Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thanh Hương tiếp cận đề tài từ bối cảnh văn hóa ẩm thực Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng đang nhận được sự chú ý rộng rãi từ truyền thông quốc tế. Văn bản dẫn lại nhận định của chuyên trang CNNGo (Mỹ) đánh giá Việt Nam là không gian ẩm thực đường phố đặc sắc, nơi lưu giữ bản sắc văn hóa qua giao lưu quốc tế; hãng thông tấn CNN xếp Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm ẩm thực của cả nước; tạp chí Food and Wine bình chọn thành phố vào nhóm các đô thị có ẩm thực đường phố hấp dẫn hàng đầu thế giới, trong đó bánh mì và chả giò lọt vào danh sách các món ăn tiêu biểu. Bên cạnh sức hút quốc tế, tại các đô thị đông dân với chi phí sinh hoạt gia tăng, thói quen tiêu dùng thức ăn đường phố trở nên phổ biến. Theo số liệu khảo sát của Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh được tác giả trích dẫn, có tới 95,5% người dân tại thành phố sử dụng thức ăn đường phố, trong đó 51% dùng làm bữa ăn thường nhật và 82% sử dụng cho bữa sáng. Ẩm thực đường phố Thành phố Hồ Chí Minh mang đặc trưng chế biến nhanh, kết hợp nhiều rau củ, hương vị hài hòa, ít dầu mỡ so với ẩm thực Trung Hoa và ít cay hơn ẩm thực Thái Lan.

Trên cơ sở đó, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về loại hình du lịch ẩm thực và du lịch ẩm thực đường phố, khảo cứu kinh nghiệm thực tiễn từ các địa phương trong nước và một số quốc gia trên thế giới.
  2. Khảo sát, phân tích điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tài nguyên du lịch nhân văn và thực trạng hoạt động ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, tổ chức không gian, quảng bá và kết nối ẩm thực đường phố phục vụ phát triển du lịch thành phố đến năm 2030.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh và phương thức khai thác nhằm phục vụ phát triển du lịch.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung vào các tuyến phố ẩm thực và khu vực buôn bán đặc trưng tại các quận trung tâm và nội thành (Quận 1, Quận 3, Quận 4, Quận 5, Quận 11).
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê tính đến quý I năm 2019, định hướng giải pháp phát triển đến năm 2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận thông qua việc đối chiếu các khái niệm học thuật chuyên ngành:

  • Khái niệm ẩm thực: Xét theo nghĩa Hán - Việt, "ẩm" là uống, "thực" là ăn. Nghĩa hẹp chỉ nghệ thuật nấu nướng, chế biến món ăn gắn với văn hóa từng vùng miền. Nghĩa rộng biểu thị nền văn hóa ăn uống bao gồm cả giá trị vật chất và tinh thần. Tác giả dẫn nghiên cứu ngôn ngữ học của tác giả Nguyễn Văn Dương chỉ ra rằng trong tiếng Việt có 15/20 ngữ nghĩa của từ "ăn" phản ánh tư duy văn hóa "dĩ thực vi tiên". Đồng thời, văn bản trích dẫn định nghĩa của TS. Phan Thị Thu Hiền (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) khẳng định ẩm thực là hoạt động chế biến đồ ăn thức uống cung cấp dinh dưỡng, năng lượng, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm từ đồng ruộng đến bàn ăn, mang tính nghệ thuật, văn hóa và xã hội.
  • Khái niệm du lịch ẩm thực: Tác giả điểm lại các thuật ngữ quốc tế gồm "Gastronomic Tourism" do Wilbur Zelinsky đưa ra năm 1985; "Culinary Tourism" do Lucy Long đề xuất; "Food Tourism" theo định nghĩa của Colin Michael Hall và Richard Mitchell (2001) về việc tiếp xúc người chế biến và thưởng thức đặc sản; và định nghĩa năm 2015 của Hiệp hội Du lịch Ẩm thực Ontario (OCTA). Văn bản tổng hợp du lịch ẩm thực là hình thức du lịch tổ chức cho du khách tìm hiểu, thưởng thức văn hóa ăn uống đặc thù của điểm đến.
  • Khái niệm ẩm thực đường phố và du lịch ẩm thực đường phố: Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thức ăn đường phố là thực phẩm, đồ uống làm sẵn hoặc chế biến tại chỗ, bán trên đường phố hoặc không gian công cộng qua xe đẩy, quầy hàng di động. Du lịch ẩm thực đường phố là hoạt động du khách rời nơi cư trú để trải nghiệm các món ăn vỉa hè kết hợp khám phá văn hóa, đời sống bản địa.
  • Mối quan hệ giữa ẩm thực và du lịch: Dẫn báo cáo toàn cầu của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), tác giả chỉ ra trung bình một phần ba chi tiêu của khách du lịch dành cho ẩm thực, đóng vai trò tạo dựng thương hiệu điểm đến quốc gia.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng hai nhóm phương pháp nghiên cứu bàn giấy chính:

  • Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Tổng hợp tài liệu thứ cấp từ sách, báo chí, tạp chí chuyên ngành, các trang tin điện tử và báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước.
  • Phương pháp so sánh, thống kê, phân tích và tổng hợp: Hệ thống hóa số liệu kinh tế - xã hội, số liệu kiểm kê di tích lịch sử - văn hóa, so sánh đặc trưng ẩm thực giữa các vùng miền và giữa các nền văn hóa ẩm thực quốc tế nhằm rút ra các kết luận thực tiễn.

Nguồn dữ liệu của đề tài hoàn toàn là dữ liệu thứ cấp, trích xuất từ báo cáo của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 01/2019), số liệu của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 5/2017), tài liệu của Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh và các ấn phẩm du lịch quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về loại hình du lịch ẩm thực và du lịch ẩm thực đường phố

Chương này tập trung làm rõ hệ thống lý luận và điểm qua thực tiễn hoạt động ẩm thực đường phố tại Việt Nam cũng như trên thế giới:

  • Mô hình ẩm thực đường phố tại một số địa phương Việt Nam:
    • Hà Nội: Nổi bật với phố Hàng Buồm kết hợp chợ đêm; chợ Đồng Xuân với bún chả que tre dùng sấu dầm; phố Lý Quốc Sư với thương hiệu phở bò và văn hóa trà chanh, nước sấu; phố Nhà Thờ đan xen ẩm thực quốc tế và quán cà phê phong cách Pháp.
    • Hải Phòng: Phố Cầu Đất tập trung các quán bánh đa cua lâu năm (như quán Bà Cụ, bánh đa cua bể) và tiệm bánh ngọt truyền thống; phố Văn Cao với lẩu cua đồng và các nhà hàng châu Á; chợ Cát Bi phục vụ giá bể xào, bánh bèo, cháo trai từ đầu giờ chiều.
    • Đà Nẵng: Tuyến phố Phạm Hồng Thái hoạt động từ 17h00 đến 23h00 chuyên về bánh xèo, ốc hút, ram bắp; chợ Cồn với đồ ăn vặt và đặc sản đóng gói; khu ẩm thực Ngũ Hành phục vụ tới 4.000 khách trong dịp lễ hội pháo hoa quốc tế; đường Bạch Đằng kinh doanh các món tráng miệng từ dừa.
    • Đà Lạt: Khu ẩm thực truyền thống Đà Lạt Center gồm 16 quầy mái tranh phục vụ món nước, bánh cuốn, bánh tráng; chợ đêm Đà Lạt tập trung bánh tráng nướng, sữa đậu nành, bánh ướt lòng gà.
  • Mô hình ẩm thực đường phố quốc tế:
    • Trung Quốc: Thành Đô (được UNESCO công nhận là thành phố ẩm thực năm 2010 với hơn 100 món ăn vặt, chợ Chendu Spice); khu vực Turpan (Tân Cương) với thịt cừu kawop, bánh mì nướng và món banshi cừu hầm cà chua, đậu đen.
    • Mỹ: Thành phố New Orleans (bang Louisiana) với bánh mì kẹp Po-Boy nhân tôm chiên hoặc thịt bò, súp đậu bắp Gumbo ăn kèm cơm; thành phố Seattle (bang Washington) với hải sản và cà phê.
    • Australia: Thành phố Melbourne có các tuyến phố ẩm thực nhập cư gồm đường Lonsdale (món Hy Lạp), đường Lygon (món Ý) và phố Little Bourke (phố người Hoa hình thành từ thập niên 1860).
    • Anh: Khu chợ cổ Stockbridge tại thung lũng Test; thủ đô London với chợ Broadway hơn 100 gian hàng và chợ Borough - chợ nông sản thực phẩm cổ nhất chuyên cung ứng nguyên liệu tươi sống.

