Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học với đề tài “Kịch nói ở Tp.HCM nhìn từ đặc điểm văn hóa Nam Bộ” (hoàn thành tại Trà Vinh, năm 2022) tiếp cận hoạt động sân khấu kịch nói dưới góc độ văn hóa học liên ngành. Văn bản xác định kịch nói đã du nhập và tồn tại hơn 150 năm tại Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh, trở thành một bộ phận của nghệ thuật biểu diễn đô thị. Tuy nhiên, tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu rõ rệt: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận kịch nói dưới góc độ nghệ thuật học, văn học kịch hoặc quản lý biểu diễn, chưa có công trình nào khảo sát và nhận diện toàn diện kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh dưới lăng kính đặc trưng văn hóa Nam Bộ. Đồng thời, văn bản phản ánh bối cảnh thực tiễn khi loại hình nghệ thuật này đang đối mặt với nhiều khó khăn: khán giả suy giảm, nhiều sân khấu tư nhân giải thể hoặc hoạt động cầm chừng, chất lượng kịch bản và dàn dựng sụt giảm, thiếu vắng những công trình lý luận định hướng sự phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập.

Mục tiêu tổng quát của luận án là xác định các đặc điểm văn hóa Nam Bộ thể hiện trong kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích tiến trình hình thành, phát triển và vị trí của kịch nói trong đời sống tinh thần của cư dân đô thị; từ đó khẳng định vai trò của bộ môn này trong tiến trình phát triển văn hóa của địa phương. Mục tiêu cụ thể gồm: làm rõ sự thể hiện của ba đặc trưng cơ bản của văn hóa Nam Bộ (Tính sông nước, Tính dung hợp, Tính linh hoạt) qua các thành tố cấu thành tác phẩm (đề tài, nội dung, mỹ thuật sân khấu, phương pháp dàn dựng, ngôn ngữ đối thoại) và các chủ thể sân khấu; đánh giá tác động hai mặt của các đặc điểm văn hóa vùng miền; dự báo xu thế và đề xuất các khuyến nghị thực tiễn.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản phân định thành sáu nội dung:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến văn hóa Nam Bộ và nghệ thuật kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Làm rõ tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của kịch nói tại Thành phố Hồ Chí Minh qua các giai đoạn.
  3. Trình bày và phân tích các đặc trưng văn hóa Nam Bộ biểu hiện trong tác phẩm và các chủ thể sân khấu.
  4. Đánh giá mặt tích cực và hạn chế khi các đặc điểm văn hóa Nam Bộ tác động vào kịch nói.
  5. Dự báo xu hướng vận động của kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn tiếp theo.
  6. Đưa ra các khuyến nghị quản lý và phát triển nghệ thuật trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế.

Câu hỏi nghiên cứu được tác giả xác lập cụ thể như sau:

  1. Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ như thế nào?
  2. Đặc điểm văn hóa Nam Bộ biểu hiện như thế nào trong kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh?
  3. Những tác động của văn hóa Nam Bộ đối với kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh?
  4. Cần phải làm gì để kịch nói giữ được vị thế quan trọng trong sự phát triển kinh tế - văn hóa hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  1. Kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ; thể hiện sự giao lưu và tiếp biến văn hóa để khẳng định bản sắc văn hóa Việt.
  2. Kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh là kết quả của sự dung hợp văn hóa, phản ánh hiện thực cuộc sống, khắc họa những nét đặc thù về tự nhiên, văn hóa, xã hội, tính cách con người Nam Bộ biểu hiện trong các yếu tố cấu thành tác phẩm.
  3. Văn hóa Nam Bộ có những tác động theo nhiều mặt đối với sự phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Một chính sách hợp lý, một định hướng phát triển khoa học và bền vững là điều kiện quan trọng để kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định vai trò và đóng góp thiết thực vào sự phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội của địa phương.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh mang đặc điểm văn hóa Nam Bộ trong quá trình hình thành và phát triển. Đối tượng khảo sát thực tế gồm:

  • Các đơn vị sân khấu công lập (Nhà hát Kịch Thành phố) và sân khấu xã hội hóa (Nhà hát Sân khấu Nhỏ 5B, Sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh, Sân khấu kịch Hồng Vân, Sân khấu kịch Trịnh Kim Chi, Sân khấu kịch Idecaf, Sân khấu Minh Nhí...).
  • Các sản phẩm nghệ thuật: kịch bản văn học, vở diễn trên sàn tập và sàn diễn, thiết kế mỹ thuật, phục trang, hóa trang, đạo cụ, âm nhạc.
  • Các chủ thể sân khấu: nhà nghiên cứu, nhà quản lý, đạo diễn, tác giả, diễn viên, nhà báo chuyên trách và công chúng khán giả.

