Chương 1. Những vấn đề chung về nhà văn Bùi Ngọc Tấn, về chủ nghĩa hậu hiện đại. Trong chương một, chúng tôi trình bày khoảng 12 trang liên quan tiểu sử cuộc đời, tác phẩm. Những ảnh hưởng đến cuộc sống cuộc và sự nghiệp sáng tác, cũng như đến bối cảnh xã hội lúc bấy giờ.
Từ đó, chúng tôi sẽ đưa ra những quan điểm sáng tác và những đóng góp của Bùi Ngọc Tấn trong văn học Việt Nam. Đồng thời, những nội dung trong chương một là cơ sở cơ bản định hướng cho chúng tôi nghiên cứu, phân tích tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn nhìn từ nội dung và nghệ thuật ở các chương tiếp theo. Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn nhìn từ nội dung. Trong chương hai, chúng tôi trình bài khoảng 25 trang.
Chúng tôi sẽ làm rõ đặc điểm nội dung trong tác phẩm và nguồn cảm ứng sáng tác về thế sự và xã hội lúc bấy giờ. Từ đó, chúng tôi khẳng định dựa trên cơ sở phân tích nhằm rõ phong cách sáng tác, cũng như sắc thái riêng của tác giả trong văn học hạu hiện đại. Tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn góp phần làm phong phú cho văn học Việt Nam. Yếu tố hậu hiện đại trong tập truyện ngắn “Người chăn kiến” của Bùi Ngọc Tấn nhìn từ nghệ thuật.
Chúng tôi phân tích, đối chiếu so sánh tác phẩm của Bùi Ngọc Tấn với một số nhà văn để sự khác biệt nhưng đồng thời cũng có sự ảnh hưởng đến giọng điệu, ngôn ngữ, nhân vật và thể loại nhằm làm rõ phong cách và tài năng của Bùi Ngọc Tấn. Qua đó, chúng tôi sẽ đưa ra cái nhìn khái quát 6 khách quan về những thành công và hạn chế của tác giả. Những đóng góp về văn học của nhà văn trong sự nghiệp sáng tác nói riêng và văn học Việt Nam nói chung. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÀ VĂN BÙI NGỌC TẤN, VỀ CHỦ NGHĨA HẬU HIỆN ĐẠI Tác phẩm văn chương sản sinh, tồn tại và lưu truyền trong một môi trường nhất định và chịu sự chi phối của môi trường.
Trong hoạt động giao tiếp của tác phẩm, môi trường là hoàn cảnh, là ngữ cảnh. Sự ra đời, sự sống của tác phẩm là do môi trường chi phối. Trong đó, môi trường chân không không có chức năng này. Để cảm thụ và phân tích tác phẩm văn chương cần phải đặt tác phẩm trong mối quan hệ với hoàn cảnh và môi trường của nó.
Đầu tiên là mối quan hệ của tác phẩm với tác giả, là người sản sinh ra tác phẩm. Khi tìm hiểu về tác giả, về cuộc đời, về tư tưởng nghệ thuật, phong cách nghệ thuật của tác giả góp phần quan trọng trong vào việc phân tích để giải mã tác phẩm. Tuy nhiên, giữa con người thật ở ngoài đời và tác giả của tác phẩm không có sự đồng nhất tuyệt đối. Nhưng những nét riêng về tư tưởng nghệ thuật, phong cách ngôn ngữ, phong cách sáng tác thì luôn để lại dấu ấn trong tác phẩm.
Nó sẽ là cơ sở để người tiếp nhận làm căn bản để lí giải thích hợp cho tác phẩm (Bùi Minh Toán, 2017). Cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Bùi Ngọc Tấn 1. Tiểu sử của nhà văn Bùi Ngọc Tấn Bùi Ngọc Tấn sinh năm 1934 và mất vào năm 2014. Ông là nhà báo, nhà văn Việt Nam.
Quê của ông ở làng Câu Tử Ngoại, xã Hợp Thành, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Năm 1954, khi ông hai mươi tuổi thì bắt đầu viết văn và viết báo. Các sáng tác của ông được in ở các nhà xuất bản Văn học, Lao động, Thanh niên… Gia đình ông có sáu thành viên, nên cuộc sống gặp nhiều khó khăn, ông phải tập trung vào viết báo để kiếm thêm thu nhập. Từ năm 1968 đến năm 1973 là những năm sóng gió trong cuộc đời của Bùi Ngọc Tấn, ông bị đi tập trung cải tạo với nguyên nhân là chơi với người bạn hàng xóm Hồng Sĩ có “vấn đề về tư tưởng” (theo nhà văn Vũ Thư Hiên).
