Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Bước đầu tìm hiểu anh hùng Nguyễn Trung Trực và sự suy tôn Ông ở Kiên Giang" do sinh viên Nguyễn Thị Hà Thanh thực hiện tại Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (niên khóa 2005 - 2009, bảo vệ tháng 5/2009 dưới sự hướng dẫn của ThS. Dương Văn Huế). Đề tài xuất phát từ các vấn đề thực tiễn và khoa học lịch sử sau:

  • Lý do chọn đề tài: Vào nửa cuối thế kỷ XIX, phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân Nam Bộ diễn ra vô cùng quyết liệt nhưng hầu hết đều thất bại. Trong số các thủ lĩnh nghĩa quân thời kỳ này, Nguyễn Trung Trực giữ một vị trí đặc biệt: ông không xuất thân từ tầng lớp khoa cử hay điền chủ mà là một thanh niên dân chài nghèo ("áo vải"), lập nên hai chiến công lẫy lừng là "hỏa hồng Nhật Tảo" (1861) và "kiếm bạt Kiên Giang" (1868). Sau khi ông hy sinh, nhân dân khắp Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là tỉnh Kiên Giang, đã suy tôn ông thành bậc Thánh Thần, lập nhiều đền thờ và tổ chức lễ hội hàng năm thu hút hàng trăm ngàn lượt khách chiêm bái. Tuy nhiên, các tư liệu về thân thế, gia tộc và cuộc đời hoạt động của ông còn nhiều điểm dị biệt, thiếu thống nhất và bị bao phủ bởi lớp vỏ tín ngưỡng, truyền thuyết dân gian huyền bí.
  • Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Khảo sát điều kiện tự nhiên, tiến trình lịch sử và bối cảnh xã hội của vùng đất Kiên Giang - nơi ghi dấu chiến công hiển hách và những ngày chiến đấu cuối cùng của Nguyễn Trung Trực.
    2. Xác minh, làm rõ các dữ liệu về gia phả, thân thế, tiểu sử, phẩm chất chỉ huy và diễn biến các chiến dịch tiêu biểu do Nguyễn Trung Trực lãnh đạo.
    3. Thống kê, phân tích hệ thống đền thờ và các sinh hoạt lễ hội suy tôn Nguyễn Trung Trực tại Kiên Giang, từ đó đánh giá giá trị văn hóa - lịch sử, chỉ ra các tồn tại hạn chế và đề xuất giải pháp bảo tồn, quản lý.
    4. Đóng góp nguồn tư liệu khoa học phục vụ biên soạn, giảng dạy lịch sử địa phương và hiện thực hóa tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Tiểu sử, sự nghiệp cứu nước và sự suy tôn của nhân dân đối với anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.
    • Phạm vi không gian: Trọng tâm là địa bàn tỉnh Kiên Giang (Thành phố Rạch Giá, huyện Châu Thành, đảo Phú Quốc, Hà Tiên...) và mở rộng liên hệ đến các địa bàn liên quan đến dấu chân hoạt động hoặc có di tích thờ tự ông như Long An, An Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
    • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình lịch sử giai đoạn 1861 - 1868 (thời kỳ lãnh đạo nghĩa quân chống Pháp) kết hợp với tiến trình biến đổi văn hóa - tín ngưỡng dân gian từ sau năm 1868 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2009).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc chuyên ngành Lịch sử (phân môn Lịch sử địa phương kết hợp Lịch sử văn hóa), vận dụng hệ thống lý luận và phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Khung lý thuyết và quan điểm tiếp cận:
    • Quan điểm sử học Mác-xít và phương pháp luận duy vật biện chứng: Đặt nhân vật và sự kiện vào đúng bối cảnh lịch sử xã hội đương thời nhằm bóc tách, phân định giữa hiện thực lịch sử khách quan với lớp vỏ thần thánh hóa của tín ngưỡng dân gian.
    • Đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam: Vận dụng các định hướng từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về bảo tồn di sản văn hóa truyền thống gắn với phát triển đời sống tinh thần xã hội.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp tổng hợp và phân tích thư tịch: Khai thác và thẩm định các nguồn sử liệu thành văn của triều Nguyễn (Quốc sử quán), tài liệu lưu trữ của các sĩ quan và viên chức thực dân Pháp (Paul Vial, Jean Bouchet, Alfred Schreiner), các công trình nghiên cứu hiện đại của Trần Huy Liệu, Đinh Xuân Lâm, Lương Ninh, cùng các khảo cứu chuyên đề của địa phương (Vĩnh Xuyên - Lê Quang Khai, Giang Minh Đoán, Nguyễn Văn Khoa, Bảo tàng Kiên Giang).
    • Phương pháp đối chiếu, so sánh: So sánh các nguồn tư liệu mâu thuẫn nhau, đặc biệt là việc đối chiếu từng thế hệ giữa hai văn bản gia phả tại Long An và Cà Mau để tìm ra điểm trùng khớp và sai lệch.
    • Phương pháp điền dã thực địa: Tác giả trực tiếp khảo sát các di tích đền thờ tại Rạch Giá, Tà Niên; gặp gỡ, phỏng vấn nhân chứng, các vị bô lão và các Ban bảo vệ/quản lý di tích; quan sát trực tiếp các nghi lễ cổ truyền tại lễ hội.
    • Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức Lịch sử học với Dân tộc học, Khảo cổ học (khảo sát nền văn hóa Óc Eo) và Văn hóa học dân gian.
  • Nguồn dữ liệu:
    • Văn bản phả hệ: Tông chi Bình Nhựt (do ông Trần Văn Mới lưu giữ tại Long An) và Tông chi Tân Thuận (do ông Nguyễn Văn Đỗ lưu giữ tại Cà Mau).
    • Tài liệu thực địa và hành chính: Báo cáo của Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Kiên Giang, Ban Tổ chức lễ hội, Kỷ yếu Hội thảo khoa học Nguyễn Trung Trực (1989), cùng số liệu thống kê hành chính, kinh tế - xã hội của Tổng cục Thống kê (2007) và Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I. Khái quát tỉnh Kiên Giang

