Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Thực trạng và giải pháp khai thác loại hình du lịch nông nghiệp tỉnh Tiền Giang" do sinh viên Nguyễn Thị Cẩm Xuân thực hiện thuộc ngành Việt Nam học, Khoa Du lịch và Việt Nam học, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành (niên khóa 2017–2021), dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lê Thị Duyên Hà.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả đặt vấn đề nghiên cứu dựa trên đặc thù kinh tế - xã hội của Việt Nam, nơi nền văn minh nông nghiệp lâu đời với cơ cấu kinh tế nông nghiệp chiếm khoảng 70% và hơn 80% dân số sống chủ yếu bằng nghề nông. Không gian nông thôn lưu giữ nhiều phong cảnh thiên nhiên, di tích lịch sử và bản sắc văn hóa canh tác truyền thống. Du lịch nông nghiệp nổi lên như một xu hướng mới, vừa mở ra cơ hội đa dạng hóa sản phẩm du lịch, vừa tạo nguồn sinh kế tại chỗ cho người nông dân, góp phần bảo tồn cảnh quan và văn hóa làng quê. Đối với tỉnh Tiền Giang – địa phương cửa ngõ vùng Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu nguồn sản vật trù phú (thanh long, sầu riêng, lúa gạo...) và thế mạnh sinh thái sông nước miệt vườn, việc chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp thuần túy sang tích hợp dịch vụ du lịch đang được chính quyền và cộng đồng dân cư đẩy mạnh. Tuy nhiên, quá trình khai thác tại địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế về tính đồng bộ và chất lượng dịch vụ, đặt ra yêu cầu phải khảo sát thực trạng để xây dựng các định hướng phát triển bài bản.
Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:
- 1.1. Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu tập trung vào tổng quan và kinh nghiệm về nền du lịch nông nghiệp ở Việt Nam nhằm phát triển loại hình du lịch nông nghiệp và đưa sản phẩm này tiếp cận sâu rộng hơn với du khách.
- 1.2. Mục tiêu cụ thể: Khảo sát thực trạng khai thác du lịch nông nghiệp tại tỉnh Tiền Giang, đánh giá lợi ích của các mô hình đối với cộng đồng địa phương, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và mô hình khai thác phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động khai thác loại hình du lịch nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa tập trung tại thành phố Mỹ Tho và các huyện Châu Thành, Cai Lậy, Chợ Gạo.
- Phạm vi thời gian: Các số liệu, tài liệu thứ cấp và dữ liệu thực tế về hoạt động du lịch được thu thập, phân tích chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021 (kết hợp chuỗi số liệu phát triển cơ sở hạ tầng giai đoạn 2010–2020).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và công trình nghiên cứu chuyên ngành:
- Khung khái niệm và văn bản pháp lý: Tác giả trích dẫn Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 (Điều 3 Chương I quy định về khái niệm "Du lịch", Điều 3 Chương V quy định về "Sản phẩm du lịch"); tiếp cận khái niệm du lịch đa chiều (góc độ du khách, nhà kinh doanh, chính quyền địa phương, cộng đồng dân cư) và 4 đặc tính của sản phẩm du lịch (tính vô hình, tính không đồng nhất, tính đồng thời giữa sản xuất - tiêu dùng, tính mau hỏng và không dự trữ được) theo Ngô Thị Diệu An và Nguyễn Thị Anh Kiều (2014); phân loại loại hình du lịch theo Nguyễn Bá Lâm (2007).
- Khái niệm chuyên ngành về du lịch nông nghiệp (Agritourism): Tiếp thu các định nghĩa quốc tế và trong nước, bao gồm định nghĩa của Duncan Hilchey (1993, Đại học Cornell), Ramiro E. Lobo (1999, California), định nghĩa của Tổng cục Du lịch Việt Nam (xem du lịch nông nghiệp là loại hình dựa trên không gian sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển bền vững môi trường và văn hóa), và quan điểm phân định du lịch nông nghiệp của Bùi Thị Lan Hương (2010).
- Khung phân tích thực tiễn: Khóa luận sử dụng công cụ ma trận SWOT (Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức) để đánh giá thực trạng phát triển du lịch nông nghiệp địa phương.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả phối hợp áp dụng bao gồm:
- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp thông tin từ sách, báo cáo chuyên ngành, cổng thông tin điện tử của tỉnh Tiền Giang, số liệu thống kê từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Tiền Giang, cùng các tài liệu dự án du lịch nông thôn của JICA và Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch.
- Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và tổng hợp: Phân loại dữ liệu số lượng cơ sở lưu trú, dịch vụ vận chuyển, nguồn nhân lực đào tạo và chi tiêu du lịch nhằm làm rõ các biến động qua các mốc thời gian (2010, 2015, 2020).
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành khảo sát thực tế thông qua bảng hỏi đối với 100 khách du lịch tham gia trải nghiệm tại Tiền Giang và điều tra chọn mẫu tại các cơ sở, hộ gia đình kinh doanh du lịch nông nghiệp trên địa bàn 4 huyện/thành phố thuộc phạm vi nghiên cứu.
Nguồn dữ liệu của đề tài gồm dữ liệu sơ cấp trích xuất từ phiếu điều tra (tỷ lệ khách quay lại, cơ cấu thuận lợi/khó khăn của cơ sở kinh doanh, thực trạng xử lý môi trường) và dữ liệu thứ cấp do cơ quan quản lý nhà nước tỉnh Tiền Giang công bố.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa khoa học về du lịch, sản phẩm du lịch và phân loại du lịch theo mục đích di chuyển cũng như đặc điểm địa lý. Đi sâu vào du lịch nông nghiệp, tác giả làm rõ bản chất tài nguyên du lịch nông nghiệp là toàn bộ tư liệu sản xuất, quy trình canh tác, sản vật thu hoạch và môi trường sinh thái nông thôn; không gian tổ chức bao gồm trang trại, đồng ruộng, vườn cây ăn quả và ao nuôi. Đây được xác định là hình thức "xuất khẩu hàng hóa nông nghiệp tại chỗ", trực tiếp gắn chuỗi giá trị nông nghiệp với dịch vụ.
Đánh giá thực tiễn du lịch nông nghiệp tại Việt Nam, tác giả dẫn các số liệu tổng quan:
- Nguồn thu nông thôn đang có sự dịch chuyển khi thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thuần túy chỉ chiếm khoảng 27%, trong khi hoạt động phi nông nghiệp và dịch vụ chiếm 73%.
- Nhu cầu trải nghiệm nông nghiệp miệt vườn tăng trung bình từ 20% đến 30% mỗi năm. Khu Nông nghiệp Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (Củ Chi) ghi nhận lượng khách tăng 200% sau 3 năm (từ 7.000 lượt năm 2014 lên gần 15.000 lượt). Vùng Đồng bằng sông Cửu Long đón tiếp trên 20 triệu lượt khách, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 9%/năm.
- Xuất hiện nhiều mô hình tiêu biểu như tour "Một ngày làm nông" tại Đà Lạt, du lịch sinh thái ruộng bậc thang tại Mù Cang Chải, Sapa, cùng hệ thống lưu trú homestay tại Phú Thọ, Lâm Đồng, Hà Giang, Đồng Tháp, An Giang.
- Ngược lại, những điểm nghẽn chung của cả nước được chỉ rõ: mô hình mang tính tự phát, sản phẩm đơn điệu và trùng lặp; cơ sở vật chất phụ trợ nghèo nàn; hạ tầng giao thông nông thôn chật hẹp, dễ sình lầy vào mùa mưa; thiếu sự liên kết bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp lữ hành; nguồn nhân lực địa phương chủ yếu là lao động chân tay, chưa qua đào tạo nghiệp vụ lữ hành.
Chương 2: Thực trạng khai thác du lịch nông nghiệp tại tỉnh Tiền Giang
Chương 2 tập trung phân tích nguồn lực tự nhiên, nhân văn và khảo sát chi tiết thực trạng triển khai du lịch nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang:
- Tiềm năng tự nhiên: Tỉnh trải dài hơn 120 km bờ bắc sông Tiền, nằm ở vị trí cửa ngõ kết nối TP.HCM (cách 70 km) và Cần Thơ (cách 90 km). Đất phù sa ngọt ven sông Tiền chiếm 53% diện tích, hình thành vùng chuyên canh hơn 80.000 ha cây ăn trái đặc sản. Sông Tiền chảy qua tỉnh 115 km cùng mạng lưới sông rạch tạo thuận lợi cho giao thông thủy và nuôi trồng thủy sản. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình từ 27°C đến 27,9°C.