Trong thời gian nhà văn đang ở trại cải tạo, vợ của ông bị cho thôi việc ở trường Đại học. Lúc 8 mới ra trại, ông gặp khó khăn trong việc kiếm sống, do những hoàn cảnh giới hạn và những định kiến lúc bấy giờ. Từ năm 1974 đến năm 1993, ông được nhận vào làm ở công ty Thủy sản. Trong gần hai mươi năm, nhà văn ở ẩn không viết lách.
Năm 1993, Bùi Ngọc Tấn bắt đầu trở lại với nghề viết lách. Tác phẩm của ông được đăng trên tạp chí Cửa biển ở Hải Phòng với bài viết “Nguyên Hồng, thời đã mất”. Sau đó ông tiếp tục sáng tác. Đến năm 2014, ông bị bệnh nặng và mất tại nhà con trai Bùi Ngọc Hiến ở Hải Phòng.
Bùi Ngọc Tấn đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc sống và sự nghiệp văn chương, nhưng ông không từ bỏ nghề viết văn bởi niềm đam mê và mong muốn được cống hiến những tác phẩm văn chương của mình cho văn học Việt Nam. Tác phẩm của nhà văn Bùi Ngọc Tấn Bùi Ngọc Tấn đã để lại cho độc giả và văn học Việt Nam những tác phẩm tâm đắc qua những trải nghiệm trong cuộc đời. Các tác phẩm: Mùa cưới, Ngày và đêm trên Vịnh Bái Tử Long (phóng sự), Đêm tháng 10, Người gác đèn cửa Nam Triệu (truyện ký), Nhật kí xi măng, Nhằm thẳng quân thù mà bắn; Thuyền trưởng (truyện vừa); Nguyên Hồng, thời đã mất (1993), Một thời để mất (hồi kí, 1995), Một ngày dài đằng đẵng (tập truyện ngắn), Những người rách việc (tập truyện ngắn, 1996), Chuyện kể năm 2000 (tiểu thuyết, 2000), Truyện ngắn Bùi Ngọc Tấn (tập truyện ngắn, 2003), Rừng xưa xanh lá (kí chân dung, 2004), Kiếp chó (tập truyện ngắn, 2007), Biển và chim bói cá (tiểu thuyết, 2008), Người chăn kiến (tập truyện ngắn, 2010), Viết về bè bạn (kí, 2012)…. Riêng tác phẩm Chuyện kể năm 2000 (tiểu thuyết, 2000), được đánh giá cao ở nước ngoài và dịch ra nhiều thứ tiếng như tiếng Anh, Đức và Pháp.
Cuốn sách này do nhà xuất bản Thanh niên ấn hành. Tuy nhiên, cuốn sách này vừa in vào tháng 02/2000 thì tháng 03/2000 Bộ Văn hóa - Thông tin đã ký quyết định số 395 đình chỉ và bị thu hồi để tiêu hủy. 9 Bùi Ngọc Tấn là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Trong sự nghiệp sáng tác, ông đã đạt được những giải thưởng cao quý như: - Giải thưởng văn học Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Hải Phòng; - Các giải thưởng của báo Văn nghệ, tạp chí Văn nghệ quân đội, Bộ Văn hóa thông tin, Nhà xuất bản Hội Nhà văn; - Giải thưởng Henri Queffenlec của Pháp vào năm 2012 với tác phẩm Biển và chim bói cá (tiểu thuyết, 2008), tác phẩm dựa trên những trải nghiệm trong cuộc sống của ông khi làm việc ở xí nghiệp Thủy sản từ năm 1974 đến 1993.
- Giải thưởng văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam năm 2004 với tác phẩm Rừng xanh lá (kí chân dung, năm 2004), giải B (không có giải A). Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” (tập truyện ngắn, 2010) cũng đã mang đến nhiều ý kiến khác nhau, làm cho tập truyện ngắn càng gây được nhiều sự chú ý của độc giả. Tập truyện ngắn “Người chăn kiến” (2014) gồm Mười chín truyện ngắn: Một tối vui; Cún; Nghệ thuật đích thực; Người mua nhà của bố mẹ tôi; Khói; Lạc đội hình; Một cuộc thi hoa hậu; Thói quen; Những người đi ở; Làng có 99 cái ao, cây đa 99 cành và ông đại tá về hưu; Người chăn kiến; Ngưu tất, hồng hoa, nga truật; Dị bản một truyện đã in; Sức khỏe của bố; Truyện không tên; Một ngày dài đằng đẵng; Trung sĩ; Người ở cực bên kia; Vũ trụ không cùng. Và hai bài viết: “Bùi Ngọc Tấn và hóa học của nhân bản” của Dương Tường và “Bùi Ngọc Tấn, nhà văn, và hắn” Phạm Xuân Nguyên.
Mười chín truyện ngắn là những mảnh đời của những con người trong cuộc sống đời thường. Trong xã hội rộng lớn có muôn điều không sao nói hết, nhưng các câu chuyện và nhiều mảnh đời vụn vỡ, xô lệch được Bùi Ngọc Tấn nói đến như một thước phim ngắn. Đôi nét về lý thuyết hậu hiện đại 1. Sự ra đời và những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa hiện đại (Modernism) Chủ nghĩa hiện đại xuất hiện cuối thế kỉ XIX, theo nghĩa rộng của khái niệm về chủ nghĩa hiện đại là nói đến những trào lưu văn học nghệ thuật ở các nước phương Tây, nêu chủ trương đoạn giao với thơ văn lãng mạn trước đó và nêu rõ 10 những phương pháp sáng tác mới và quan điểm mới như chủ nghĩa Dada (dadaism), chủ nghĩa lập thể (cubism), chủ nghĩa vị lai (futurism), chủ nghĩa ấn tượng (impressionism), chủ nghĩa tượng trưng (symbolism), chủ nghĩa siêu thực (surrealism), chủ nghĩa biểu hiện (expressionism), chủ nghĩa hiện sinh (existentialism)… Sau chiến tranh thế giới thứ II, chủ nghĩa hiện đại làm dấy lên các làn sóng mới như tiểu thuyết mới, kịch phi lý.
Ngoài ra, chủ nghĩa hiện đại còn phê phán chủ nghĩa hiện thực chỉ là sự mô phỏng và lệ thuộc vào thực tại. Trong khi đó, nghệ thuật hiện đại vừa phân tích sâu sắc cuộc sống và vượt thoát khỏi cuộc sống. Nhưng sau một thời gian dài thì xu hướng hậu hiện đại xuất hiện kế tiếp. Văn học là nguồn tài sản trí thức vô cùng quý giá của con người, sự tích lũy của những con người bình thường đến những trí thức bậc tài thông tuệ qua những kinh nghiệm và hiểu biết của tộc người và nhân loại từ sơ khai đến hình thành và phát triển.
Sáng tác và tiếp nhận văn học ở Việt Nam qua các tác giả nổi tiếng của văn học nước ngoài. Một số tác giả và tác phẩm nổi tiếng nước ngoài tiêu biểu: Các tác giả người Mỹ như Washington Irving 1783 (Rip Van Winkle, Truyền thuyết về thung lũng ngủ yên), Edgar Allan Poe 1809 (Sự sụp đổ của ngôi nhà Usher), Walt Whitman 1819 (lá cỏ), Mark Twain 1835 (Con ếch nhảy trứ danh ở Calaveras), O. Henry 1862 (Chiếc lá cuối cùng), Jack London, Ernest Hemingway 1899 (Ông già và biển cả), Arthur Miller, Paul Auster, F. Tolkien 1892 (Chúa tể của những chiếc nhẫn), Agatha Christie 1890 (Thảm kịch bí ẩn ở Styles), Jane Austen 1775 (Kiêu hanh và định kiến), Emily Bronte 1818 (Đồi gió hú), Một số tác giả nước khác như Ireland: Oscar Wilde 1854 (Bức tranh của Dorian Gray), Columbia: Gabriel Garcia Marquez 1928 (Trăm năm cô đơn), Cộng Hòa Sec: Franz Kafka 1883 (Hóa thân), Scotland: Arthur Conan Doyle 1859 (Những cuộc phiêu lưu của Sherlock Holmes), Tây Ban Nha: Miguel de Cervantes (Don Quixote), Đức: Goethe 1749 (Faust – kịch thơ), Anh em nhà Grimm 1785 và 1786 (Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn, Công chúa ngủ trong rừng)… Tiếp nhận và so sánh qua thể loại lớn: thơ, kịch, tự sự.