Chương 2: Thực trạng khai thác ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh phục vụ phát triển du lịch

Tác giả dành phần lớn dung lượng chương này phân tích bối cảnh tự nhiên, xã hội và các địa điểm ẩm thực thực tế của Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Tọa độ 10°22' - 11°22' Bắc, 106°01' - 107°01' Đông, địa hình dốc thoải từ bắc xuống nam và từ tây sang đông; phân chia thành hai tầng trầm tích chính là Pleistocen (đất xám chiếm 23,4% diện tích) và Holocen (đất phù sa biển 15.100 ha, đất phèn 40.800 ha). Hệ thống thủy văn gồm sông Đồng Nai (lưu vực 45.000 km², lưu lượng 20-500 m³/s), sông Sài Gòn (chảy qua địa phận thành phố 80 km) và sông Nhà Bè ra biển qua ngả Soài Rạp và Gành Rái. Dân số tính đến ngày 23/01/2019 đạt 8.859.688 người, mật độ cư trú không đều, tập trung cao tại Quận 4, Quận 5, Quận 10, Quận 11 (trên 40.000 người/km²) và thấp nhất tại Cần Giờ (98 người/km²).
  • Tài nguyên du lịch nhân văn: Thành phố có 172 di tích được xếp hạng (tính đến tháng 5/2017) gồm 2 di tích quốc gia đặc biệt (Dinh Độc Lập, Địa đạo Củ Chi - nơi bảo tồn 120 km đường hầm đón hơn 20 triệu lượt khách trong 20 năm), 56 di tích quốc gia và 114 di tích cấp thành phố. Các công trình kiến trúc gồm Bưu điện Trung tâm Sài Gòn (xây dựng năm 1886-1890, 35 quầy dịch vụ), Nhà thờ Đức Bà (khởi công 1877, khánh thành 1880, cao 57 m với 6 đại hồng chung nặng 25.850 kg), Chùa Giác Lâm (di tích quốc gia xếp hạng năm 1988, 56 cột gỗ khắc 86 câu đối thếp vàng), di chỉ khảo cổ học Giồng Cá Vồ (xếp hạng năm 2000, rộng 7.000 m², phát hiện gần 350 mộ chum tiền Sa Huỳnh). Tài nguyên phi vật thể gồm nghệ thuật Đờn ca tài tử (221 câu lạc bộ với 2.677 thành viên vào cuối năm 2018), Lễ hội Nghinh Ông Cần Giờ (từ 15 đến 17 tháng 8 âm lịch), làng nem Thủ Đức và làng hoa kiểng Gò Vấp.
  • Nhận diện các món ăn đường phố tiêu biểu:
    • Nhóm món hình thành trước năm 1975: Sủi cảo (ẩm thực Trung Hoa); phá lấu (nguồn gốc người Tiều Châu, chế biến từ nội tạng bò hầm nước cốt dừa và ngũ vị hương, đại hồi, quế chi); hủ tiếu (du nhập từ năm 1778 với các biến thể Nam Vang, Mỹ Tho, Triều Châu); bột chiên (bột gạo, trứng, đu đủ xanh bào sợi, nước tương); phở (người Bắc di cư mang vào từ thập niên 1950, gia giảm thêm nước béo và rau thơm); bánh xèo (phát triển từ bánh khoái miền Trung trong thập niên 1960-1970); bánh mì Sài Gòn (nguồn gốc từ Pháp, quét thêm bơ và pa-tê, kẹp dưa leo, đồ chua); cơm tấm (nấu từ tấm gạo, kết hợp sườn nướng, bì thính, chả trứng, mỡ hành).
    • Nhóm món hiện đại: Các biến thể bánh tráng (bánh tráng trộn Tây Ninh, bánh tráng nướng Ninh Thuận, bánh tráng đập Quảng Nam); các món ốc đường phố (ốc dừa xào tỏi, ốc giác xào rau muống, ốc cà na nướng); gỏi cuốn tôm thịt.
  • Đánh giá thực trạng các tụ điểm kinh doanh đường phố: Khóa luận khảo sát các tuyến tập trung gồm Chợ Bến Thành - đường Lê Lợi (Quận 1), phố trái cây đĩa Nguyễn Cảnh Chân (Quận 1), đường Nguyễn Thượng Hiền và đường Cao Thắng (Quận 3), hẻm 14 Trần Bình Trọng và phố ốc Vĩnh Khánh (Quận 4), đường An Dương Vương (Quận 5), phố sủi cảo Hà Tôn Quyền (Quận 11). Đồng thời, tác giả so sánh cấu trúc món ăn đường phố địa phương với các món ngoại nhập (cơm tấm với kimbap Hàn Quốc, bánh xèo với bánh kếp Thái Lan) để chỉ ra ưu điểm về sự linh hoạt trong khẩu vị và hạn chế về tính quy hoạch, vệ sinh môi trường.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác ẩm thực đường phố phục vụ phát triển du lịch Thành phố Hồ Chí Minh