Về phạm vi nghiên cứu:

  • Không gian nghiên cứu: Tập trung trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, có mở rộng so sánh, đối chiếu với kịch nói miền Bắc và không gian văn hóa vùng Nam Bộ (gồm Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ).
  • Thời gian nghiên cứu: Khảo sát trọng tâm từ năm 1997 (thời điểm ban hành chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật) đến năm 2020; đồng thời truy nguyên lịch sử từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và giai đoạn trước năm 1975 nhằm làm rõ diễn trình phát triển.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Văn bản luận án đã tổng hợp, phân loại tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài theo bốn nhóm nguồn tài liệu chính:

Nhóm 1: Nghiên cứu về nghệ thuật sân khấu và kịch nói

  • Tài liệu quốc tế: Constantin Stanislavski (1964) trong An Actor Prepares trình bày hệ thống diễn xuất hiện thực tâm lý; Colin Mackerras (1987) trong bài viết Theatre in Viet Nam khảo sát sự suy thoái của sân khấu truyền thống và sự xuất hiện của Cải lương, kịch nói dưới ảnh hưởng văn hóa Pháp qua các tác giả Molière, Corneille; A. Anhikst (2002) với Lý luận kịch từ Aristot đến Lessin phân tích tiến trình lý luận kịch phương Tây; Simon Shepherd và Mick Wallis (2004) trong Drama/Theatre/Performance xem xét mối quan hệ giữa chính trị và nghệ thuật biểu diễn; Khải Thư Nguyễn (2010) với luận án Sensing Vietnam: Melodramas of National Colonialism to Market Reform tại Đại học California, Berkeley, phân tích kịch trữ tình Việt Nam giai đoạn chuyển đổi sang kinh tế thị trường thông qua kịch Lưu Quang Vũ và Cải lương Nam Bộ.
  • Tài liệu trong nước: Đình Quang với các công trình Nghệ thuật biểu diễn hiện thực tâm lý (1978), Về mỹ học và văn học kịch (2003, tuyển dịch), Về sân khấu Việt Nam (tập I, 2005); Phan Kế Hoành và Huỳnh Lý (1978) trong Bước đầu tìm hiểu lịch sử kịch nói Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám) xác định mốc vở kịch Chén thuốc độc (1921); Lưu Quang Vũ, Vương Trí Nhàn, Xuân Quỳnh (1979) trong Diễn viên và sân khấu; Viện Sân khấu với các kỷ yếu, chuyên khảo Nghệ thuật sân khấu (1987), Hai mươi năm sân khấu Việt Nam 1975-1995 (1995); Trần Minh Ngọc với Cơ sở lý luận và kỹ thuật đạo diễn sân khấu (1993); Phùng Huy Bính (2004) với Mỹ thuật sân khấu kịch nói Việt Nam; Đỗ Hương (2005) nghiên cứu tương tác giữa diễn xuất kịch hát truyền thống và kịch nói; Hoàng Sự (2005) trình bày phương pháp Stanislavski; Trần Đình Ngôn chủ biên (2006) trong Sơ thảo lịch sử sân khấu Việt Nam; Phan Trọng Thưởng (2009) tập hợp Kịch bản kịch nói Việt Nam 1900-1945; Tất Thắng (2009) với Lý luận kịch; Phạm Thị Hà (2014) khảo sát đề tài lịch sử trong kịch bản Lê Duy Hạnh, Lê Chí Trung; Cao Thị Xuân Ngọc (2016) nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống Stanislavski tại Việt Nam.

Nhóm 2: Nghiên cứu về kịch nói ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh

  • Trần Văn Khải (1970) trong Nghệ thuật sân khấu Việt Nam: Hát bội, Cải lương, thoại kịch, thú xem diễn kịch mô tả hoạt động của các ban kịch Dân Nam, Tân Dân Nam, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng; Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng chủ biên (1998) trong Địa chí Văn hóa Tp.HCM - tập III, Nghệ thuật với các bài viết của Hoàng Như Mai về kịch nói đô thị; Trần Trọng Đăng Đàn với chuỗi công trình 23 năm cuối của 300 năm văn hóa, nghệ thuật Sài Gòn - Tp.HCM (1998), Nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa - sân khấu Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XXI (2004), Kịch Việt Nam: Thưởng thức và bình luận (2011); Nguyễn Thị Minh Thái (1999) trong Sân khấu và tôi; Lê Thị Thanh Thủy (2003) nghiên cứu mô hình Sân khấu nhỏ 5B; Nguyễn Văn Thành (2008) với Kịch nói Tp.HCM: một chặng đường lịch sử; Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội (2012); Trần Minh Ngọc (2006, 2013); Nguyễn Thị Kim Liên (2015) nghiên cứu công nghiệp nghệ thuật biểu diễn; Kỷ yếu Hội thảo Ban Tuyên giáo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2016); Lưu Trung Thủy (2017) với luận án tiến sĩ văn học về kịch bản văn học đương đại; Trần Yến Chi chủ nhiệm đề tài cấp Bộ (2018) về bản sắc sân khấu kịch; Cao Tấn Lộc (2019) khảo sát quản lý sân khấu kịch xã hội hóa; Kỷ yếu Hội thảo Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2019).