Chương này trình bày toàn diện về lịch sử hình thành, điều kiện tự nhiên và cơ cấu dân cư - xã hội của tỉnh Kiên Giang:

  • Lịch sử hình thành vùng đất: Vùng đất Kiên Giang mang dấu tích của nền văn hóa Óc Eo rực rỡ thuộc vương quốc Phù Nam cổ đại (tồn tại từ thế kỷ I đến thế kỷ VII), được chứng minh qua các di chỉ khảo cổ học do Louis Malleret khai quật năm 1944 cùng các phát hiện tại Nền Chùa, Cạnh Đền, Đá Nổi, Giồng Đá, Mốp Giăng và Gộc Xây. Sau khi Phù Nam sụp đổ, Thủy Chân Lạp không kiểm soát được vùng đất trũng ngập mặn này, biến nơi đây thành vùng hoang hóa. Đến thế kỷ XVII, lưu dân người Việt cùng nhóm người Hoa tị nạn do Mạc Cửu dẫn đầu đã đến khai khẩn đất Măng Khảm, lập nên 7 xã thôn trấn Hà Tiên. Mùa thu năm 1708, Mạc Cửu quy phục chúa Nguyễn Phúc Chu, được phong làm Tổng binh trấn Hà Tiên. Năm 1757, Mạc Thiên Tứ dâng đất 5 phủ (Chân Sâm, Sài Mạt, Cần Bột, Lịnh Quỳnh, Vũng Thơm) cho chúa Nguyễn, lập ra đạo Kiên Giang (Rạch Giá) và đạo Long Xuyên (Cà Mau).
  • Biến chuyển địa giới hành chính: Trải qua các thời kỳ từ triều Nguyễn (năm 1808 đặt huyện Kiên Giang, năm 1832 lập tỉnh Hà Tiên), đến thời Pháp thuộc (năm 1876 chia làm 2 hạt tham biện Hà Tiên và Rạch Giá, năm 1900 đổi thành 2 tỉnh), chính quyền Sài Gòn sáp nhập lại thành tỉnh Kiên Giang ngày 22/10/1956. Đến thời điểm năm 2005 - 2009, Kiên Giang có Thành phố Rạch Giá (đô thị loại 3 theo Nghị định 97/2005/NĐ-CP), thị xã Hà Tiên, 10 huyện đất liền, 2 huyện đảo (Kiên Hải, Phú Quốc) với tổng số 142 đơn vị hành chính cấp xã (15 phường, 12 thị trấn, 115 xã).
Tiêu chí Số liệu / Hiện trạng theo văn bản
Diện tích lãnh thổ Đất liền: 5.638 km²; Hải đảo: khoảng 700 km² (hơn 100 đảo, 5 quần đảo: Hải Tặc, Bà Lụa, An Thới, Nam Du, Thổ Chu).
Thủy văn và Đường bờ biển Bờ biển dài 200 km; 3 sông lớn: Cái Lớn, Cái Bé, Giang Thành; hệ thống kênh Vĩnh Tế, Rạch Giá - Long Xuyên, Cái Sắn, T3, T4, T5.
Nguồn lợi thủy sản & nông nghiệp Trữ lượng cá tôm 465.000 tấn, khả năng khai thác trên 200.000 tấn/năm; diện tích mặt nước nuôi thủy sản đạt 113.500 ha (năm 2007).
Tài nguyên khoáng sản Khoảng 152 điểm quặng và mỏ của 23 loại khoáng sản (chủ yếu là phi kim sản xuất vật liệu xây dựng).
Dân số và Cơ cấu tộc người Dân số năm 1868 (khi Pháp chiếm xong) của 2 tỉnh Rạch Giá và Hà Tiên là 30.181 người. Ba tộc người cộng cư lâu đời: Việt, Khmer, Hoa.
  • Bối cảnh xã hội nửa cuối thế kỷ XIX: Sự thống trị của thực dân Pháp làm phân hóa sâu sắc cơ cấu giai tầng: tầng lớp tay sai, quan chức bù nhìn (cai tổng, bang biện, hội đồng, huyện hàm, phủ hàm, 12 viên chức hội tế) câu kết với địa chủ bóc lột nhân dân; đối lập lại là khối đông đảo nông dân, dân tộc thiểu số và sĩ phu giữ vững ý thức dân tộc, biến Kiên Giang thành địa bàn kháng chiến kiên cường.

Chương II. Nguyễn Trung Trực và cuộc khởi nghĩa do Ông lãnh đạo

Chương II là trọng tâm lịch sử của khóa luận, khảo sát chi tiết từ gia tộc, tiểu sử, nhân cách đến các hoạt động quân sự của người anh hùng:

  • Khảo cứu và đính chính gia phả: Tác giả phân tích dữ liệu tham luận của bà Nguyễn Thị Mỹ Thu (nguyên Giám đốc Bảo tàng Kiên Giang năm 1989), lập bảng so sánh đối chiếu 5 thế hệ giữa hai bản gia phả gốc:
Thế hệ Nhánh Tông chi Bình Nhựt (Bến Lức, Long An) Nhánh Tông chi Tân Thuận (Đầm Dơi, Cà Mau) Nhận định của tác giả
Đời thứ I Quê gốc: Xóm Lưới, xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Hai anh em: Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Văn Trung. Tương đồng nguồn gốc Bình Định. Hai anh em: Nguyễn Văn Đạo, Nguyễn Văn Trung. Hai dòng họ có chung tổ tiên gốc Bình Định chuyển cư vào Nam.
Đời thứ II Con ông Đạo: 4 trai, 1 gái (Nguyễn Văn Ngợi, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Văn Phụng, Nguyễn Văn Quới, Nguyễn Thị Chính). Con ông Đạo: 3 trai (Nguyễn Văn Trường, Nguyễn Trung Thăng, một người con trai út). Sai khác về tên người trực tiếp sinh ra Nguyễn Trung Trực (Phụng hay Thăng).
Đời thứ III Nguyễn Văn Phụng sinh ra: Nguyễn Văn Chơn (tức Lịch) và Nguyễn Thị Đạt. Nguyễn Trung Thăng sinh ra 8 người con: Nguyễn Trung Trực, 4 trai và 4 gái. Nguyễn Văn Chơn và Nguyễn Trung Trực thực chất là một người.
Nghĩa trang gia tộc Có mộ ông bà nội và người em gái thứ 6 (do ông Trần Văn Mới trông nom). Có mộ cha mẹ và 6 người anh chị em (do ông Nguyễn Văn Đỗ, Nguyễn Văn Phát chăm sóc). Bổ khuyết lẫn nhau: khẳng định tính thống nhất về huyết thống bị phân tán do giặc Pháp truy lùng trả thù.
  • Tiểu sử và lai lịch: Nguyễn Trung Trực sinh khoảng năm 1835 (căn cứ theo lời khai của cháu cố Nguyễn Văn Đồ rằng ông mất ngoài 30 tuổi, và tờ hôn thú năm 1909 của người em út Nguyễn Văn Thơ sinh năm 1850). Lúc nhỏ tên Nguyễn Văn Chơn, sau đổi tên là Lịch. Năm 1861, ông tham gia nghĩa quân Trương Định, giữ chức Quyền Sung Quản Binh Đạo. Sau chiến công Nhật Tảo, triều đình Tự Đức thăng chức Quản Cơ (nên gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch). Năm 1867, ông được phong chức Thành Thủ Úy Hà Tiên; khi đến nơi Hà Tiên đã thất thủ, ông lui về Hòn Chông lập căn cứ và đổi tên thành Nguyễn Trung Trực.
  • Hôn nhân và gia quyến: Khóa luận làm rõ các luồng tư liệu: truyền thuyết dân gian kể về người phối ngẫu tên là "Bà Điều" (tên thật là Thí Ba Đô, người Khmer, do kiêng húy màu đỏ nên gọi chệch thành Điều); tuy nhiên cứ liệu lịch sử vững chắc nhất là di tích mộ táng tại Cửa Cạn (Phú Quốc) ghi rõ tên bà Lê Kim Định (dân gian gọi "Bà Quan Lớn Tướng") cùng mộ người con trai sơ sinh của ông mất tại đảo (hàng năm nhân dân cúng giỗ vào ngày 19/8 Âm lịch).