Trên cơ sở định hướng phát triển du lịch thành phố đến năm 2030, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể:

  1. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước: Kiểm soát nguồn gốc thực phẩm, cấp chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm cho các hộ kinh doanh lề đường, phân định ranh giới sử dụng vỉa hè để không cản trở giao thông đô thị.
  2. Đẩy mạnh xúc tiến và quảng bá: Đưa thông tin các tụ điểm ẩm thực đường phố vào bản đồ du lịch thành phố, sản xuất ấn phẩm truyền thông đa ngữ, tận dụng internet và mạng xã hội để tiếp cận khách quốc tế.
  3. Tổ chức hoạt động không gian ẩm thực: Quy hoạch các tuyến phố đi bộ ẩm thực đêm cố định tại các quận trung tâm, lắp đặt hạ tầng cấp thoát nước và thu gom rác thải đồng bộ.
  4. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch ẩm thực: Thiết kế các chương trình trải nghiệm cho du khách tự tham gia chế biến món ăn đường phố, kết hợp dịch vụ ẩm thực với các chương trình biểu diễn nghệ thuật truyền thống.
  5. Kết nối tuyến điểm du lịch: Tích hợp các điểm dừng chân ăn uống đường phố vào tour tham quan các di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu của thành phố như Dinh Thống Nhất, Bưu điện Trung tâm, Chùa Giác Lâm, Địa đạo Củ Chi và Khu sinh quyển Cần Giờ.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và trích xuất hệ thống số liệu thực tế phản ánh quy mô và tiềm năng của thị trường ẩm thực đường phố tại địa bàn nghiên cứu:

Chỉ số / Nội dung Số liệu trích xuất từ văn bản Nguồn dữ liệu trong văn bản
Tỷ lệ người dân sử dụng thức ăn đường phố 95,5% dân số Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM
Tỷ lệ sử dụng thức ăn đường phố cho bữa sáng 82,0% dân số Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM
Tỷ lệ sử dụng thức ăn đường phố làm bữa ăn hàng ngày 51,0% dân số Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM
Tỷ trọng ngân sách du khách chi tiêu cho ẩm thực Khoảng 1/3 tổng chi phí chuyến đi Báo cáo toàn cầu của UNWTO
Dân số Thành phố Hồ Chí Minh (đến 23/01/2019) 8.859.688 người (tăng 64.823 người so với 30/6/2018) Ban chỉ đạo Tổng điều tra TPHCM
Tốc độ tăng dân số bình quân (giai đoạn 2009-2019) 2,15%/năm (tăng cơ học: 2,5%; tăng tự nhiên: 1,07%) Ban chỉ đạo Tổng điều tra TPHCM
Số lượng di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng (5/2017) 172 di tích (2 di tích quốc gia đặc biệt, 56 cấp quốc gia, 114 cấp TP) Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM
Quy mô hoạt động Đờn ca tài tử (cuối năm 2018) 221 câu lạc bộ với 2.677 thành viên Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM
Lượng khách tham quan Di tích Địa đạo Củ Chi Hơn 20 triệu lượt khách trong 20 năm hoạt động Ban Quản lý Di tích Địa đạo Củ Chi

Về mặt đóng góp, đề tài đã làm rõ nguồn gốc lịch sử và sự biến đổi văn hóa của các món ăn đường phố tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh dưới tác động giao lưu vùng miền và quốc tế. Đồng thời, tác giả xây dựng được 5 nhóm giải pháp quản lý và liên kết không gian mang tính thực tiễn nhằm khai thác ẩm thực đường phố như một sản phẩm du lịch có tổ chức.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn của một khóa luận đại học, tác giả tự nhận định trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế. Nghiên cứu chủ yếu dựa vào tổng hợp dữ liệu thứ cấp từ sách báo và báo cáo hành chính, chưa triển khai được các cuộc điều tra xã hội học trực tiếp bằng bảng hỏi với cỡ mẫu cụ thể để đo lường mức độ hài lòng, thói quen chi tiêu và đánh giá của khách du lịch đối với từng tuyến phố ẩm thực.

