mở đầu cho những cuộc nội chiến dai dẳng chia cắt đất nƣớc, Lê – Mạc và Trịnh – Nguyễn. Đông Kinh lúc này lại đƣợc trở lại tên gọi Thăng Long, đô thành của triều Mạc rồi của chính quyền vua Lê chúa Trịnh. Mọi công việc thời này đều Sinh viªn: §ång ThÞ Thùc - Líp: VHL 301 8 Khai th¸c tuyÕn phè cæ Hµ Néi phôc vô ph¸t triÓn du lÞch nhằm nhu cầu phục vụ nhu cầu chính trị, quân sự của nhà nƣớc phong kiến. Nhà Mạc đã cho xây dựng 3 lần lũy thành ngoài Đại La nhƣng sau đó lại bị nhà Trịnh phá hủy.
Và đến thế kỷ XVII – XVIII ( thời hậu Lê ), việc buôn bán với nƣớc ngoài ở khu phố chợ Thăng Long – Kẻ Chợ đã đạt tới giai đoạn hoàng kim hƣng thịnh của sự phát triển. “ Từ đầu thế kỷ XII, ở kinh thành Thăng Long bắt đầu có ngƣời phƣơng Tây tới buôn bán, đông nhất là ngƣời Hà Lan, ngƣời Bồ Đào Nha, ngƣời Pháp. Những công ty thƣơng mại của ngƣời Hà Lan, và ngƣời Anh đã lập cửa hậu ở Thăng Long và các thƣơng điếm ở bờ sông Hồng”. Các khu buôn bán này nằm ở ngã ba sông Tô Lịch và sông Hồng – nơi có hình thành hệ thống gồm 16 cửa ô có điếm tuần gác – mà cho đến nay còn lại duy nhất cửa Ô Quan Chƣởng( nguyên là cửa “ Ô Thanh Hà” hay “ Đông Hà Môn”), đƣợc xây dựng npăm 1479 và đƣợc xây lại kiên cố và mở rộng vào năm 1817 đời Vua Gia Long).
Đến năm 1831, Minh Mạng lập tỉnh Hà Nội gồm Thăng Long và một số vùng lân cận. Và từ đây cái tên Hà Nội “ Thành phố nằm phía trong lòng sông” ra đời. Lúc này thế lực chính trị của Hà Nội đã giảm hẳn nhƣng bù lại là thế lực kinh tế ngày càng tăng trƣởng và phồn thịnh, trở thành nhân lõi của đô thị với tên gọi dân gian phổ biến “ Hà Nội 36 phố phƣờng”. Năm 1858, triều Nguyễn bán nƣớcp, dâng Hà Nội cho Pháp.
Tất cả các thành phố đều đƣợc tiến hành xây dựng lại theo kiểu Châu Âu, các cổng lang trong khu vực 36 phố phƣờng đều bị dỡ bỏ. Thời kỳ này thƣơng nghiệp phát triển nhanh chóng kéo theo sự lấp vùi đoạn sông Tô Lịch chảy qua các phố Cổ (1888) và nhiều ao hồ chảy rải rác trong thành phố, nhƣờng chỗ cho sự xây dựng của một số khu vực thƣơng nghiệp, trong đó có chợ Đồng Xuân (1889). Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lƣợc lần thứ Sinh viªn: §ång ThÞ Thùc - Líp: VHL 301 9 Khai th¸c tuyÕn phè cæ Hµ Néi phôc vô ph¸t triÓn du lÞch hai (1945 – 1954) quy hoạch Hà Nội bắt đầu có sự thay đổi. Khu phố Cổ có sự quy hoạch mạnh mẽ: đƣờng phố đƣợc nắn lại, có hệ thống thoát nƣớc, có hè phố, có đƣờng lát, trải nhựa và hệ thống chiếu sáng.