  • Phẩm chất và tài nghệ quân sự:
    • Thể lực và võ thuật: Tinh thông võ thuật cổ truyền Bình Định; giỏi tài bơi lội, lặn bắt cá; các giai thoại lịch sử ghi nhận việc ông dùng roi chống nhảy vọt qua rạch Tà Niên rộng hơn 10 mét để bắt quạ thị uy, tay không bẻ đôi rắn mai gầm đe dọa nghĩa quân, hay hạ sát hai tên lính Pháp khi công đồn Kiên Giang.
    • Nghệ thuật quân sự mưu lược: Biết phân tích điểm yếu của địch; áp dụng chiến thuật "nghi binh" tại Phú Quốc (cho quân ẩn hiện tuần hoàn trên đồi đánh lừa ống nhòm của Pháp); vận dụng mưu kế "điệu hổ ly sơn" tại Nhật Tảo (dùng chiêng trống khua bờ nhử Trung úy Parfait đem quân đuổi theo vào sâu kinh rạch, tạo khoảng trống tấn công tàu); kết hợp triệt để "Thiên thời" (đánh úp tàu Espérance lúc 12 giờ trưa khi lính Pháp uể oải; hạ thành Kiên Giang lúc 4 giờ đêm khi địch mất cảnh giác) và "Địa lợi" sông ngòi.
  • Các mốc hoạt động quân sự và giờ phút cuối cùng:
    • Diễn biến chiến sự: Chiến công đốt tàu Espérance tại vàm Nhật Tảo (10/12/1861), tập kích quân địch tại Vàm Răng, các trận đánh tại Thủ Thừa, trận đánh chiếm đồn Tây Kiên Giang (16/6/1868, giết chết Chủ tỉnh Chánh Phèn) và giai đoạn chiến đấu kiên cường bị bao vây cô lập tại Phú Quốc.
    • Khí tiết trước kẻ thù: Sau khi bị bắt, tay sai Huỳnh Công Tấn tìm cách chiêu dụ, ông khảng khái đáp lại chỉ muốn giữ chức vụ có quyền chặt đầu giặc Tây. Đô đốc Nam Kỳ Marie Jules Dupré Ohier đe dọa tận diệt nghĩa quân phiến loạn, ông khẳng khái tuyên bố câu nói bất hủ: "Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây".
    • Vụ hành quyết ngày 27/10/1868 (28/8 năm Mậu Thìn): Pháp thi hành án tử hình ông tại khu đất chợ nhà lồng Rạch Giá (cạnh cây da cổ thụ, vị trí Bưu điện tỉnh sau này). Nhân dân Tà Niên đã đem những chiếc chiếu hoa cạp điều dệt công phu có chữ "Thọ" lót đường cho ông bước ra pháp trường. Trước khi chịu chém bởi đao phủ người Miên (bon Twa), ông uống cạn một trái dừa tươi, yêu cầu mở trói, không bịt mắt và ứng khẩu bài thơ tuyệt mệnh bằng chữ Hán ("Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên / Yêu gian đàm khí hữu long tuyền / Anh hùng nhược ngộ vô dung địa / Bảo hận thâm cừu bất đới thiên", bản dịch thơ của thi sĩ Đông Hồ).