Nhóm 3: Hồi ký của các nghệ sĩ hoạt động kịch nói tại Thành phố Hồ Chí Minh

  • NSND Bảy Nam với Trôi theo dòng đời (2009); NSƯT Thành Lộc và Nguyễn Thị Minh Ngọc với Hãy cứ cho đi từ cõi đời này (2015); NSND Kim Cương với hồi ký Sống cho người - sống cho mình (2016) đăng trên báo Tuổi Trẻ. Các tư liệu này phản ánh thực tiễn làm nghề, đời sống hậu trường, quá trình dàn dựng và phương thức tổ chức biểu diễn tư nhân qua nhiều thời kỳ.

Nhóm 4: Nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ và Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh

  • Huỳnh Lứa chủ biên (1987) với Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ; Sơn Nam với Cá tính Miền Nam (1997) và các khảo cứu về văn minh miệt vườn; Công trình Nam Bộ Xưa và Nay (2007); Trần Ngọc Thêm (2008, 2017) phân tích hệ thống tính cách văn hóa người Việt ở Nam Bộ và Tây Nam Bộ; Trần Thuận (2014) với Nam Bộ - Vài nét lịch sử văn hóa; Phan Huy Lê chủ biên (2017) trong bộ chuyên khảo Vùng đất Nam Bộ - quá trình hình thành và phát triển; Vương Hồng Sển (2004) với Sài Gòn năm xưa; Trần Quốc Vượng (1998) nghiên cứu sự dung hòa văn hóa Đông - Tây tại Nam Bộ.
Nhóm công trình Tác giả tiêu biểu Trọng tâm nghiên cứu Khoảng trống luận án giải quyết
Lý luận sân khấu & kịch nói chung Stanislavski, Đình Quang, Tất Thắng, Trần Minh Ngọc, Cao Thị Xuân Ngọc Hệ thống diễn xuất, thi pháp kịch bản, lịch sử sân khấu miền Bắc và sân khấu thế giới Chưa đi sâu vào không gian biểu diễn kịch nói Nam Bộ; thiếu góc nhìn văn hóa học vùng miền
Kịch nói tại Sài Gòn - Tp.HCM Trần Văn Khải, Hoàng Như Mai, Trần Trọng Đăng Đàn, Nguyễn Văn Thành, Lưu Trung Thủy, Trần Yến Chi Lịch sử các đoàn kịch, mô hình sân khấu nhỏ, kịch bản văn học, công tác quản lý xã hội hóa Chủ yếu đứng từ góc độ nghệ thuật học hoặc văn học; chưa liên kết cấu trúc vở diễn với đặc trưng văn hóa Nam Bộ
Hồi ký nghệ sĩ kịch nói NSND Bảy Nam, NSƯT Thành Lộc, NSND Kim Cương Trải nghiệm làm nghề, ký ức biểu diễn cá nhân, đời sống các ban kịch tư nhân Là tư liệu thực tiễn và nhân chứng lịch sử, mang tính chủ quan, chưa được khái quát hóa thành cơ sở lý luận
Văn hóa Nam Bộ & Tp.HCM Huỳnh Lứa, Sơn Nam, Trần Ngọc Thêm, Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng Lịch sử khẩn hoang, địa văn hóa, tính cách con người Nam Bộ, quá trình giao lưu văn hóa Nghiên cứu văn hóa học thuần túy, chưa vận dụng để giải mã loại hình nghệ thuật sân khấu kịch nói

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án tập trung giải quyết là: kết hợp cơ sở lý thuyết văn hóa học với dữ liệu thực chứng của sân khấu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh, nhận diện cụ thể các đặc trưng văn hóa Nam Bộ (sông nước, dung hợp, linh hoạt) in hằn trong mỹ thuật, ngôn ngữ kịch bản, lối diễn xuất và phương thức tổ chức nhà hát từ thời kỳ thuộc Pháp đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Văn bản luận án xây dựng khung phân tích dựa trên ba lý thuyết khoa học chuyên ngành và liên ngành:

  1. Lý thuyết vùng văn hóa (Cultural Area Theory): Bắt nguồn từ các học giả nhân học văn hóa Mỹ như O. Mason, Franz Boas, Clark Wissler, A.L. Kroeber và được tiếp thu, phát triển tại Việt Nam bởi Ngô Đức Thịnh (2004). Luận án vận dụng quan điểm về "trung tâm văn hóa" và "ngoại vi", khẳng định Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị trung tâm tiếp nhận, nâng cao và lan tỏa các giá trị của vùng văn hóa Nam Bộ. Kịch nói du nhập từ phương Tây nhưng khi định vị tại trung tâm này đã trải qua quá trình bản địa hóa bởi chủ thể người Việt trong sự cộng cư với các tộc người Hoa, Khmer, Chăm.
  2. Lý thuyết lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory): Xuất phát từ xã hội học và kinh tế học, gắn liền với tên tuổi của George Homans, Peter Blau, James Coleman, Jon Elster và Georg Simmel. Luận án ứng dụng mệnh đề cá nhân hành động có chủ đích nhằm tối ưu hóa lợi ích và nguyên tắc trao đổi xã hội để lý giải hành vi của ba chủ thể: nghệ sĩ sáng tác (chọn đề tài, lối diễn xuất), ông/bà bầu sân khấu tư nhân (chọn kịch bản, phương thức đầu tư giảm thiểu chi phí) và khán giả đô thị (chọn xem những vở kịch phù hợp với thị hiếu giải trí và khả năng tài chính).
  3. Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory): Dựa trên mô hình của W.I. Thomas và F. Znaniecki (nhấn mạnh loại hình tiếp biến sáng tạo), mô hình bốn chiến lược của John W. Berry (đồng hóa, chia tách, hòa nhập, cô lập) và quan điểm của Phạm Đức Dương (các yếu tố ngoại sinh được Việt Nam hóa, các yếu tố nội sinh được hiện đại hóa). Lý thuyết này làm sáng tỏ cách thức kịch nói - một hình thức nghệ thuật phương Tây mang tính áp đặt thời kỳ thuộc địa - được cư dân Nam Bộ tiếp nhận có chọn lọc, dung hợp với các yếu tố nghệ thuật truyền thống bản địa (Hát bội, Đờn ca tài tử, Cải lương).

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án áp dụng hướng tiếp cận liên ngành định tính kết hợp định lượng:

  • Phương pháp tổng hợp và phân tích: Hệ thống hóa hệ thống tư liệu lịch sử, văn hóa, kịch bản và dữ liệu khán giả nhằm đánh giá kịch nói trong bối cảnh xã hội Nam Bộ.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đối chiếu diện mạo kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh với kịch nói miền Bắc; so sánh thị hiếu khán giả giữa các nhóm tuổi, nghề nghiệp và giữa các giai đoạn lịch sử.
  • Phương pháp quan sát tham dự: Tác giả thâm nhập trực tiếp vào các không gian tập luyện, sàn diễn, hậu trường và các khâu tổ chức biểu diễn với tư cách là người hoạt động nghề nghiệp (đạo diễn, diễn viên, tác giả) để ghi nhận dữ liệu thực địa.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện 14 cuộc phỏng vấn sâu (thời lượng từ 120 đến 240 phút/cuộc, có trường hợp phỏng vấn lặp lại hai lần) với các nghệ sĩ gạo cội, tác giả, đạo diễn, nhà báo chuyên trách sân khấu, nhà quản lý nhà hát công lập và tư nhân, giảng viên nghệ thuật và khán giả trung thành.
  • Phương pháp nghiên cứu tư liệu thứ cấp: Khảo sát và phân tích các phiếu khảo sát, biểu đồ cơ cấu khán giả, dự thảo báo cáo hoạt động nghệ thuật biểu diễn của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh (các năm 2017, 2018, 2019).

Nguồn dữ liệu bao gồm: văn bản kịch bản kịch nói; băng ghi hình và vở diễn thực tế; 14 biên bản phỏng vấn sâu (Phụ lục 1); danh mục các vở diễn trên sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh (Phụ lục 2); kết quả phiếu khảo sát (Phụ lục 3); biểu đồ khán giả (Phụ lục 4); số liệu thành phần dân cư và báo cáo ngành văn hóa (Phụ lục 7, 8).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn (43 trang)