Về hướng nghiên cứu tiếp theo, đề tài mở ra các nội dung cần khảo sát sâu hơn:

  • Tiến hành điều tra định lượng mức độ hài lòng và hành vi tiêu dùng của khách du lịch quốc tế đối với các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm đường phố.
  • Nghiên cứu mô hình quy hoạch không gian phố đi bộ ban đêm kết hợp ẩm thực và quản lý trật tự đô thị tại các quận vùng ven ngoài khu vực trung tâm.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên các ngành Việt Nam học, Văn hóa Du lịch, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành làm tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng báo cáo tổng quan địa bàn và quy hoạch tuyến điểm du lịch ẩm thực.
  • Người nghiên cứu về văn hóa ẩm thực đô thị, đặc biệt là phần tư liệu lịch sử về quá trình du nhập và bản địa hóa của các món ăn đường phố Sài Gòn (phở, bánh mì, hủ tiếu, sủi cảo, phá lấu).
  • Nội dung so sánh các mô hình ẩm thực đường phố tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Đà Lạt và các nước (Trung Quốc, Mỹ, Australia, Anh) ở Chương 1 cung cấp tư liệu tham khảo đối chiếu hữu ích cho các nghiên cứu phát triển sản phẩm du lịch tương tự.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận trích dẫn số liệu nào về tỷ lệ tiêu dùng thức ăn đường phố của người dân Thành phố Hồ Chí Minh? Theo số liệu điều tra của Trung tâm Dinh dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh được trích dẫn ở phần Lời mở đầu, có 95,5% người dân tại đây sử dụng thức ăn đường phố, trong đó 51% dùng làm bữa ăn hàng ngày và 82% dùng làm bữa ăn sáng.

Những tác giả học thuật nào được trích dẫn để xây dựng khái niệm du lịch ẩm thực trong Chương 1? Tác giả trích dẫn Wilbur Zelinsky (1985) với thuật ngữ Gastronomic Tourism; Lucy Long với thuật ngữ Culinary Tourism; Colin Michael Hall và Richard Mitchell (2001) với thuật ngữ Food Tourism; định nghĩa năm 2015 của Hiệp hội Du lịch Ẩm thực Ontario (OCTA); và quan điểm của TS. Phan Thị Thu Hiền thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Các món ăn đường phố Sài Gòn hình thành trước năm 1975 được khóa luận phân tích gồm những món nào? Khóa luận liệt kê và phân tích chi tiết nguồn gốc, nguyên liệu và cách chế biến của 8 món ăn: sủi cảo, phá lấu, hủ tiếu, bột chiên, phở, bánh xèo, bánh mì Sài Gòn và cơm tấm.

Khóa luận nêu những tuyến phố cụ thể nào tại Thành phố Hồ Chí Minh đang khai thác ẩm thực đường phố? Các địa điểm được khảo sát gồm: Chợ Bến Thành và đường Lê Lợi (Quận 1), đường trái cây đĩa Nguyễn Cảnh Chân (Quận 1), đường Nguyễn Thượng Hiền và đường Cao Thắng (Quận 3), hẻm 14 Trần Bình Trọng và phố ốc Vĩnh Khánh (Quận 4), đường An Dương Vương (Quận 5), và phố sủi cảo Hà Tôn Quyền (Quận 11).

Tác giả đề xuất các giải pháp trọng tâm nào để nâng cao hiệu quả khai thác ẩm thực đường phố phục vụ du lịch? Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp gồm: nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm và trật tự đô thị; đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá; tổ chức không gian hoạt động ẩm thực đường phố theo mô hình phố đi bộ tập trung; đa dạng hóa sản phẩm du lịch trải nghiệm; và kết nối ẩm thực với các tuyến điểm di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn thành phố.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thanh Hương đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về du lịch ẩm thực và phác thảo bức tranh toàn diện về ẩm thực đường phố tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên số liệu thống kê kinh tế, dân cư và tài nguyên nhân văn tính đến đầu năm 2019, tác giả đã chỉ ra nguồn gốc, đặc trưng văn hóa của các món ăn dân dã và các tụ điểm kinh doanh thực tế. Công trình đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý, quảng bá và quy hoạch không gian phù hợp với định hướng phát triển du lịch thành phố đến năm 2030. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên chuyên ngành du lịch và những người quan tâm đến việc khai thác giá trị văn hóa ẩm thực đô thị phục vụ phát triển kinh tế du lịch.