mở đầu tác phẩm bằng những tiếng kêu xé lòng, đứt ruột: “Trăm năm trong cõi người ta, Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau. Trải qua một cuộc bể dâu, Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Rồi sau đó là: “Đau đớn thay phận đàn bà 16 Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”. (Nguyễn Du, Truyện Kiều) Mười lăm năm sống lưu lạc của nàng Kiều với bao khổ ải nhân gian “thanh lâu hai lượt thanh y hai lần” (Nguyễn Du, Truyện Kiều) đã trở thành một bản cáo trạng lên án chế độ phong kiến đương thời, một chế độ “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô”, coi thường vẻ đẹp và thân phận của người phụ nữ.
Nhưng sự xuất hiện của chủ nghĩa hiện sinh ở Việt Nam được xem là chính thức khi Pháp sang xâm lược nước ta vào những năm đầu của thế kỷ XX. Chính nhờ có sự tương đồng về hoàn cảnh, về tâm lý của nhân dân so với thời hậu chiến của Châu Âu nên hạt giống hiện sinh có nhiều cơ hội để phát triển. Chủ nghĩa hiện sinh hiện diện trên các thi đàn như thơ say của Vũ Hoàng Chương, thơ mới của Xuân Diệu. Tiếp đó, tư tưởng hiện sinh được phản ánh trong hàng loạt các tác phẩm văn học ở miền Nam, tiêu biểu là các tác phẩm của Duyên Anh, Nguyễn Thị Hoàng, Thanh Tâm Tuyền,.
Một đoạn thơ tiêu biểu mang cảm thức hiện sinh của Thanh Tâm Tuyền là: “Tôi buồn khóc như buồn nôn ngoài phố nắng thủy tinh tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ thanh tâm tuyền buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường tôi xin một chỗ quỳ thầm kín cho đứa nhỏ linh hồn sợ chó dữ con chó đói không màu”. (Thanh Tâm Tuyền, Phục sinh) 17 Đối với Thanh Tâm Tuyền, cuộc đời con người chán lắm, buồn nôn lắm. Thi sĩ đi trên hè phố với một đứa nhỏ tội nghiệp, đứa nhỏ ấy có thể là nhược điểm của con người (một mặc cảm, một sự thất vọng, một sự tổn thương, một sự chán chường…). Đứa nhỏ ấy đi theo Thanh Tâm Tuyền hay một thanh niên nào đó trên hè phố với “buổi chiều sao vỡ vào chuông giáo đường”.
Đứa nhỏ ấy thật khổ sở. Chính vì vậy Thanh Tâm Tuyền muốn xin cho nó một chỗ quỳ để tuôn ra ngoài nỗi xót thương. Đó phải là một chỗ thật thầm kín bởi đứa nhỏ ấy muốn yên nghỉ, muốn xa lánh và trốn tránh sự giáp mặt với những buồn nôn của cuộc đời. Đó cũng có thể là cái chết.
Cái chết như một chỗ ẩn thân, một sự trở về quê hương hay một ân sủng duy nhất của con người. Sự bí ẩn của cái chết sẽ kết thúc tất cả, kết thúc sự buồn tênh lại cười hay khi vui muốn khóc. Các tác phẩm ấy dù rất hay nhưng do những đặc thù về văn hóa, lịch sử mà xã hội Việt Nam lúc bấy giờ vẫn còn dè dặt, khắt khe với các tác phẩm viết về hiện sinh. Thậm chí có nhiều người còn cho rằng “hiện sinh thường gợi đến lối sống hưởng thụ, trụy lạc, chỉ biết hôm nay và thờ ơ với tất thảy” (Thái Phan Vàng Anh, 2015).
Từ sau năm 1986, với sự thay đổi về đường lối, chính sách của Đảng và sự du nhập của triết- mĩ hiện sinh, văn học đã có những sắc thái thẩm mĩ mới, khẳng định được phong cách riêng của nhà văn. Sự chuyển đổi đời sống xã hội sau chiến tranh, sự thay đổi trong tư duy nghệ thuật, sự chuyển đổi trong nhận thức về con người, về bản thể là những điều kiện hình thành cảm thức hiện sinh trong văn học. Trong nền văn xuôi Việt Nam thời kì sau đổi mới, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều tác giả nổi lên với những ám ảnh hiện sinh như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… (thế hệ đi trước); Nguyễn Việt Hà, Đoàn Minh Phượng, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái, Ngyễn Ngọc Tư, Nguyễn Ngọc Thuần, Vũ Đình Giang, Nguyễn Danh Lam. 18 Cảm thức hiện sinh trong văn học thời kì này chủ yếu gắn liền với những bi kịch cá nhân của con người.
Mọi phương diện trong đời sống cá nhân của con người đã được chạm tới. “Những ưu tư, trăn trở về bản thể, về thân phận con người. Mối quan hệ giữa con người với đời sống trở nên ít tương thích, thiếu hòa hợp. Không gian, thời gian hiện hữu không còn chỉ là môi trường, hoàn cảnh vốn mang tính chất nguyên nhân - kết quả hay hỗ trợ - cản trở mà trở thành “bầu khí quyển” của hữu thể, can dự trực tiếp vào thế giới hiện sinh của con người” (Thái Phan Vàng Anh, 2015) trở thành những biểu hiện chủ yếu của cảm thức hiện sinh thời kì này.