Chương này thực hiện việc hệ thống hóa toàn bộ các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về kịch nói và văn hóa Nam Bộ; phân tích các khái niệm công cụ và làm rõ ba khung lý thuyết nền tảng (vùng văn hóa, lựa chọn duy lý, tiếp biến văn hóa). Về cơ sở thực tiễn, chương phân tích ba đặc điểm của Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Trung tâm địa văn hóa - chính trị - kinh tế: Tọa lạc tại vị trí giao thoa đường thủy và đường bộ thuận lợi, Sài Gòn từ thế kỷ XVII - XVIII đã trở thành trung tâm thương mại và đô thị lớn nhất vùng; tiếp nhận kỹ thuật và văn hóa phương Tây sớm nhất nước; là nơi ra đời báo chí chữ quốc ngữ, tiểu thuyết hiện đại, Đờn ca tài tử và Cải lương.
  • Cấu trúc xã hội và sự hình thành cư dân đô thị: Quá trình khẩn hoang thu hút dân tứ xứ (đặc biệt từ vùng Ngũ Quảng) cùng sự cộng cư giữa người Việt, người Hoa, người Khmer, người Chăm và sự hiện diện của cư dân phương Tây hình thành nên tầng lớp thị dân năng động, cởi mở, chuộng cái mới.
  • Kinh tế thị trường và sự hình thành thị trường công nghiệp giải trí: Sự phát triển sớm của kinh tế hàng hóa tạo điều kiện cho các hoạt động biểu diễn kịch nghệ vận hành theo cơ chế thị trường, biến thưởng thức nghệ thuật thành một nhu cầu dịch vụ giải trí thiết yếu của thị dân.

Chương 2: Diễn trình hình thành và phát triển của kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh (32 trang)

Chương 2 phục dựng tiến trình lịch sử của kịch nói tại đô thị Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh theo hai giai đoạn lớn với các mốc thời gian cụ thể:

  • Kịch nói ở Sài Gòn trước 1975:
    • Giai đoạn từ khi ra đời đến 1954: Kịch nói theo chân quân đội Pháp du nhập cuối thế kỷ XIX, ban đầu phục vụ kiều dân Pháp. Đến thập niên 1920, kịch bản kịch nói tiếng Việt xuất hiện; phong trào diễn kịch của học sinh, trí thức và sự hình thành các nhóm kịch nghiệp dư. Kịch nói Nam Bộ ban đầu mang tính chất các hoạt cảnh ngắn xen kẽ trong chương trình ca nhạc, tạp kỹ hoặc chịu ảnh hưởng từ Cải lương.
    • Giai đoạn từ 1954 đến 1975: Dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, chịu ảnh hưởng từ văn hóa phương Tây và Mỹ, kịch nói đô thị phát triển mạnh với sự ra đời của các ban kịch tư nhân chuyên nghiệp như Dân Nam, Tân Dân Nam, Thoại kịch Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Bích Sơn, Vũ Huân, Vũ Đức Duy... Kịch nói bước lên màn ảnh truyền hình và các rạp hát lớn, phản ánh các mâu thuẫn gia đình, tình cảm đô thị.
  • Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ sau 1975 đến năm 2020:
    • Giai đoạn sau 1975 đến 1985: Sự hợp lưu giữa nghệ sĩ tại chỗ, nghệ sĩ từ chiến khu trở về và lực lượng nghệ sĩ từ miền Bắc tăng cường (như Đoàn kịch Cửu Long Giang). Nghệ thuật hoạt động theo cơ chế bao cấp, thực hiện chức năng tuyên truyền, giáo dục tư tưởng theo đường lối văn hóa xã hội chủ nghĩa.
    • Giai đoạn từ 1986 đến 1996: Thời kỳ Đổi mới. Năm 1984, Câu lạc bộ Sân khấu Thể nghiệm (tiền thân của Nhà hát Sân khấu Nhỏ 5B) ra đời, tạo lập mô hình sàn diễn không khoảng cách, tinh giản cảnh trí, tập trung vào diễn xuất tâm lý nhân vật. Đây là giai đoạn kịch nói Thành phố phát triển rực rỡ với các vở kịch chính luận và tâm lý xã hội phản ánh trực diện các vấn đề đương đại.
    • Giai đoạn từ 1997 đến 2020: Triển khai chủ trương xã hội hóa văn hóa nghệ thuật. Hàng loạt sân khấu kịch tư nhân hình thành (Idecaf, Kịch Hồng Vân, Hoàng Thái Thanh, Kịch Thế Giới Trẻ, Sân khấu Trịnh Kim Chi, Minh Nhí...). Sân khấu kịch Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm xã hội hóa sôi động nhất cả nước, phát triển đa dạng đề tài từ kịch tâm lý, kịch lịch sử, kịch thiếu nhi (Ngày xửa ngày xưa) đến kịch hài, kịch kinh dị, thích ứng với quy luật thị trường.