- Tiềm năng nhân văn: Tỉnh sở hữu 21 di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia (di tích chiến thắng Ấp Bắc, di tích Rạch Gầm - Xoài Mút, chùa Vĩnh Tràng...); các lễ hội truyền thống đặc trưng (lễ hội Nghinh Ông Vàm Láng, lễ hội Kỳ Yên đình Vĩnh Bình); làng nghề thủ công lâu đời (nghề làm mắm tôm chà Gò Công, nghề đóng tủ thờ Gò Công); cùng hệ thống ẩm thực địa phương phong phú (mắm còng Tân Phú Đông, kẹo khóm Tân Phước, xôi chiên phồng, cá lóc nướng trui, bông súng mắm kho, cá tai tượng chiên xù, cháo cá lóc rau đắng đất Mỹ Tho, hủ tiếu Mỹ Tho, hủ tiếu sa tế).
- Thực trạng sản phẩm và điểm đến: Toàn tỉnh ghi nhận 16 điểm du lịch nông nghiệp, phát triển từ cái nôi cù lao Thới Sơn (TP. Mỹ Tho) từ năm 1995, sau đó mở rộng sang xã Đông Hòa Hiệp (huyện Cái Bè) và cù lao Tân Phong (huyện Cai Lậy). Năm 2019, Tiền Giang đón gần 2,14 triệu lượt khách, trong đó có 850.293 lượt khách quốc tế.
- Mô hình tiêu biểu: Công ty TNHH Ca cao Xuân Ron tổ chức tour trải nghiệm chế biến sô-cô-la, đón trên 100 khách/ngày vào 3 ngày cuối tuần; Hợp tác xã Nông nghiệp Đông Nghi (Châu Thành) khai thác trang trại hơn 200 con dê, đón 10–20 khách/ngày tham quan và tiêu thụ các sản phẩm chế biến từ sữa dê; khu vực ven đô Mỹ Tho hình thành trên 10 điểm chuyển đổi sang trồng hoa kết hợp tiểu cảnh quy mô trên 1 ha (Mãn Đình Hồng, Thạch Thảo, Ao sen Gò Me, Điền Lan thôn trang), đón trên 100.000 lượt khách/năm, giá vé bình quân 30.000 đồng/lượt, ngày cao điểm đón hơn 700 khách/ngày; khu du lịch Thới Sơn có hơn 10 điểm nhà vườn liên kết đón trên 1.000 lượt khách/năm.
Khóa luận tổng hợp các chuỗi số liệu phát triển ngành du lịch tỉnh Tiền Giang qua các bảng thống kê sau:
| Chỉ tiêu thống kê cơ sở hạ tầng du lịch |
Năm 2010 |
Năm 2015 |
Năm 2020 |
| Kinh phí đào tạo nhân lực du lịch (triệu đồng) |
92 |
100 |
228 |
| Số lượng lao động được đào tạo (người) |
120 |
135 |
291 |
| Khách sạn lưu trú (cái) |
34 |
52 |
97 |
| Nhà hàng phục vụ (cái) |
39 |
60 |
85 |
| Cửa hàng dịch vụ du lịch (cái) |
29 |
213 |
491 |
| Quán ăn, nhà trọ (cơ sở) |
7.481 |
9.213 |
15.111 |
| Phương tiện vận chuyển đường bộ: Xe du lịch (chiếc) |
282 |
423 |
706 |
| Phương tiện vận chuyển đường thủy: Ghe thuyền (chiếc) |
240 |
372 |
536 |
| Phương tiện vận chuyển đường thủy: Du thuyền (chiếc) |
7 |
Chưa ghi nhận |
14 |
Toàn tỉnh có 389 hướng dẫn viên du lịch (98 hướng dẫn viên quốc tế và 291 hướng dẫn viên nội địa). Địa phương có khoảng 12 hộ kinh doanh dịch vụ homestay/farmstay có phòng đón khách lưu trú qua đêm (tập trung tại Cái Bè, Châu Thành, Chợ Gạo, TP. Mỹ Tho với các cơ sở như Bầu Bí Mini Farmstay, Thạch Thảo Homestay, Về nhà chú homestay, Mekong Lodge...). Một số dự án quy mô lớn được xúc tiến gồm Cảng Du thuyền Mỹ Tho (tổng vốn đầu tư hơn 600 tỷ đồng chia làm 3 giai đoạn) và Khu du lịch sinh thái Đồng Tháp Mười (vốn đầu tư dự kiến 100 tỷ đồng).
