Chương 1. TÌNH CẢM VÀ Ý CHÍ 1. Khái niệm chung về tình cảm 1. Định nghĩa tình cảm Xét ở phương diện chất lượng và ý nghĩa cuộc sống của con người, không có khía cạnh nào trong đời sống tinh thần của họ có vai trò quan trọng hơn xúc cảm, tình cảm.
Con người không chỉ nhận thức các sự vật, hiện tượng, các mối liên hệ, các quy luật của chúng mà luôn luôn tỏ thái độ của mình với chúng. Khi hoàn thành một công việc nào đó thường tỏ thái độ hài lòng hay không hài lòng. Đồng thời, khi tìm ra cách giải quyết một vấn đề, khi phát hiện ra những tri thức mới. con người còn tỏ thái độ phấn khởi hay buồn chán.
Vì lẽ đó không có gì đáng ngạc nhiên khi vấn đề xúc cảm, tình cảm đã được đề cập đến ngay từ thời Cổ đại trong các quan điểm của Platon (428 - 348 TCN), Arixtốt (Aristote, 384 - 322 TCN), sau này là, Đề các (1596 - 1650), Spinôza (1632 - 1677) và rất nhiều những nhà tâm lí học nổi tiếng như James (1842 - 1910), Freud (1856 - 1939) Phestinger, Plutchik, Izard. Tuy vậy, đến nay chưa có một định nghĩa về xúc cảm, tình cảm được nhất trí hoàn toàn. Nhìn chung, khi đề cập tới xúc cảm và tình cảm các tác giả chủ yếu đề cập tới xúc cảm, mà không phân biệt xúc cảm với tình cảm. Có thể kể đến một số các quan niệm khác nhau về xúc cảm như sau: Platon đưa ra lí thuyết-ba trạng thái.
Ông cho rằng có ba trạng thái xúc cảm. Đó là: trạng thái dễ chịu, trạng thái đau đớn và một trạng thái trung tính - còn được gọi là trạng thái hài hoà. Trạng thái hài hoà là xuất phát của trạng thái đau đớn. Đau đớn là sự phá huỷ cái hài hoà, còn dễ chịu là sự khôi phục cái hài hoà đó.
Bên cạnh đó, một điều rất đáng chú ý ở Platon là ông đưa ra một thành tố độc lập, phi cơ thể để giải thích xúc cảm. Đó là nguyên tắc mong muốn và sự thoả mãn mong muốn, tức là xúc cảm, tình cảm gắn liền với việc thoả mãn nhu cầu của con người. Aristote cho rằng, sự dễ chịu và nỗi đau là cơ sở của mọi xúc cảm. Xúc cảm là sự phân loại và nhận ra các đặc trưng đầu tiên của sự vật, hiện tượng.
Trong ý tưởng này điều mà hiện nay các nhà tâm lí học nhận thức đồng tình khi nói về xúc cảm của con người là trong xúc cảm có nhân tố nhận thức. Chủ thể sở dĩ có xúc cảm, tình cảm là do nó để nhận thấy các đặc trưng, các dấu hiệu nào đó của sự vật, hiện tượng. Điều này cũng sẽ được chỉ ra khi chúng ta nói về các đặc điểm của tình cảm. Một lí thuyết tương đối đầy đủ đầu tiên và đơn giản nhất về xúc cảm là Thuyết xúc cảm của Jame - Lange.
James (1842 - 1910) là nhà triết học, tâm lí học Mĩ đã kết hợp cùng nhà sinh tí học Đan Mạch - Lange - sáng lập ra thuyết về cảm xúc. Trong đó xúc cảm được coi là tổng hợp các thay đổi trạng thái cơ thể, xuất hiện trước một tác động từ bên ngoài được con người nhận thức. Cách định nghĩa này đồng nhất xúc cảm và trạng thái sinh lí của cơ thể. Do vậy, định nghĩa này không được các nhà tâm lí học hiện đại đồng tình.