Chương 3: Những đặc điểm cơ bản của văn hóa Nam Bộ thể hiện trong kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh (50 trang)

Chương 3 chứng minh và luận giải ba đặc điểm văn hóa Nam Bộ chi phối diện mạo kịch nói Thành phố:

  • Tính sông nước:
    • Qua thiết kế mỹ thuật sân khấu: Không gian sân khấu tái hiện môi trường sinh thái sông ngòi, kênh rạch đặc trưng miền Nam qua hình ảnh ghe xuồng, bến sông, cầu khỉ, nhà sàn ven rạch, rặng dừa nước, lục bình trôi (qua các vở kịch nông thôn Nam Bộ).
    • Qua ngôn ngữ kịch: Vận dụng lớp từ ngữ, quán ngữ, thành ngữ sinh ra từ môi trường sông nước (chèo kéo, trôi nổi, bến đỗ, lội nước, con nước lớn, nước ròng...) trong thoại kịch để miêu tả tâm trạng và hoàn cảnh nhân vật.
  • Tính dung hợp:
    • Về nguồn gốc và lực lượng nghệ sĩ: Tiếp thu thể loại kịch phương Tây nhưng được thực hành bởi đội ngũ nghệ sĩ đa dạng gốc gác (nghệ sĩ miền Bắc di cư, nghệ sĩ bản địa, nghệ sĩ xuất thân từ Cải lương, Hát bội).
    • Về đề tài và nội dung tác phẩm: Dung hòa giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, đề tài gia đình Nam Bộ đan xen với các vấn đề thời sự đô thị; kịch hóa các tác phẩm văn học Nam Bộ (Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Ngọc Tư).
    • Ứng dụng kịch hát và âm nhạc truyền thống: Lồng ghép các điệu lý, câu hò, điệu đờn tài tử, vọng cổ và vũ đạo Hát bội vào cấu trúc kịch bản kịch nói để biểu đạt cao trào cảm xúc.
    • Sử dụng khẩu ngữ, phương ngữ trong thoại kịch: Đưa lời ăn tiếng nói hằng ngày của người bình dân Nam Bộ lên sàn diễn (các từ xưng hô: tía, má, chế, hai, út; từ cảm thán: trời đất ơi, dữ hôn; cách ngắt nhịp câu thoại ngắn, bộc trực, tự nhiên).
  • Tính linh hoạt:
    • Nhìn từ các chủ thể sân khấu: Đạo diễn, diễn viên linh hoạt thay đổi mảng miếng biểu diễn theo phản ứng trực tiếp của khán giả từng đêm; các ông/bà bầu tư nhân ứng biến nhạy bén về lịch diễn, suất diễn, xoay xở địa điểm thuê mướn; khán giả cởi mở tiếp nhận các hình thức thể nghiệm mới nhưng cũng mau chán nếu vở diễn rập khuôn.
    • Nhìn từ đề tài và thể loại: Không đóng khung trong một thể loại cố định mà pha trộn giữa bi kịch và hài kịch (bi - hài kịch), kịch sinh hoạt đời thường kết hợp yếu tố tâm linh, kỳ ảo, trinh thám.
    • Nhìn từ phong cách nghệ thuật: Lối diễn xuất phóng khoáng, tự nhiên, gần gũi, không lên gân hay thiên về tính giáo huấn cứng nhắc; tối giản cảnh trí sân khấu để phù hợp với các không gian khán phòng nhỏ.

Chương 4: Phát triển kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (32 trang)

Chương 4 đánh giá thực trạng tác động và đề ra các định hướng tương lai:

  • Chiều hướng tác động đến sự phát triển kịch nói:
    • Tác động thuận lợi: Cơ chế thị trường giải phóng sức sáng tạo; khán giả đô thị đông đảo, thu nhập nâng cao; sự xuất hiện của các nhà đầu tư tư nhân tạo điều kiện cho sân khấu xã hội hóa nở rộ; tính bao dung, cởi mở của văn hóa Nam Bộ tạo đất dung nạp nhiều thể loại kịch mục mới.
    • Tác động bất lợi: Xu hướng thương mại hóa cực đoan dẫn đến tình trạng lạm dụng kịch kinh dị, kịch khai thác yếu tố giới tính lệch lạc hoặc hài nhảm để bán vé; thiếu hụt kịch bản văn học có chất lượng tư tưởng cao; sân khấu kịch công lập hoạt động kém hiệu quả; áp lực giá thuê mặt bằng rạp hát tăng cao khiến nhiều sân khấu tư nhân phải đóng cửa; khủng hoảng thế hệ diễn viên kế thừa do sự cạnh tranh từ truyền hình thực tế, gameshow và mạng xã hội.
  • Dự báo xu hướng phát triển: Kịch nói Thành phố tiếp tục phân hóa theo các phân khúc khán giả chuyên biệt (kịch thiếu nhi, kịch thể nghiệm nghệ thuật, kịch giải trí thương mại); mô hình sân khấu nhỏ tiếp tục duy trì nhưng đối mặt với thách thức tài chính; xu hướng ứng dụng công nghệ trình chiếu kỹ thuật số trên sàn diễn.
  • Hệ thống khuyến nghị: Luận án đề xuất các nhóm giải pháp về sáng tạo nghệ thuật (nâng cao chất lượng thẩm định kịch bản, đào tạo đạo diễn và biên kịch chuyên nghiệp); quản lý văn hóa (đổi mới cơ chế tài trợ nhà nước cho sân khấu xã hội hóa, tháo gỡ khó khăn về thiết chế rạp hát công cộng); phát triển khán giả (đưa kịch học đường vào trường học, đào tạo thẩm mỹ cho giới trẻ).