Chương III. Sự suy tôn anh hùng Nguyễn Trung Trực ở Kiên Giang

Chương III phân tích sự chuyển hóa từ một nhân vật lịch sử hiện thực thành biểu tượng tâm linh và thực trạng đời sống lễ hội tại địa phương:

  • Hình tượng Nguyễn Trung Trực trong tâm thức dân gian: Nhân dân tôn kính ông quá giới hạn của một con người bình thường, suy tôn thành bậc Thánh Thần bảo hộ xóm làng. Tượng đài Nguyễn Trung Trực tại công viên trung tâm Rạch Giá có tính chất độc nhất vô nhị ở Nam Bộ: không chỉ là công trình kỷ niệm đô thị mà được nhân dân xem như một pho tượng thờ linh thiêng, người đi đường và khách thập phương đều dừng chân dâng hương, khấn vái trang nghiêm.
  • Hệ thống đình thờ: Khóa luận thống kê trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có 14 ngôi đền thờ Nguyễn Trung Trực dưới nhiều quy mô và dạng thức khác nhau, tiêu biểu nhất là:
    • Đình thờ Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá: Trung tâm thờ tự lớn nhất, có lịch sử hình thành lâu đời, được trùng tu khang trang.
    • Đình thờ Nguyễn Trung Trực tại Tà Niên (xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành): Gắn liền với căn cứ huấn luyện võ nghệ của nghĩa quân và cái nôi nghề dệt chiếu hoa dâng chiếu lót đường hành quyết.
    • Hệ thống đền miếu tại các địa phương khác trong tỉnh và mạng lưới đền thờ lan tỏa khắp Tây Nam Bộ (Long An, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang).
  • Lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực:
    • Quy mô và thời gian: Tổ chức trọng thể hàng năm từ ngày 26 đến 28 tháng 8 Âm lịch (chính lễ là ngày 27 - 28/8, kỷ niệm ngày ông hy sinh), quy tụ hàng trăm ngàn lượt đồng bào từ khắp các tỉnh Nam Bộ về chiêm bái.
    • Nội dung sinh hoạt: Kết hợp chặt chẽ giữa phần Lễ (các nghi thức tế tự đình thần truyền thống, lễ thỉnh sắc, dâng hương trầm mặc, trang nghiêm) và phần Hội (các hoạt động văn hóa, trò chơi dân gian, biểu diễn nghệ thuật do Sở Văn hóa - Thông tin tổ chức). Toàn bộ khâu ăn ở, nước uống, thuốc nam bốc miễn phí phục vụ bà con hành hương đều do nhân dân tự nguyện quyên góp và phục vụ theo tinh thần nghĩa hiệp.
  • Tồn tại hạn chế và giải pháp phát triển lễ hội:
    • Những vấn đề còn hạn chế: Tình trạng quá tải du khách cục bộ gây tắc nghẽn giao thông; vấn đề vệ sinh môi trường, rác thải chưa xử lý triệt để; hiện tượng mê tín dị đoan, bói toán, xin xăm, đốt vàng mã quá mức; công tác quản lý an ninh trật tự và sự phối hợp giữa Ban quản lý di tích với chính quyền các cấp có lúc chưa đồng bộ.
    • Nhóm giải pháp, kiến nghị của tác giả: Củng cố Ban tổ chức lễ hội có sự phân công trách nhiệm rõ ràng; quy hoạch mở rộng không gian khuôn viên đền thờ Rạch Giá; tăng cường tuyên truyền bài trừ hủ tục mê tín dị đoan; bảo tồn giá trị nghi lễ truyền thống gốc; kết hợp khai thác lễ hội thành tuyến du lịch văn hóa tâm linh trọng điểm của tỉnh Kiên Giang.

