Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG Trước khi đi vào khảo sát những đặc trưng ngôn ngữ của báo in Cần Thơ không thể không đề cập đến một số tri thức nền liên quan đến đề tài. Ở chương này luận văn lần lượt đề cập đến các vấn đề sau đây: - Tổng quan về vùng đất Cần Thơ - Phong cách ngôn ngữ báo chí - Chức năng ngôn ngữ báo chí - Đặc điểm ngôn ngữ báo chí - Lý thuyết về giao tiếp của Roman Jakobson và việc nhận diện các phong cách và thể loại - Nhận diện một số thể loại trong báo chí, màu sắc địa phương và màu sắc địa phương Nam Bộ 1. Vùng đất, con người “Cần Thơ gạo trắng nước trong Ai đi đến đó lòng không muốn về” Đó là câu ca dao quen thuộc ngợi ca xứ sở Tây Đô tươi đẹp. Với diện tích 1.389,59 km2 nằm bên bờ phải sông Hậu, Cần Thơ hiền hòa với những luồng gió mát thổi vào từ hai con sông là sông Hậu và sông Cần Thơ.
Mỗi năm hai mùa mưa nắng cho Cần Thơ nhiều cây xanh trái ngọt, tạo nên đặc trưng của một xứ sở miệt vườn. Thiên nhiên ưu đãi, Cần Thơ trù phú nhiều sản vật. Đất đai màu mỡ, người dân nơi đây yên tâm chăm lo sản xuất, xây dựng cuộc sống ấm no giàu đẹp. Sự ưu đãi của thiên nhiên ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách của con người Cần Thơ.
Người Cần Thơ chân chất thật thà, hiền hòa, chí tình chí nghĩa. Trong đối nhân xử thế, tình người luôn được xem làm trọng. Vì lẽ đó, ai một lần đến Cần Thơ đều lưu luyến trước tình đất tình người của đất Tây Đô. Báo Cần Thơ Phát huy truyền thống, thành tích báo chí Cách mạng trong các thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, từ ngày tái lập tỉnh Cần Thơ (1992), báo Cần Thơ được tách ra từ báo Hậu Giang cũ, trong hoàn cảnh mới vẫn tiếp tục nỗ lực phấn đấu xây dựng lực lượng, từng bước trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại, không ngừng cải tiến nâng cao chất lượng tờ báo, tạo bước đi lên vững chắc.
Sau 7 năm (1992- 1999), phấn đấu xây dựng và phát triển, báo Cần Thơ luôn giữ vững tôn chỉ mục đích tờ báo của cơ quan ngôn luận của đảng bộ và diễn đàn của nhân dân địa phương. Báo Cần Thơ bám sát sự chỉ đạo và định hướng tuyên truyền của Đảng, các quy định của nhà nước, không ngừng cải tiến nội dung, cách tân hình thức, thông tin kịp thời các sự kiện chính trị quan trọng, phản ánh trung thực, sinh động mọi lĩnh vực đời sống xã hội, những tiềm lực của quê hương đất nước trong những năm đổi mới. Từ chỗ kế thừa báo Hậu Giang (cũ) định kỳ xuất bản 2 số/ tuần, 8 trang/ khổ 30 x40 cm, đến tháng 4 năm 1996, báo Cần Thơ tăng lên 3 số/ tuần, tháng 8 năm 1997 cả 3 kỳ báo trong tuần tăng từ 8 trang lên 12 trang và từ tháng 1 năm 1999 tăng thêm kỳ chủ nhật, 16 trang in 4 màu. Số lượng ấn bản phát hành ngày càng tăng lên.