Dữ liệu điều tra xã hội học do tác giả thực hiện phản ánh các đặc trưng vận hành:
- Về phía chủ cơ sở kinh doanh: Thuận lợi lớn nhất là đất đai có sẵn (60%) và tận dụng trực tiếp mô hình sản xuất nông nghiệp sẵn có (30%). Về khó khăn, rào cản lớn nhất là trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa cao (chiếm 50%), tiếp đến là thiếu vốn đầu tư (20%) và thiếu nguồn nhân lực phục vụ (20%). Về môi trường, 40% cơ sở thừa nhận hệ thống xử lý nước thải còn yếu kém, 40% gặp áp lực về rác thải nhựa và ý thức giữ vệ sinh của du khách; chỉ 20% cơ sở không phát sinh vấn đề môi trường.
- Về phía khách du lịch (khảo sát n = 100): 32% du khách mới tham gia lần đầu, 17% tham gia lần thứ 2 và 19% tham gia từ 2 lần trở lên, cho thấy tỷ lệ quay lại còn thấp do sản phẩm thiếu tính khác biệt, dịch vụ ngoài tour nghèo nàn và mức thu phí dịch vụ chưa đồng nhất giữa các điểm đến.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp khai thác du lịch nông nghiệp tại tỉnh Tiền Giang
Chương 3 xây dựng các định hướng phát triển du lịch nông nghiệp dựa trên phân tích SWOT, gắn quy hoạch du lịch với đề án xây dựng nông thôn mới và bảo tồn sinh thái miệt vườn. Tác giả đề xuất 6 nhóm giải pháp khai thác cụ thể:
- Giải pháp đối với từng chủ thể tham gia: Phân định rõ vai trò và định hướng kỹ năng cho hộ nông dân, nhà vườn, hợp tác xã nông nghiệp và doanh nghiệp du lịch trong chuỗi cung ứng dịch vụ.
- Giải pháp về công tác quảng bá: Tăng cường xúc tiến hình ảnh điểm đến nông nghiệp Tiền Giang, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để tiếp cận thị trường khách tiềm năng.
- Giải pháp chính sách và thu hút đầu tư: Hoàn thiện cơ chế hỗ trợ nguồn vốn vay ưu đãi, thu hút đầu tư xã hội hóa vào kết cấu hạ tầng kỹ thuật du lịch nông thôn.
- Giải pháp tăng cường phối hợp liên ngành, quản lý điểm đến và kiểm soát chất lượng dịch vụ: Xây dựng quy chế phối hợp giữa ngành Du lịch và ngành Nông nghiệp, chuẩn hóa niêm yết giá vé, kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường nông thôn.
- Giải pháp về nguồn nhân lực: Đẩy mạnh các lớp tập huấn kỹ năng giao tiếp, nghiệp vụ hướng dẫn viên tại điểm cho người nông dân; tạo cơ chế giải quyết việc làm nhằm giữ chân lao động trẻ tại địa phương.
- Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch: Đổi mới hoạt động trải nghiệm, khắc phục sự trùng lặp đơn điệu; đẩy mạnh chế biến sâu nông sản bản địa thành hàng quà tặng đặc thù (như nước ép thanh long, rượu vang thanh long, giấm thanh long, sản phẩm từ sữa dê, sô-cô-la thủ công).
- Đề xuất mô hình du lịch nông nghiệp: Định hình các mô hình canh tác kết hợp tham quan trải nghiệm thực tế, mô hình trang trại nông nghiệp ứng dụng công nghệ gắn với giáo dục ngoại khóa, và mô hình homestay sinh thái gắn với làng nghề truyền thống.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được những kết quả cụ thể dựa trên việc tổng hợp dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực địa:
- Làm rõ bức tranh thực trạng du lịch nông nghiệp Tiền Giang thông qua 16 điểm du lịch đang hoạt động; lượng khách toàn tỉnh năm 2019 đạt gần 2,14 triệu lượt; ghi nhận doanh thu và lượt khách của các mô hình nông nghiệp đô thị ven Mỹ Tho (đón trên 100.000 lượt khách/năm) và các điểm du lịch Thới Sơn (đón trên 1.000 lượt khách/năm).
- Hệ thống hóa chuỗi dữ liệu 10 năm (2010–2020) về sự phát triển của hạ tầng du lịch tỉnh: số khách sạn tăng từ 34 lên 97 cơ sở; quán ăn, nhà trọ tăng từ 7.481 lên 15.111 điểm; phương tiện vận chuyển tăng lên 706 xe và 536 ghe thuyền; kinh phí đào tạo nhân lực du lịch tăng từ 92 triệu đồng lên 228 triệu đồng/năm.
- Xác định nguyên nhân cốt lõi khiến tỷ lệ khách quay lại thấp (chỉ 17% quay lại lần 2 qua khảo sát 100 khách) xuất phát từ rào cản chuyên môn của chủ cơ sở (50% gặp khó khăn về nghiệp vụ), chất lượng sản phẩm trùng lặp và 40% cơ sở có hạ tầng xử lý chất thải chưa đạt chuẩn.
Đóng góp của đề tài:
- Đóng góp thực tiễn: Đề tài cung cấp tư liệu khảo sát thực tế về hoạt động kinh doanh du lịch nông nghiệp tại 4 địa bàn trọng điểm của Tiền Giang; chỉ ra các điểm nghẽn về hạ tầng, môi trường và dịch vụ; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và mô hình thực tế giúp các cơ sở địa phương khai thác giá trị nông sản gắn với du lịch, hỗ trợ người dân đa dạng hóa nguồn thu nhập.
- Đóng góp khoa học: Tác giả vận dụng các phương pháp luận nghiên cứu địa lý du lịch và Việt Nam học để giải quyết bài toán phát triển ngành tại một địa bàn cụ thể; rèn luyện kỹ năng khảo sát, tổng hợp dữ liệu định lượng; bổ sung một tài liệu nghiên cứu chuyên đề về du lịch nông nghiệp tỉnh Tiền Giang trong bối cảnh các công trình trước đó chủ yếu tiếp cận ở góc độ tổng quan du lịch toàn tỉnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự xác định các giới hạn nghiên cứu:
- Do loại hình du lịch nông nghiệp tại Tiền Giang mới được triển khai trong những năm gần đây và phát triển chủ yếu mang tính tự phát, việc đánh giá toàn diện vai trò của loại hình này trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn tỉnh chỉ mới dừng lại ở bước khảo sát sơ bộ.
- Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn khiêm tốn (khảo sát 100 khách du lịch) và địa bàn điều tra tập trung chủ yếu ở 4 địa phương (thành phố Mỹ Tho, huyện Châu Thành, huyện Cai Lậy, huyện Chợ Gạo), chưa bao quát toàn bộ các tiểu vùng sinh thái khác của tỉnh như vùng sinh thái ngập phèn Đồng Tháp Mười (Tân Phước) hay vùng sinh thái nước mặn (Gò Công Đông, Tân Phú Đông).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cần mở rộng quy mô mẫu khảo sát đối với cả du khách quốc tế và các doanh nghiệp lữ hành liên tỉnh nhằm đánh giá sâu hơn về chuỗi liên kết giá trị.
- Nghiên cứu chi tiết cơ chế chính sách liên ngành Nông nghiệp - Du lịch và các tiêu chuẩn kiểm soát tác động môi trường tại các điểm du lịch nông nghiệp ven sông.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Việt Nam học, Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Kinh tế nông nghiệp tham khảo phương pháp điều tra thực địa, thiết kế bảng hỏi khảo sát du lịch nông thôn và cách thức hệ thống hóa tài nguyên du lịch nhân văn gắn với ẩm thực bản địa.
- Các nhà quản lý điểm đến tại địa phương, chủ trang trại, hợp tác xã nông nghiệp khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có thể tham khảo ma trận đánh giá thực trạng, kinh nghiệm vận hành của các mô hình thực tế (Ca cao Xuân Ron, Dê Đông Nghi, các vườn hoa ven đô) và hệ thống bảng biểu thống kê để định hướng đầu tư cơ sở hạ tầng, dịch vụ lưu trú homestay phù hợp.
Câu hỏi thường gặp
Khóa luận chỉ ra Tiền Giang có những tiềm năng đặc thù nào về tự nhiên và sinh thái để phát triển du lịch nông nghiệp?