Kết quả và đóng góp

  • Các kết quả nghiên cứu chính:
    1. Làm rõ niên đại và tuổi thọ: Đưa ra các chứng cứ phả hệ học (hôn thú năm 1909 của người em út và nhân chứng hậu duệ đời thứ 5) để bác bỏ các phỏng đoán cho rằng ông hy sinh khi trên 40 hoặc 50 tuổi; xác nhận Nguyễn Trung Trực sinh khoảng năm 1835 và hy sinh năm 1868 khi vừa ngoài 30 tuổi.
    2. Giải quyết điểm nghẽn gia phả: Chứng minh nhánh Tông chi Bình Nhựt (Long An) và Tông chi Tân Thuận (Cà Mau) thực chất là cùng một gia đình lớn; làm rõ hiện tượng đổi họ, phân tán do hậu quả của chính sách truy quét thân nhân nghĩa quân từ phía thực dân Pháp.
    3. Hệ thống hóa di sản: Thống kê đầy đủ 14 cơ sở đền thờ Nguyễn Trung Trực trên địa bàn Kiên Giang; ghi nhận tính chất đặc thù của hiện tượng thờ cúng tượng đài tại công viên Rạch Giá.
  • Giải pháp và kiến nghị đề xuất: Tác giả đưa ra hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý lễ hội, kết hợp bảo tồn di sản vật thể (đình miếu) và phi vật thể (nghi thức tế tự, truyền thuyết); kiến nghị đưa các chuyên đề về cuộc đời Nguyễn Trung Trực vào chương trình giảng dạy lịch sử địa phương tại các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
  • Đóng góp so với các công trình trước: Trong khi các công trình sử học của Trần Huy Liệu, Đinh Xuân Lâm chủ yếu nhìn nhận cuộc khởi nghĩa ở góc độ quân sự vĩ mô và bỏ qua chi tiết đời tư, còn các bài viết của tác giả Pháp mang định kiến cai trị, khóa luận đã thành công trong việc kết nối giữa hiện thực lịch sử chiến đấu với hiện tượng tâm lý - xã hội tôn vinh Thánh Thần của quần chúng nhân dân Tây Nam Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của công trình:
    • Do hạn chế về thời gian và tư liệu hộ tịch thời phong kiến - thực dân bị gián đoạn, nhiều thông tin nhân sự trong bảng phả hệ đời thứ II, III, IV (đặc biệt là họ tên của người vợ đầu, họ tên mẹ) vẫn chưa thể xác minh đầy đủ.
    • Khóa luận chưa thể tiến hành điền dã khảo sát đồng bộ toàn bộ các ngôi đình thờ Nguyễn Trung Trực ở các tỉnh lân cận ngoài địa bàn Kiên Giang (như Sóc Trăng, Bạc Liêu, Long An).
    • Nguồn tư liệu miêu tả phần lễ nghi tế tự cổ truyền phụ thuộc chủ yếu vào ghi chép hiện trường tại đình Rạch Giá và Tà Niên, thiếu các bản chúc văn thành văn cổ xưa để khảo cứu văn bản học.
  • Hướng mở tiếp theo: Cần mở rộng khảo cứu văn bia, sắc phong và phỏng vấn dân tộc học tại tất cả các tỉnh có đền thờ Nguyễn Trung Trực ở Đồng bằng sông Cửu Long; tiếp tục ứng dụng các phương pháp nhân học văn hóa để giải mã sâu hơn quá trình thần thánh hóa anh hùng chống ngoại xâm trong văn hóa Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Lịch sử Việt Nam, Văn hóa học, Dân tộc học và Tôn giáo học.
    • Giáo viên giảng dạy môn Lịch sử tại các trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và các tỉnh miền Tây Nam Bộ cần tư liệu biên soạn bài giảng lịch sử địa phương.
    • Cán bộ quản lý di sản, cán bộ bảo tàng thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Bảng khảo cứu và đối chiếu chi tiết gia phả 5 thế hệ của dòng họ Nguyễn Trung Trực (Chương II).
    • Hệ thống dữ liệu tổng hợp về địa lý, lịch sử hành chính và văn hóa Óc Eo vùng Kiên Giang (Chương I).
    • Mô tả thực địa về hệ thống đền thờ, kiến trúc thờ tự và quy trình tổ chức lễ hội Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá và Tà Niên (Chương III).