Hiện nay báo Cần Thơ là món ăn tinh thần không chỉ của cán bộ, công nhân viên chức mà còn của nhân dân địa phương. Cùng với việc chăm lo xây dựng phát triển đội ngũ, báo Cần Thơ từng bước đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật nhằm đáp ứng tốt nhất việc chuyển tải thông tin, đường lối chính sách của Đảng, của Nhà nước đến với đông đảo bạn đọc. Đi đôi với việc tiếp tục củng cố, nâng cao chất lượng các kỳ báo Cần Thơ, kể từ ngày 01-01-2001, báo Cần Thơ trở thành nhật báo. Phong cách ngôn ngữ báo chí 1.
Các quan điểm khác nhau về phong cách ngôn ngữ báo chí Như chúng ta đã biết, phong cách học trên thế giới đã có lịch sử từ rất lâu đời, nhưng ở Việt Nam, lĩnh vực nghiên cứu này còn khá mới mẻ, bắt đầu từ những thập niên 60 của thế kỷ trước. Chưa có một công trình nghiên cứu phong cách học thật sự xét một cách toàn diện các cấp độ ngôn ngữ. Các nhà nghiên cứu còn tranh luận với nhau nhiều vấn đề thuộc phong cách học. Thậm chí, riêng bản thân một nhà ngôn ngữ học cũng có sự thay đổi quan điểm theo thời gian.
Do đó việc phân chia các phong cách chức năng của tiếng Việt còn là một vấn đề rối rắm, chưa thống nhất. So với các phong cách khác, về mặt lí luận và nhận thức, phong cách báo chí được nhìn nhận như một phong cách độc lập là khá muộn. Các tài liệu như Tu từ học tiếng Việt hiện đại (Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, 1975) hay Phong cách học tiếng Việt (Cù Đình Tú, Lê Anh Hiền, Nguyễn Thái Hòa, Võ Bình, 1982) không đề cập đến phong cách báo chí. Mãi đến 1982, Nguyễn Thái Hòa mới đề cập trong cuốn Phong cách học tiếng Việt.
Như vậy, đến thập niên 80 của thế kỉ XX, phong cách chức năng báo chí tiếng Việt mới được nhìn nhận như một phong cách độc lập, mặc dù báo chí tiếng Việt đã có từ năm 1865, năm Gia Định Báo ra đời. Nhóm tác giả Cù Đình Tú – Lê Anh Hiền – Nguyễn Thái Hòa – Vũ Bình (1982) chia tiếng Việt toàn dân ra hai thế đối lập là phong cách khẩu ngữ và phong cách văn hóa (văn học). Trong phong cách văn hóa lại bao gồm các phong cách chức năng: phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí - tin tức, phong cách hành chính - công vụ, phong cách cổ động và phong cách nghệ thuật. Trong cả hai công trình nghiên cứu của mình năm 1991 và năm 1997, tác giả Đinh Trọng Lạc đều quan niệm các phong cách chức năng tiếng Việt 15 bao gồm hai loại là phong cách chức năng của hoạt động lời nói và phong cách hoạt động nghệ thuật đối lập với phong cách ngôn ngữ phi nghệ thuật.
Các phong cách chức năng của hoạt động lời nói trong tiếng Việt bao gồm: phong cách hành chính, phong cách khoa học, phong cách báo, phong cách chính luận và phong cách sinh hoạt. Xét từ phương diện truyền thông tác giả Vũ Quang Hào cho rằng không có sự phân biệt một phong cách báo chí riêng biệt, trong thế đối lập với các phong cách chức năng khác của hệ thống tiếng Việt. Theo ông, báo chí thường sử dụng ba phong cách chủ yếu là: phong cách chính luận, phong cách khoa học và phong cách hành chính. Quan niệm của tác giả Hữu Đạt (2000) trong công trình nghiên cứu “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” thì đứng từ một góc độ khác để phân chia các phong cách chức năng tiếng Việt.