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về kịch nói tại Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.
  • Nhận diện và chứng minh có hệ thống ba đặc trưng cơ bản của văn hóa Nam Bộ (Tính sông nước, Tính dung hợp, Tính linh hoạt) được tích hợp trong các yếu tố cấu thành tác phẩm sân khấu kịch nói.
  • Chỉ ra quy luật vận động, biến đổi và các xu hướng phát triển của kịch nói đô thị dưới tác động của giao lưu tiếp biến văn hóa và kinh tế thị trường.

Về mặt thực tiễn:

  • Khái quát và phục dựng diễn trình lịch sử kịch nói Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh từ khi hình thành cuối thế kỷ XIX qua các mốc 1954, 1975, 1986, 1997 đến năm 2020 gắn với bối cảnh xã hội của từng thời kỳ.
  • Đúc kết các giá trị mang tính bản sắc của kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh (lối diễn xuất tự nhiên, sự ứng biến linh hoạt, tính phản ánh thực tiễn đời thường), từ đó chỉ rõ các mặt hạn chế của xu hướng thương mại hóa hiện nay.
  • Xây dựng hệ thống khuyến nghị thực tiễn nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về cơ chế quản lý, chính sách đầu tư cơ sở vật chất, giải pháp đào tạo nguồn nhân lực sáng tạo và kế hoạch phát triển khán giả cho các cơ quan quản lý nhà nước và các sân khấu kịch.
  • Cung cấp nguồn tư liệu khoa học, thư mục và phụ lục khảo sát thực chứng phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa học, Nghệ thuật học tại các cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Văn bản luận án cho thấy một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:

  • Trọng tâm khảo sát thời gian tập trung vào giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2020, do đó các tư liệu về thời kỳ đầu thế kỷ XX và giai đoạn trước năm 1975 chủ yếu dựa vào nguồn thứ cấp và hồi ký nghệ sĩ, chưa thể khai thác toàn diện các phông lưu trữ kịch bản gốc.
  • Đối tượng khảo sát thực tiễn tập trung phần lớn vào các sân khấu xã hội hóa tư nhân tại khu vực nội thành Thành phố Hồ Chí Minh; dữ liệu hoạt động của đơn vị công lập (Nhà hát Kịch Thành phố) và sự lan tỏa của kịch nói về các vùng ngoại thành hay các tỉnh lân cận thuộc đồng bằng sông Cửu Long còn chiếm dung lượng khiêm tốn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ luận án bao gồm:

  • Mở rộng so sánh định lượng và định tính về sự khác biệt trong thi pháp dàn dựng, ngôn ngữ đối thoại giữa kịch nói các vùng văn hóa (vùng văn hóa Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ).
  • Khảo sát sâu hơn tác động của công nghệ số, truyền thông đa phương tiện và công nghiệp văn hóa đối với hành vi thưởng thức kịch nói của công chúng trẻ sau năm 2020.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:

  • Nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách (Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, Cục Nghệ thuật Biểu diễn, Hội Sân khấu): Tham khảo các khuyến nghị về cơ chế hỗ trợ sân khấu xã hội hóa, quy hoạch mặt bằng nhà hát và giải pháp bảo tồn giá trị văn hóa truyền thống trong sân khấu hiện đại.
  • Giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Văn hóa học và Nghệ thuật học: Sử dụng khung phân tích lý thuyết (vùng văn hóa, lựa chọn duy lý, tiếp biến văn hóa) để nghiên cứu các loại hình nghệ thuật biểu diễn đương đại.
  • Nghệ sĩ sân khấu, đạo diễn, biên kịch: Tham khảo các phân tích về mỹ thuật sân khấu, phong cách diễn xuất và việc khai thác chất liệu văn hóa dân gian, phương ngữ Nam Bộ trong xây dựng kịch bản và dàn dựng tác phẩm.
  • Phần có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là Chương 3 (phân tích chi tiết ba đặc trưng văn hóa Nam Bộ trong kịch bản và vở diễn) cùng hệ thống Phụ lục (14 biên bản phỏng vấn sâu nhân chứng lịch sử và danh mục kịch mục sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định ba đặc điểm cơ bản nào của văn hóa Nam Bộ thể hiện trong kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh? Ba đặc điểm cơ bản được tác giả chứng minh và phân tích trong Chương 3 là: Tính sông nước (thể hiện qua thiết kế mỹ thuật cảnh trí và ngôn ngữ thoại kịch); Tính dung hợp (thể hiện qua nguồn gốc nghệ sĩ, đề tài nội dung, việc ứng dụng kịch hát Cải lương, Hát bội, âm nhạc dân gian và phương ngữ); Tính linh hoạt (thể hiện qua sự tương tác giữa chủ thể sáng tạo, tổ chức và khán giả, sự pha trộn thể loại và phong cách diễn xuất).