Câu hỏi thường gặp

1. Dựa trên những cứ liệu nào tác giả xác định Nguyễn Trung Trực hy sinh khi ngoài 30 tuổi?

Tác giả dựa vào hai căn cứ chính: (1) Lời kể của ông Nguyễn Văn Đồ (cháu cố của em ruột Nguyễn Trung Trực) khẳng định khi cụ cố cả qua đời chỉ ngoài 30 tuổi; (2) Tờ hôn thú lập năm 1909 của người cháu Nguyễn Thành Truyện có chữ ký chủ hôn của ông Nguyễn Văn Thơ - em trai út của Nguyễn Trung Trực (theo Tông chi Tân Thuận, Cà Mau). Căn cứ theo đó, ông Thơ sinh năm 1850. Trong gia đình có 8 anh chị em, nếu tính khoảng cách trung bình thế hệ người con cả hơn con út khoảng 15 tuổi thì Nguyễn Trung Trực sinh vào khoảng năm 1835. Khi bị giặc Pháp xử chém năm 1868, ông khoảng 33 tuổi.

2. Sự khác biệt căn bản giữa hai bản Tông chi Bình Nhựt (Long An) và Tân Thuận (Cà Mau) về thân phụ của Nguyễn Trung Trực là gì?

Theo bản Tông chi lưu giữ tại làng Bình Nhựt (Long An), thân phụ của Nguyễn Trung Trực được ghi tên là Nguyễn Văn Phụng. Trong khi đó, theo bản Tông chi tại Tân Thuận (Cà Mau) và tư liệu của ông Lê Văn Dễ (huyện Đầm Dơi), thân phụ ông lại được ghi là Nguyễn Trung Thăng (hoặc Nguyễn Cao Thăng). Khóa luận lý giải sự sai lệch này là do hoàn cảnh sau trận Nhật Tảo và khi ông hy sinh, thực dân Pháp truy nã gắt gao dòng họ khiến con cháu phải thay tên đổi họ, phân tán nơi cư trú vào rừng sâu Cà Mau để tránh bị đàn áp, dẫn tới việc ghi chép hộ tịch truyền khẩu đời sau bị lệch lạc.