Sau lí thuyết của Jame - Lange có một loạt các lí thuyết khác giải thích xúc cảm và đưa ra các định nghĩa khác nhau. Trong đó có lí thuyết của Cannon - Bard - các nhà tâm lí học Mĩ (1927). Lí thuyết này lại cho rằng xúc cảm đồng thời với các thay đổi sinh học của cơ thể. Bên cạnh đó là Thuyết Hoạt hoá của Lincey - Hebb, Thuyết Nhận thức của L.
Điểm đáng chú ý ở Thuyết Nhận thức là xúc cảm nảy sinh ở chủ thể khi các kì vọng, mong đợi của nó có được đáp ứng hay không, các biểu tượng nhận thức của chủ thể có được thực hiện trong hiện thực hay không. Các xúc cảm này khác xuất hiện là do chủ thể so sánh, đối chiếu các kì vọng của mình với kết quả của hoạt động thực tế. Như vậy, các cách lí giải xúc cảm, tình cảm nêu trên chưa đưa ra được một cách đầy đủ những nét bản chất của xúc cảm và tình cảm, tuy đã có những hạt nhân hợp lí như trong cách tiếp cận nhận thức của L. Tâm lí học hiện đại coi xúc cảm, tình cảm là những trải nghiệm chủ quan của chủ thể về mối quan hệ của nó đối với các sự vật hiện tượng và con người xung quanh.
Vậy, nên hiểu xúc cảm, tình cảm như thế nào? Xuất phát từ bản chất của tâm lí người theo quan điểm của Tâm lí học duy vật biện chứng đã giúp chúng ta thấy rõ bản chất của xúc cảm, tình cảm. Xúc cảm, tình cảm là một loại hiện tượng tâm lí đặc biệt của chủ thể. Nó thể hiện thái độ của con người đối với các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan. Niềm vui, nỗi buồn, sự khiếp sợ đều là những biểu hiện của hoạt động phản ánh tâm lí của con người.
Nó là sự phản ánh các sự vật, hiện tượng khách quan một cách đặc biệt dưới hình thức các rung động và trải nghiệm của con người. Engels cho rằng: Các tác động của thế giới bên ngoài lên con người đều để lại dấu vết ở trong đầu óc của họ, phản ánh vào trong đầu óc dưới hình thức tình cảm, tưởng tượng, ước muốn, sự biểu hiện của ý chí. Tình cảm, do vậy cũng là sự phản ánh. Những sự vật, hiện tượng được con người phản ánh dưới dạng các trải nghiệm đó phải có ý nghĩa nhất định đối với nhu cầu và động cơ của con người.
Từ đó, có thể định nghĩa xúc cảm, tình cảm là những hiện tượng tâm lí phản ánh hiện thực khách quan thông qua mối quan hệ của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan với nhu cầu và động cơ của con người. Theo cách hiểu này, xúc cảm, tình cảm trước hết được nhấn mạnh là sự phản ánh tâm lí có nguồn gốc từ hiện thực khách quan chứ không phải là những rung động hoàn toàn chủ quan khép kín, tự nảy sinh. Đó là một dạng phản ánh đặc biệt - phản ánh cảm xúc. Các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan là nguồn gốc của xúc cảm, tình cảm.
Chúng có thể đáp ứng hay không đáp ứng nhu cầu này khác của con người, từ đó làm nảy sinh xúc cảm, tình cảm. Như vậy, xúc cảm, tình cảm gắn bó chặt chẽ với các nhu cầu của con người, xuất hiện trên cơ sở các nhu cầu đó được thoả mãn hay không được thoả mãn. Khi một nhu cầu được thoả mãn ở con người sẽ xuất hiện các xúc cảm dương tính và ngược lại sẽ là các xúc cảm âm tính. Bởi vậy xúc cảm, tình cảm còn được coi là tiếng nói bên trong, là hệ thống tín hiệu giúp chủ thể nhận biết được ý nghĩa của một sự vật, hiện tượng nào đó đối với nhu cầu của bản thân.