2. Những khung lý thuyết khoa học nào được sử dụng làm cơ sở phân tích trong luận án? Luận án sử dụng ba lý thuyết chính: Lý thuyết vùng văn hóa (với các luận điểm về trung tâm văn hóa và sự bản địa hóa của Ngô Đức Thịnh, Clark Wissler, A.L. Kroeber); Lý thuyết lựa chọn duy lý (với luận điểm về tối ưu hóa lợi ích và trao đổi xã hội của George Homans, Peter Blau, James Coleman); Lý thuyết tiếp biến văn hóa (mô hình tiếp biến sáng tạo của W.I. Thomas - F. Znaniecki, mô hình bốn chiến lược của John W. Berry và quan điểm tiếp biến văn hóa của Phạm Đức Dương).

3. Quy mô và đối tượng của phương pháp phỏng vấn sâu trong luận án được thực hiện như thế nào? Tác giả đã trực tiếp thực hiện 14 cuộc phỏng vấn sâu với thời lượng trung bình từ 120 đến 240 phút mỗi cuộc (một số nhân vật được phỏng vấn hai lần). Đối tượng phỏng vấn gồm: các nghệ sĩ gạo cội (tác giả, đạo diễn, diễn viên), nhà báo theo dõi chuyên quản sân khấu, nhà quản lý nhà hát công lập và tư nhân, nhà giáo nguyên là lãnh đạo các trường đào tạo nghệ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh và các khán giả xem kịch trung thành.

4. Tại sao luận án lại chọn mốc thời gian khảo sát trọng tâm từ năm 1997 đến năm 2020? Năm 1997 là cột mốc chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa nghệ thuật bắt đầu được triển khai, dẫn đến sự ra đời của các sân khấu kịch nói tư nhân đầu tiên và làm thay đổi diện mạo sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh. Giai đoạn đến năm 2020 phản ánh trọn vẹn chu kỳ hình thành, phát triển đỉnh cao và những khó khăn, biến động của mô hình sân khấu kịch xã hội hóa trong kinh tế thị trường.

5. Luận án chỉ ra những bất cập lớn nào của sân khấu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay? Các bất cập chính được nêu trong Chương 4 gồm: sự suy giảm số lượng khán giả; áp lực kinh tế khiến nhiều sân khấu phải đóng cửa do thiếu rạp diễn; xu hướng thương mại hóa làm nảy sinh các vở kịch nhảm, lạm dụng đề tài kinh dị hoặc giới tính lệch lạc; chất lượng kịch bản văn học giảm sút; kịch nói công lập hoạt động kém hiệu quả và nguy cơ thiếu hụt lực lượng nghệ sĩ kế thừa do sự lôi kéo của các loại hình giải trí nghe nhìn khác.

Kết luận

Luận án tiến sĩ “Kịch nói ở Tp.HCM nhìn từ đặc điểm văn hóa Nam Bộ” là công trình nghiên cứu chuyên ngành Văn hóa học tiếp cận nghệ thuật sân khấu đô thị dưới góc độ liên ngành. Bằng việc kết hợp các khung lý thuyết vùng văn hóa, lựa chọn duy lý và tiếp biến văn hóa với phương pháp phỏng vấn sâu 14 nhân vật trong nghề và khảo sát thực địa, luận án đã làm sáng tỏ ba đặc trưng văn hóa Nam Bộ (sông nước, dung hợp, linh hoạt) thể hiện trong cấu trúc vở diễn và phương thức hoạt động của các sân khấu. Công trình đã tái hiện tiến trình lịch sử kịch nói từ cuối thế kỷ XIX đến năm 2020, đánh giá các tác động đa chiều của kinh tế thị trường và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm định hướng phát triển bền vững cho nghệ thuật kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh.