Chương 1. TRUYỆN NGẮN CỦA CAO DUY SƠN VÀ VẤN ĐỀ GIAO THOA THỂ LOẠI TRONG VĂN HỌC 1. Vấn đề giao thoa thể loại trong văn học 1. Hiện tượng giao thoa thể loại trong văn học Các nhà nghiên cứu văn học đều đã khẳng định: Cấu trúc thể loại của văn học là một “đơn vị” có tính ổn định và bền vững nhất so với các “đơn vị” khác tưởng chừng như rất quan trọng trong mỗi nền văn học như tác giả văn học, tác phẩm văn học, trào lưu văn học… và khi cần đánh giá sự chuyển đổi hệ hình tư duy nghệ thuật từ thời đại văn học này sang một thời đại văn học khác, bên cạnh việc nghiên cứu các tác giả, tác phẩm xuất sắc của từng thời đại ấy thì việc nghiên cứu quá trình vận động - tiếp biến của cấu trúc các thể loại văn học lại cho chúng ta những câu trả lời hết sức thú vị về sự chuyển đổi tư duy nghệ thuật, quan điểm nghệ thuật, cảm hứng nghệ thuật của các khuynh hướng sáng tác văn học khác nhau qua hai thời đại văn học.
Từ khởi điểm đổi mới 1986 đến nay ở Việt Nam, việc dịch thuật và xuất bản hàng loạt các tác phẩm văn học ưu tú, cùng các công trình lí luận văn học xuất sắc của nhân loại vào Việt Nam, đã vừa “mở đường” về lí luận sáng tác văn học, về vấn đề giao thoa thể loại, vừa khích lệ các nhà văn, nhà thơ mở rộng “đường biên” của thể loại, thậm chí phá vỡ “ranh giới” của thể loại để cộng sinh các phẩm chất đặc thù của từng thể loại văn học khác nhau vào trong một tác phẩm văn học. Hiện tượng này thực ra cũng rải rác xuất hiện trong văn học Việt Nam hiện đại từ trước thời điểm năm 1986, như chất thơ trong truyện ngắn của Đỗ Chu, của Nguyễn Thành Long… Chất văn xuôi trong thơ của Lưu Quang Vũ, Việt Phương… Nhưng có thể khẳng định rằng, phải sau năm 1986, hiện tượng giao thoa thể loại mới trở thành một xu thế sáng tác rộng khắp trong văn học Việt Nam hiện đại. Vậy hiện tượng giao thoa thể loại trong văn học này phản ánh điều gì từ trong bối cảnh xã hội hôm nay, và trong lực lượng sáng tác văn học ở Việt Nam? Có thể khẳng định rằng hiện tượng giao thoa thể loại ấy đã phản ánh không khí dân chủ và tinh thần đối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 13 thoại, cởi mở trong đời sống xã hội Việt Nam sau đổi mới, không khí và tinh thần ấy lại may mắn bắt gặp một dòng sông ngầm sục sôi đã chảy từ lâu trong các văn nghệ sĩ Việt Nam: đó là khát vọng đổi mới văn học mang tính tự thân của các văn nghệ sĩ. Bởi thơ Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên dẫu hay ở giai đoạn 1930-1945, nhưng đến hôm nay các nhà thơ không thể viết như thế nếu muốn thành công.
Truyện ngắn của Nam Cao, tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng là những kiệt tác của giai đoạn văn học ấy. Nhưng các nhà văn Việt Nam ở giai đoạn sáng tác sau 1986 cũng không thể đặt dấu chân của mình vào đúng những vết chân của người đi trước, vì cách tân văn học vừa là nhu cầu sống còn, vừa là con đường để đi tới thành công. Văn học tối kị sự lặp lại người khác và lặp lại chính mình. Mỗi tác phẩm văn học xuất sắc phải là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo không lặp lại của bất cứ ai và không lặp lại chính mình.
Chính vì thế, hiện tượng giao thoa thể loại nếu nhìn qua thì tưởng như chỉ là kết quả của một “trò chơi nghệ thuật” của các văn sĩ và thi sĩ. Nhưng thực chất là sản phẩm tất yếu ra đời từ những đòi hỏi bức thiết của xã hội, và từ nhu cầu cách tân không ngừng nghỉ trên hành trình sáng tạo của các nhà nghệ sĩ chân chính ở Việt Nam, cũng như trên thế giới. Thực ra sự phân chia các thể loại văn học từ góc nhìn của lí luận văn học cũng chỉ mang tính tương đối, bởi vì đường "ranh giới" của các thể loại văn học luôn có xu thế "giãn nở" và đặc trưng của chúng luôn "xâm lấn" sang nhau. Đây là một quy luật phổ biến trong đời sống các thể loại văn học trên thế giới cũng như ở Việt Nam, chính quy luật ấy sẽ khiến cho các thể loại văn học trở nên "giàu có" hơn khi liên tục thu hút vào trong nó những tinh hoa của các thể loại văn học khác.
Ví dụ: Truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan có yếu tố của kịch bản văn học rất rõ nét, truyện ngắn của Thạch Lam như Hai đứa trẻ (1938), Dưới bóng Hoàng Lan (2017) lại mang đậm chất thơ của tác phẩm trữ tình, tản văn của Y Phương gần đây nổi lên như một hiện tượng văn học thú vị với ba tập: Tháng giêng tháng giêng một vòng dao quắm (2009), Kungfu người Co Xầu (2011), Củi tết (2016). Mà trong đó đặc trưng của truyện ngắn xuất hiện trong tản văn Bắt khách, chất thơ của tác phẩm trữ tình bàng bạc trong tất cả các tản văn còn lại như: Giếng chàm xanh như ngọc, Thư gửi bạn chăn trâu, Củi tết… Với văn học thế giới, hiện tượng kể trên cũng rất phổ biến: Chất thơ và yếu tố chính luận xuất hiện trong tiểu thuyết của VictoHuygo - Những người khốn khổ (1862); Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 14 chất thơ và các đặc điểm của ký văn học xuất hiện trong hai tập truyện ngắn Bông hồng vàng và bình minh mưa (1955) của Pautopxki; đặc biệt chất thơ và đặc điểm của kịch bản văn học xuất hiện trong tập truyện Núi đồi và thảo nguyên (1961) của Aimatop… Như vậy, có thể khẳng định rằng các đặc điểm và cấu trúc thể loại của các thể loại văn học được xác định chỉ mang tính tương đối, luôn vận động, biến đổi trong xu thế giao thoa thể loại ngày càng mạnh mẽ như một quy luật tất yếu. Truyện ngắn của Cao Duy Sơn cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Sự giao thoa giữa chất thơ và chất văn xuôi trong văn xuôi Việt Nam đương đại Văn xuôi Việt Nam đương đại hiện đang có sự đan xen các thế hệ sáng tác khác nhau, và rất đa dạng về khuynh hướng sáng tác cũng như phong cách nghệ thuật.
Nhưng khá nhiều những cây bút văn xuôi đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn và thành công chất thơ của tác phẩm trữ tình với chất văn xuôi của tác phẩm tự sự trong sáng tác của mình. Có thể khẳng định rằng, dù với độ đậm nhạt khác nhau, sự giao thoa giữa chất thơ và chất văn xuôi trong sáng tác của các nhà văn kể trên cũng là một hiện tượng mang tính quy luật nghệ thuật. Vậy, chất thơ và chất văn xuôi là gì? Chất thơ là một phẩm chất thẩm mĩ đặc thù của tác phẩm trữ tình. Hiện nay trong các giáo trình Lí luận văn học, Từ điển Thuật ngữ Văn học, Từ điển Văn học (bộ mới), Từ điển Tiếng việt đều chưa đưa ra định nghĩa về chất thơ.
Trong bộ giáo trình Lí luận văn học 3 tập của trường Đại học Sư phạm Hà Nội do Trần Đình Sử chủ biên, tập 2 có nhan đề tác phẩm và thể loại văn học, Trần Đình Sử có dành hơn một trang để nói về chất thơ, nhưng nội dung của trang viết ấy lại chỉ phân tích những hiệu quả nghệ thuật mà chất thơ đem lại chứ không trả lời câu hỏi chất thơ là gì. Theo tìm hiểu của chúng tôi, có thể tạm thời đưa ra một khái niệm ban đầu về chất thơ như sau: - Đó là một phẩm chất đặc thù của tác phẩm trữ tình với nguyên tắc nghệ thuật đòi hỏi nhà thơ phải phản ánh hiện thực về cuộc sống và con người qua "lăng kính" lãng mạn hóa, lí tưởng hóa, thậm chí phi thường hóa. Mọi sự vật hiện tượng trong đời sống được đưa vào thơ phải gắn với cái đẹp, cái cao cả ở mức độ lí tưởng. Cái xấu, cái ác cùng những hiện tượng xù xì, thô nhám của đời sống hoặc bị loại bỏ hoặc bị tỉnh lược tối đa để phù Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn c 15 hợp với yêu cầu của chất thơ.
Nhà thơ với vai trò là chủ thể trữ tình luôn bộc bạch trực tiếp suy tư cảm xúc, tình cảm của mình trong tác phẩm. Bởi vậy, nội dung của tác phẩm trữ tình là bức tranh tâm trạng đậm tính chủ quan nhưng phải đạt tới tính điển hình của chủ thể trữ tình. Ngay cả những bài thơ tự sự dài, ít nhiều có yếu tố cốt truyện như Núi đôi (1956) của Vũ Cao, Quê hương (1962) của Giang Nam, Nước non ngàn dặm (1973) của Tố Hữu thì yếu tố cốt truyện ở đây cũng chỉ là cái cớ để nhà thơ bộc bạch thế giới nội cảm của mình. Ngược lại với chất thơ là chất văn xuôi.
Đây là khái niệm dùng để chỉ một phẩm chất đặc thù của tác phẩm tự sự, đòi hỏi nhà văn phải xây dựng một thế giới mang màu sắc khách quan trong tác phẩm của mình theo nguyên tắc nghệ thuật cụ thể, chân thực và điển hình hóa (nói đến "màu sắc khách quan" bởi vì nội dung của tác phẩm văn học nào cũng là hình ảnh thế giới khách quan qua cái nhìn chủ quan của tác giả. Nhưng cái nhìn chủ quan của nhà thơ trong tác phẩm trữ tình được bộc lộ trực tiếp, còn cái nhìn chủ quan của nhà văn, tác phẩm tự sự lại được giấu kín và chỉ được biểu hiện gián tiếp đằng sau thế giới nghệ thuật của tác phẩm mà nhà văn ấy xây dựng nên). Như vậy chất thơ và chất văn xuôi là hai phẩm chất thẩm mỹ đối lập nhau, nhưng trong văn xuôi Việt Nam hiện đại thì chúng luôn có xu thế giao thoa với nhau. Văn xuôi Việt Nam đương đại có sự góp mặt của ba thế hệ nhà văn đầy tài năng và khát vọng sáng tạo nghệ thuật.