3. Tác giả giải thích thế nào về hai cách gọi người phối ngẫu của ông là "Bà Điều" và "Bà Lê Kim Định"?

Khóa luận chỉ ra rằng đây là hai dữ kiện bắt nguồn từ hai nguồn tư liệu khác nhau:

  • "Bà Điều": Xuất phát từ truyền thuyết dân gian tại đất liền Kiên Giang, kể về một người phụ nữ Khmer tên thật là Thí Ba Đô (dân gian gọi tắt là Bà Đô hay Bà Đỏ) tham gia nghĩa quân và gắn bó thân tình với ông. Do kiêng kỵ chữ "Đỏ", người dân đã đổi cách gọi thành "Bà Điều" (điều là màu đỏ sẫm).
  • "Bà Lê Kim Định": Là chứng tích lịch sử xác thực trên thực địa tại vùng Cửa Cạn (đảo Phú Quốc). Tại đây hiện còn mộ phần của bà mang bia khắc tên Lê Kim Định (nhân dân tôn kính gọi là "Bà Quan Lớn Tướng") cùng mộ con trai ông, được nhân dân tổ chức lễ cúng hàng năm vào ngày 19 tháng 8 Âm lịch.

4. Chiến thuật quân sự "nghi binh" và "điệu hổ ly sơn" được Nguyễn Trung Trực vận dụng cụ thể như thế nào trong các trận đánh?

  • Chiến thuật nghi binh: Tại mặt trận Phú Quốc khi bị quân Pháp phong tỏa nghiêm ngặt và chuẩn bị tấn công lên đồi, Nguyễn Trung Trực đã cho toán nghĩa quân ít ỏi di chuyển tuần hoàn lúc ẩn lúc hiện quanh sườn đồi nhiều lượt. Quân Pháp dùng ống nhòm quan sát lầm tưởng nghĩa quân còn rất đông đảo nên chùn bước, tạo thời gian cho ông củng cố phòng thủ.
  • Chiến thuật điệu hổ ly sơn: Tại trận đốt tàu Espérance trên vàm sông Nhật Tảo (1861), ông bố trí một lực lượng dân chúng ẩn nấp trên bờ sông gõ chiêng, mõ, thổi tù và inh ỏi lúc 12 giờ trưa. Chỉ huy tàu là Trung úy Parfait tức giận đem ca nô và binh lính đổ bộ lên bờ đuổi sâu vào các kinh rạch, làm suy yếu lực lượng phòng giữ tàu, tạo thời cơ cho nghĩa quân áp sát tiêu diệt tàu địch.

5. Vì sao tượng đài Nguyễn Trung Trực tại công viên trung tâm Thành phố Rạch Giá lại được xem là trường hợp đặc biệt tại Nam Bộ?

Thông thường ở Nam Bộ, tượng đài các anh hùng dân tộc tại trung tâm đô thị chỉ giữ chức năng mỹ thuật và kỷ niệm lịch sử. Tuy nhiên, riêng tượng đài Nguyễn Trung Trực tại công viên Rạch Giá đã được quần chúng nhân dân tiếp nhận như một pho tượng thờ linh thiêng. Người dân địa phương và du khách thập phương khi đi qua đều tự giác dừng chân, thành tâm dâng hương khấn vái ngay giữa khung cảnh phố xá nhộn nhịp, minh chứng cho sự tôn sùng ở mức độ tâm linh của nhân dân đối với người anh hùng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hà Thanh là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp luận sử học với khảo sát điền dã thực địa tại địa phương Kiên Giang. Khóa luận đã đính chính, hệ thống hóa thành công dữ liệu gia phả 5 thế hệ của vị thủ lĩnh dân chài áo vải, khẳng định độ tuổi hy sinh ngoài 30 tuổi và phân tích sâu sắc các chiến công vang dội của cuộc kháng chiến. Đồng thời, công trình giải mã tường tận hiện tượng suy tôn tâm linh của nhân dân Tây Nam Bộ qua hệ thống 14 ngôi đền thờ và lễ hội truyền thống, cung cấp luận cứ khoa học xác đáng cho công tác bảo tồn di sản văn hóa và giảng dạy lịch sử địa phương.