nhũng lực đẩy bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến sự lựa chọn và mong muốn thực hiện một hành vi và một hành động nào đó. Do đó, nghiên cứu về động lực sẽ giúp chúng ta phân tích, dự đoán và lý giải được cái gì thực sự thúc đẩy con người lựa chọn hành vi này, hành động này chứ không phải lựa 7 chọn hành vi, hành động khác[16].
Trong các tài liệu được xuất bản tại Việt Nam, động lực cũng được tiếp cận từ nhiều góc độ. Từ góc độ tâm lý học, động lực đươc hiểu là cái thúc đẩy hành động, gắn liền với việc thỏa mãn những nhu cầu của chủ thể, là toàn bộ những điều kiện bên trong và bên ngoài có khả năng khơi dậy tính tích cực của chủ thể và xác định tính xu hướng của nó[8,tr4]. Theo giáo trình Quản trị nhân lực “Động lực lao động là sự khao khát,tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả của tổ chức” [9,tr. Từ góc độ quản lý ngồn nhân lực, động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức.
Như vậy mặc dù có nhiều cách tiếp cận và quan niệm về động lực khác nhau, nhưng khi nghiên cứu về động lực cần phải thống nhất một số điểm sau đây: - Động lực không phải là đặc điểm, tính cách cá nhân. Điều đó có nghĩa là không có người có động lực và người không có động lực. - Động lực là một hiện tượng cá nhân. Mỗi cá nhân là một cá thể riêng biệt có nhu cầu , mong đợi, giá trị, lịch sử, thái độ, mục tiêu rất khác nhau.
Chính vì vậy, nhà quản lý không nên cho rằng, cái gì thực sự thúc đẩy mình làm việc thì sẽ thúc đẩy nhân viên mình làm việc. - Động lực làm việc không phải là hiệu quả công việc. Động lực làm việc chỉ là một yếu tố trong nhiều yếu tố khác quyết định đến hiệu quả công việc. Nói cách khác, hiệu quả công việc không chỉ phụ thuộc vào động lực làm việc, nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nữa.
- Động lực làm việc không đồng nghĩa với sự hài lòng về công việc. Một cá nhân có thể hài lòng với công việc của mình ( hài lòng về điều kiện làm việc, công việc ổn định) nhưng vẫn có thể có rất ít động lực để làm việc. Chính vì vậy, khi nghiên cứu về động lực cần phải lưu ý để tìm ra những yếu 8 tố nào thực sự thúc đẩy người lao động làm việc. Từ những phân tích trên có thể hiểu một cách bao quát nhất, đơn giản nhất “động lực làm việc là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao.
Động lực làm việc luôn gắn với một cá nhân, một tổ chức, một nhiệm vụ cụ thể. Với mỗi cá nhân khác nhau, đảm nhận những nhiệm vụ khác nhau, điều kiện lao động khác nhau mà bản thân người lao động sẽ có những nỗ lực làm việc khác nhau. Và trong mỗi thời điểm khác nhau cùng là lao động ấy, cùng điều kiện ấy nhưng động lực làm việc ở các thời điểm là không giống nhau. Vì vậy các nhà quản lý có thể căn cứ vào đặc điểm này để có những tác động kịp thời nhằm phát huy nỗ lực làm việc cao nhất của người lao động.
Vai trò Động lực làm việc có vai trò quan trọng đối với cả cơ quan HCNN và cá nhân công chức. Thứ nhất, đối với cá nhân công chức thì động lực làm việc có những vai trò như sau: - Động lực làm việc giúp cho công chức hăng say làm việc; cống hiến hết mình từ đó giúp hiệu quả làm việc tăng cao, thực thi hoạt động công vụ hiệu quả hơn; Ví dụ: Khi chúng ta được làm việc với một người lãnh đạo rất tâm lý, có phong cách rất đỗi ưu tú và sâu rộng thì cũng giúp cho nhân viên ( công chức) hăng say làm việc cống hiến hết mình cho tổ chức) - Động lực làm việc gắn bó, hài lòng với công việc. Đặc biệt trong tình hình Covid-19 hiện nay thì việc tạo động lực làm việc sẽ phần nào giúp cho công chức an tâm làm việc; mang đến nhiều năng lượng tích cực hơn, tránh gây ra sự lo lắng, hoang mang về cắt giảm nhân sự hay chế độ lương thưởng như môi trường tư nhân bên ngoài; - Động lực làm việc còn giúp cho công chức thỏa mãn được các nhu cầu 9 trong công việc và cuộc sống như cơ hội thăng tiến; giao lưu học hỏi, kinh nghiệm,…. Bên cạnh đó, phần nào giúp công chức tăng khả năng sáng tạo, vượt qua những khó khăn, tránh nhàm chán và từng bước hoàn thiện bản thân,… Tóm lại, trong hoạt động quản lý HCNN, động lực làm việc của đội ngũ công chức trong quá trình thực thi công vụ có một vai trò đặc biệt quan trọng và động lực này ảnh hưởng tới hiệu lực, hiệu quả của bộ máy hành chính các cấp.
Cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước là loại tổ chức đặc biệt trong xã hội bởi đó là những tổ chức được sử dụng quyền lực công để quản lý xã hội và cung cấp dịch vụ công cho toàn xã hội với mục đích chung là đảm bảo trật tự, ổn định xã hội và phát triển quốc gia bền vững. Cùng với lẽ đó cho nên, động lực làm việc thông qua ảnh hưởng đến cá nhân công chức và cơ quan HCNN sẽ ảnh hưởng đến toàn xã hội. Cơ quan nhà nước là những tổ chức do nhà nước thành lập để thực thi quyền lực nhà nước, hoạt động mang tính phục vụ công với nguồn kinh phí lấy từ ngân sách nhà nước. Nếu thiếu động lực làm việc, quyền lực và pháp luật của nhà nước có thể bị vi phạm, cơ quan nhà nước không những hoạt động không hiệu quả, gây lãng phí lớn cả về tài lực lẫn vật lực mà còn làm giảm niềm tin của nhân dân vào nhà nước.
Do đó cơ quan cần có những biện pháp cụ thể, tối ưu để nhằm tạo động lực làm việc cho đội ngũ công chức trong hoạt động công vụ. Thứ hai, đối với tổ chức nói chung thì động lực làm việc có những vai trò như sau: -Động lực làm việc giúp thực hiện mục tiêu của tổ chức; -Động lực làm việc giúp tổ chức sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực, cũng như hình thành nguồn nhân lực có chất lượng; -Động lực làm việc giúp tổ chức thu hút và giữ chân nguồn nhân lực; -Động lực làm việc khiến cho bầu không khí làm việc hăng say góp phần xây dựng văn hóa tổ chức và nâng cao uy tín, hình ảnh của tổ chức. Thứ ba, đối với cơ quan hành chính nhà nước nói riêng thì động lực làm 10 việc có những vai trò sau đây: Đối với cơ quan HCNN, động lực làm việc càng có vai trò quan trọng bởi vì cơ quan HCNN là nơi trực tiếp thi hành chính sách pháp luật vào trong cuộc sống, cung cấp các dịch vụ công thiết yếu phục vụ nhu cầu của người dân. Do đó , động lực làm việc của đội ngũ công chức, những người trực tiếp thực thi nhiệm vụ của cơ quan HCNN, quyết định đến chất lượng, hiệu quả của cả hệ thống các cơ quan HCNN, quyết định sự thành bại của các chính sách công nhà nước ban hành là cực kì quan trọng.
Hơn nữa, trong bối cảnh đất nước đang thực hiện đẩy mạnh cải cách hành chính, coi đây là một trong 3 đột phá chiến lược cần thực hiện, nước ta đang tiến hành hội nhập quốc tế một cách sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực đặt ra yêu cầu, càng đòi hỏi cao hơn đối với phẩm chất, năng lực, động lực làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức bởi vì: Xã hội luôn luôn vận động và phát triển, nhà nước cần phải thích ứng quản lý xã hội theo sự thay đổi đó ; yêu cầu, đòi hỏi của người dân đối với Chính phủ ngày càng cao; khoa học công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ, làm thay đổi nhanh chóng cách thức học tập và làm việc; xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới diễn ra mạnh mẽ, thế giới dần “phẳng” hơn. Đứng trước yêu cầu và đòi hỏi trên của thực tiễn quản lý nhà nước, đội ngũ công chức càng cần có nhiều động lực làm việc để thích ứng, đáp ứng được những đòi hỏi trên, để hoàn thành tốt nhiệm vụ được nhà nước giao, góp phần quan trọng trong xây dựng hệ thống HCNN chuyên nghiệp, phục vụ nhân dân. Các học thuyết về động lực làm việc của người lao động Có rất nhiều học thuyết đi sâu vào nghiên cứu động lực làm việc của người lao động trong tổ chức có thể chia thành 2 nhóm: Các học thuyết về nội dung và các học thuyết về quá trình.