Hữu Đạt chia tiếng Việt ra làm sáu phong cách chức năng theo cách nhìn từ trong ra ngoài, bao gồm: phong cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học - nghệ thuật. Trong đó, mỗi phong cách lại có hai dạng nói và viết. Song song đó, cũng từ công trình nghiên cứu này, theo cách nhìn từ ngoài vào Hữu Đạt lại phân chia tiếng Việt thành hai thế đối lập, bao gồm: phong cách khẩu ngữ toàn dân và phong cách văn chương (còn gọi là phong cách gọt giũa). Trong phong cách văn chương lại phân ra các phong cách: phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí, phong cách văn học nghệ thuật.
Có sự khác biệt đáng chú ý trong hai cách phân chia vừa nêu trên. Ở cách phân chia thứ nhất, nói và viết chỉ coi là các dạng biểu hiện của phong cách chức năng. Tuy nhiên, ở cách phân chia thứ hai, nói và viết được quan niệm là chính phong cách chức năng. Tuy khác nhau, nhưng mỗi quan niệm 16 đều có những hạt nhân hợp lý của mình.
Vấn đề quan trọng ở đây là sự phân biệt giữa một bên là ngôn ngữ nói với tư cách là hình thức thể hiện của ngôn ngữ và một bên là ngôn ngữ nói với tư cách là chức năng. Nhìn chung, từ thập niên 80 của thế kỷ XX trở về sau, ở hầu hết các công trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học đều có sự phân biệt phong cách chức năng ngôn ngữ báo chí xét trong thế đối lập với các phong cách chức năng ngôn ngữ khác. Phong cách ngôn ngữ báo bao gồm các kiểu và thể loại văn bản phục vụ cho mục đích trao đổi thông tin giữa cơ quan báo chí với bạn đọc, nhằm thực hiện chức năng tác động, chức năng giáo dục và thẩm mỹ, tùy theo từng hoàn cảnh cụ thể mà chức năng này hay chức năng kia nổi trội. Chuẩn ngôn ngữ và chuẩn phong cách ngôn ngữ báo chí 1.
Chuẩn ngôn ngữ Có nhiều quan niệm khác nhau về chuẩn ngôn ngữ. Hoàng Tuệ quan niệm về chuẩn ngôn ngữ như sau: “ Chuẩn mực nói một cách khái quát là cái đúng. Đó là cái đúng có tính chất chung, tính chất bình thường được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận ở một giai đoạn nhất định trong quá trình phát triển lịch sử của ngôn ngữ. Cái đúng cũng được xác định theo một tập hợp những quy tắc nhất định thuộc các phạm vi phát âm, chữ viết, dùng từ, cấu tạo từ mới và đặt câu”.21] Hai tác giả Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thái Hòa cũng đồng ý với quan niệm trên về chuẩn ngôn ngữ.
Riêng tác giả Hữu Đạt quan niệm chuẩn ngôn ngữ trước hết phải là những thói quen giao tiếp ngôn ngữ được định hình về mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức ngôn ngữ của người bản ngữ. Tác giả Cù Đình Tú ( 1982) thì quan niệm chuẩn mực ngôn ngữ là hệ thống các phương tiện liên kết biểu hiện tốt nhất, hợp lý nhất, được mọi người 17 thừa nhận, sử dụng để phục vụ cho sự giao tiếp xã hội trong thời kỳ nhất định. Cù Đình Tú còn nhấn mạnh, hệ thống các phương tiện ngôn ngữ bao giờ cũng tồn tại dưới dạng các biến thể. Mỗi biến thể tương ứng với một chức năng giao tiếp nhất định, đúng trong phạm vi giao tiếp này nhưng có thể sai trong phạm vi giao tiếp khác.
Cái được công nhận là chuẩn mực trong phong cách chức năng ngôn ngữ này chưa hẳn đã được chấp nhận ở phong cách chức năng ngôn ngữ kia. Tác giả Cù Đình Tú này cũng đề cập, đối với các biến thể ngôn ngữ, chuẩn mực ngôn ngữ chỉ thừa nhận hoặc phủ định chứ không giải quyết vấn đề lựa chọn biến thể để sử dụng trong các phong cách chức năng ngôn ngữ.