Tỉnh sở hữu chiều dài hơn 120 km bờ bắc sông Tiền (sông Tiền chảy qua tỉnh 115 km), có tỷ lệ đất phù sa ngọt trung tính chiếm khoảng 53% diện tích, hình thành vùng chuyên canh cây ăn trái đặc sản lớn nhất nhì vùng với hơn 80.000 ha. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình từ 27°C đến 27,9°C và vị trí địa lý thuận lợi cách trung tâm TP.HCM 70 km, kết nối qua tuyến cao tốc TP.HCM - Trung Lương.
Những khó khăn lớn nhất của các chủ cơ sở kinh doanh du lịch nông nghiệp tại Tiền Giang ghi nhận qua khảo sát là gì?
Kết quả khảo sát của tác giả phản ánh khó khăn lớn nhất là trình độ chuyên môn về du lịch chưa cao, chiếm tỷ lệ 50%. Hai khó khăn tiếp theo là thiếu vốn đầu tư (chiếm 20%) và thiếu nguồn nhân lực phục vụ có nghiệp vụ (chiếm 20%), do phần lớn các điểm kinh doanh đều do nông dân tự phát triển ở quy mô vừa và nhỏ.
Những mô hình khai thác du lịch nông nghiệp thực tế nào tại Tiền Giang được tác giả dẫn chứng cụ thể?
Các mô hình thực tế được ghi nhận gồm: Công ty TNHH Ca cao Xuân Ron tổ chức trải nghiệm quy trình làm sô-cô-la (đón hơn 100 khách/ngày vào cuối tuần); Hợp tác xã Nông nghiệp Đông Nghi với trang trại hơn 200 con dê phục vụ vắt sữa và bán sản phẩm chế biến (đón 10–20 khách/ngày); các vườn hoa tiểu cảnh quy mô trên 1 ha vùng ven Mỹ Tho như Mãn Đình Hồng, Thạch Thảo, Ao sen Gò Me, Điền Lan thôn trang (đón trên 100.000 lượt khách/năm, cao điểm trên 700 khách/ngày); và các điểm du lịch nhà vườn trên cù lao Thới Sơn kết hợp đờn ca tài tử, tát mương bắt cá.
Biến động về cơ sở lưu trú và phương tiện vận chuyển du lịch của Tiền Giang giai đoạn 2010–2020 thể hiện qua các con số nào?
Theo số liệu từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh, trong giai đoạn 2010–2020: số lượng khách sạn tăng từ 34 lên 97 cơ sở; cơ sở quán ăn, nhà trọ tăng từ 7.481 lên 15.111 cơ sở; phương tiện xe du lịch tăng từ 282 lên 706 chiếc; ghe thuyền du lịch tăng từ 240 lên 536 chiếc; phương tiện du thuyền đạt 14 chiếc vào năm 2020. Toàn tỉnh cũng phát triển được khoảng 12 hộ làm dịch vụ homestay/farmstay.
Thực trạng vệ sinh môi trường tại các điểm du lịch nông nghiệp Tiền Giang được tác giả đánh giá ra sao?
Số liệu khảo sát của tác giả chỉ rõ: 40% cơ sở kinh doanh du lịch nông nghiệp có hệ thống xử lý nước thải còn yếu kém; 40% cơ sở đối mặt với tình trạng rác thải nhựa và ý thức xả rác bừa bãi của du khách trong mùa cao điểm; chỉ có 20% cơ sở kinh doanh duy trì được điều kiện vệ sinh môi trường tốt mà không gặp phải các vấn đề trên.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Thị Cẩm Xuân đã phản ánh toàn diện bức tranh khai thác du lịch nông nghiệp tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2017–2021 thông qua việc kết hợp cơ sở lý luận chuyên ngành với số liệu thực tế. Công trình phân tích rõ nét lợi thế của hơn 80.000 ha vườn cây ăn trái, hệ thống cù lao và các mô hình sản xuất nông sản đặc trưng, đồng thời chỉ ra các rào cản căn bản về hạ tầng xử lý môi trường, tính trùng lặp của sản phẩm và hạn chế nghiệp vụ của người nông dân. Các nhóm giải pháp và mô hình tổ chức được đề xuất mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho hoạt động phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp bền vững tại địa phương.