Điều đó làm cho nội dung và hình thức tác phẩm có nhiều đổi mới, có khả năng hội nhập vào dòng chảy của văn học thế giới. Sau gần ba mươi năm phát triển, văn học Việt Nam đã có một khuynh hướng hiện sinh trong bức tranh đa khuynh hướng chung của văn học những năm đầu thế kỉ XXI. Sau những bước thăng trầm, văn học hiện sinh đã có một sự trở lại đầy ấn tượng “từ việc “e dè” xuất hiện trở lại văn đàn vào cuối thế kỉ XX và “nở rộ” những năm đầu thế kỉ XXI” (Thái Phan Vàng Anh, 2015). Sự xuất hiện của tiểu thuyết, truyện ngắn hiện sinh những năm đầu thế kỉ này là điều tất yếu bởi đã từng có một dòng văn học hiện sinh ở miền Nam những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỉ trước, bởi các trăn trở hiện sinh chẳng bao giờ xa lạ đối với con người và các tác phẩm văn xuôi của những năm chín mươi đã ít nhiều chạm đến.
Tuy vậy, tiểu thuyết, truyện ngắn theo khuynh hướng hiện sinh những năm đầu thế kỉ XXI ít nhiều đã đem lại cảm giác “mới” do không chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các tác giả nước ngoài, do nó vừa mang cảm quan hậu hiện đại vừa là biểu hiện của cảm quan hậu hiện đại. Thời đại thay đổi, tinh thần hiện sinh cũng thay đổi theo. Văn học Việt Nam đầu thế kỉ đã phát triển một bước mới trong việc “chăm chú vào cái tôi bí ẩn”. Trên hành trình không ngừng khám phá cái tôi, các nhà văn Việt Nam đã gặp gỡ, tiếp nhận từ triết – mĩ học hiện sinh nhiều vấn đề cơ bản như khẳng định nhân vị, thân xác và tính dục.
Tuy nhiên cùng với việc chú trọng đến phương diện hiện sinh nhân vị và hiện sinh tính dục, văn học đầu thế kỉ XXI cũng phải 19 đối mặt với các xu thế tiếp nhận khác nhau. Sẽ có những tác phẩm bị đào thải, nhưng cũng sẽ có những tác phẩm trở thành dấu mốc của quá trình chuyển đổi từ ngoại vi đến trung tâm. Đây cũng là bằng chứng cho thấy cảm thức hiện sinh trong văn học đầu thế kỉ XXI thống nhất, gặp gỡ với cảm quan hiện đại, hậu hiện đại. Hiện sinh là triết học về con người.
Chính vì vậy, khi nghiên cứu về chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam, chúng ta cần chú ý đến hình tượng con người. Ở mỗi thời kì khác nhau, dưới sự tác động của các điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội khác nhau, việc xây dựng hình tượng con người cũng có sự thay đổi. Nếu con người lí tưởng của văn học trung đại là những kẻ sĩ, những tài tử giai nhân; con người lí tưởng của văn học giai đoạn 1930 – 1945 là những thanh niên trí thức hoặc những con người bé mọn thì trong giai đoạn 1945 – 1975, thực tế cách mạng đã mang lại cho người cầm bút những định hướng mới về quan niệm con người. Đối tượng thẩm mĩ chính của văn học giai đoạn này là những con người quần chúng cách mạng.
Vai trò của quần chúng nhân dân trong các cuộc cách mạng, trong thực tiễn đấu tranh dựng nước và giữ nước đã trở thành nền tảng, cơ sở nảy sinh ý thức về quan niệm con người của nền văn học mới. Trong suy nghĩ của người cầm bút, quần chúng nhân dân như một tập thể ngày càng phát triển phong phú và toàn diện hơn, trở thành nhân vật chính của văn nghệ. Từ đây, con người cao đẹp mà văn học hướng tới là con người quần chúng cách mạng, là con người của cộng đồng trong nhiệm vụ đấu tranh giải phòng dân tộc. Con người ấy mang trên mình những phẩm chất, đạo đức cách mạng.
Nền văn học mới tìm tòi, phát hiện, xây dựng, cổ vũ những vẻ đẹp của con người xuất hiện, trưởng thành trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng CNXH của toàn dân ta. Vẻ đẹp của con người trong giai đoạn này được nhìn nhận và thể hiện qua những ý thức và hành động hướng về cách mạng, về nhiệm vụ chung của họ. Vẻ đẹp ấy được biểu hiện trước hết ở sự giác ngộ, tự nguyện gánh lấy sứ mạng cách mạng, ở những nỗ lực, cố gắng cải biến thiên nhiên, xã hội và bản thân vì hạnh 20 phúc của nhân dân. Vẻ đẹp của nhân vật văn học phải gắn liền với lòng yêu nước, sự căm thù giặc, ý chí, quyết tâm chiến đấu, sẵn sàng hi sinh vì độc lập dân tộc.
Đó là ông Hai trong Làng (Kim Lân) từ con người của làng quê, ông trở thành con người của kháng chiến, của sự nghiệp chung; là anh hùng Núp trong Ðất nước đứng lên (Nguyên Ngọc); chị Út Tịch trong Người mẹ cầm súng (Nguyễn Thi); chị Sứ trong Hòn Ðất (Anh Ðức); những con người từ trẻ đến già trong Mẹ vắng nhà, Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi); Khuê, Lữ trong Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu). Họ đều là những con người có lòng yêu nước nồng nàn, tự nguyện, náo nức tham gia kháng chiến, vui mừng, lo lắng theo từng diễn biến của cuộc chiến, xem việc tham gia cách mạng, cầm súng đánh giặc giải phóng quê hương, thống nhất đất nước là niềm vui sướng nhất trên đời. Không chỉ xuất hiện ở thể loại văn xuôi, lần đầu tiên trong lịch sử thơ ca Việt Nam, các nhà thơ giai đoạn 1945 – 1975 đã mang tới một hình tượng nghệ thuật về con người xã hội với một số đông, tạo thành một lực lượng xã hội hùng hậu.