Đây cũng được coi là nét đặc trưng của xúc cảm, tình cảm, nó phản ánh một cách trực tiếp mối quan hệ giữa nhu cầu và quá trình, kết quả của hoạt động. Nhờ đó xúc cảm, tình cảm thúc đẩy và định hướng hoạt động. Như vậy, xúc cảm, tình cảm đều là dạng phản ánh xúc cảm. Chúng có những điểm chung và quan hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không đồng nhất.
Từ cách tiếp cận đó, có thể có một định nghĩa về tình cảm như sau: Tình cảm là những thái độ cảm xúc ổn định của con người đối với những sự vật, hiện tượng của hiện thực phản ánh ý nghĩa của chúng trong mối liên hệ với nhu cầu và động cơ của họ. Tình cảm là sản phẩm cao cấp của sự phát triển các quá trình cảm xúc trong các điều kiện xã hội. Xúc cảm là cơ sở của tình cảm, tình cảm chỉ có thể có được khi các xúc cảm đã trở thành ổn định, bền vững. Tình cảm là sản phẩm của sự phát triển các quá trình cảm xúc trong những điều kiện xã hội.
Nói cách khác, tình cảm không đồng nhất với xúc cảm. Về sự khác biệt giữa xúc cảm và tình cảm sẽ được đề cập tới một cách chi tiết hơn ở phần sau. Coi xúc cảm, tình cảm là sự phản ánh, chúng ta phải làm rõ sự khác biệt của nó - phản ánh xúc cảm - với một loại phản ánh khác - phản ánh nhận thức. Đều là các hiện tượng tâm lí phản ánh hiện thực khách quan, đều mang tính chủ thể và có bản chất xã hội - lịch sử nhưng phản ánh nhận thức và phản ánh xúc cảm có những điểm khác nhau căn bản.
Về đối tượng phản ánh, quá trình nhận thức phản ánh chính bản thân sự vật, hiện tượng, các mối liên hệ và quan hệ giữa chúng. Phản ánh nhận thức giúp con người ngày một tiến gần tới chân lí khách quan. Trong khi đó xúc cảm, tình cảm lại phản ánh không phải bản thân sự vật, hiện tượng mà phản ánh mối liên hệ giữa sự vật, hiện tượng đó với nhu cầu và động cơ của con người. Thực tế cho thấy, cùng một đối tượng trong hiện thực khách quan, phản ánh nhận thức cho thấy sự tồn tại khách quan của sự vật hiện tượng, còn phản ánh xúc cảm cho thấy ý nghĩa sự vật, hiện tượng đó trong mối quan hệ với chủ thể.
Sự khác biệt này không làm phản ánh nhận thức và xúc cảm loại trừ nhau, ngược lại nó cho phép con người phản ánh đầy đủ hơn, toàn diện hơn, sâu sắc hơn hiện thực khách quan: Đây cùng chính là một biểu hiện của tính chủ thể trong phản ánh tâm lí. Con người không chỉ phản ánh sự vật, hiện tượng như nó vốn có mà phản ánh sự vật thông qua "lăng kính chủ quan" của mình. Về phạm vi phản ánh, phản ánh nhận thức rộng hơn so với phản ánh cảm xúc. Hầu hết các sự vật, hiện tượng đã tác động vào các giác quan của con người đều được nhận thức ở một mức độ nhất định.
Còn phản ánh cảm xúc không phản ánh mọi sự vật, hiện tượng mà chỉ phản ánh những sự vật hiện tượng có liên quan tới nhu cầu, động cơ nào có của con người mà thôi. Nói cách khác phản ánh cảm xúc có tính lựa chọn cao hơn phản ánh nhận thức. Về phương thức phản ánh. Nhận thức phản ánh hiện thực khách quan dưới hình thức các hình ảnh, biểu tượng và khái niệm.