Nhà cửa hai bên đƣợc xây gạch, lợp ngói, xuất hiện những ngôi nhà đƣợc làm theo phong cách kiểu Châu Âu. Khu phố Cổ Hà Nội từ 1954 – 1985, trong buổi quá độ dân cƣ ở khu phố Cổ có sự thay đổi. Nhiều gia đình từ chiến khu trở về đƣợc bố trí vào ở khu phố Cổ. Kể từ đó số hộ ở trong mỗi nhà cứ tăng dần lên một đến hai, ba hộ, rồi mỗi hộ gia đình lại phát triển thêm theo kiểu tam tứ đại đông đƣờng… Từ 1954 trở đi, do chính sách cải tạo công thƣơng nghiệp tƣ bản tƣ nhân, chính sách phát triển sản xuất, chính sách kinh tế của thời bao cấp.
Toàn bộ khu phố Cổ nơi buôn bán sằm uất đã trở thành nơi đơn thuần để ở(1960 – 1983) dân cƣ trở thành cán bộ, công nhân viên, phục vụ cho xí nghiệp, hợp tác xã, các cơ quan thành phố… mặt tiền của nhiều nhà cửa đƣợc sửa sang lại thành mặt tiền nhà ở có cửa đi và cửa sổ - phố xá yên tĩnh hơn; sự nhộn nhịp của phố xá tùy từng nơi, từng lúc theo giờ ca kíp đi làm vào buổi sáng, trƣa, chiều, tối; sự nhộn nhịp còn ở các khu chợ, các cửa hàng bách hóa, cửa hàng chuyên doanh của nhà nƣớc, của hợp tác xã ( nhƣ chợ Đồng Xuân, chọe Hàng Da ). Dân cƣ ở khu phố Cổ cứ tăng dần lên, lấn chiếm các không gian trống của các sân trong từng nhà, các gác xép chất đầy trong không gian nhà, một số đình, chùa biến thành nơi ở, nơi làm việc. Một số cửa hàng thủ công truyền thống bị mai một, văn hóa lễ hội tâm linh bị lắng xuống. Khu phố Cổ từ 1986 đến nay: với đƣờng lối chính sách mới từ nền kinh tế bao cấp chuyển sang kinh tế thị trƣờng, mở rộng giao lƣu kinh tế và quan hệ quốc tế, mở rộng các thành phần kinh tế trong nƣớc, khích lệ mọi tầng lớp nhân dân xây dựng mở mang phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, buôn bán ở khu phố Cổ dần dần đƣợc phục hồi lại, phát triển và sầm uất hơn xƣa.
Các mặt tiền nhà đƣợc cải tạo đổi mới – nhiều nhà xuống cấp, bị hỏng đã đƣợc xây dựng lại với nhiều kiểu cách. Sinh viªn: §ång ThÞ Thùc - Líp: VHL 301 10 Khai th¸c tuyÕn phè cæ Hµ Néi phôc vô ph¸t triÓn du lÞch Sau bao biến động thăng trầm của lịch sử, với sự mở rộng không ngừng của thành phố, Hà Nội 36 phố phƣờng đã đƣợc thay thế với cái tên “ phố Cổ Hà Nội” với vị thế của một trung tâm thƣơng mại – văn hóa và du lịch nhộn nhịp của Thủ đô. Tiềm năng du lịch nhân văn phố Cổ Hà Nội 1. Kiến trúc phố Cổ Hà Nội.
Khu phố Cổ Hà Nội đƣợc hình thành và phát triển theo sự phát triển của Kinh Kỳ Thăng Long xƣa và Thủ đô Hà Nội ngày nay. Khu phố Cổ Hà Nội là một quần thể kiến trúc độc đáo mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam nói chung và mang tính đặc trƣng cho riêng Hà Nội. Hà Nội với khu phố Cổ “ tuyệt mỹ trong mọi thời gian” – đại diện cho một phong cách kiến trúc, văn hóa kết hợp Đông Tây giữa truyền thống và hiện đại xứng đáng là một đô thị điển hình cho khu vực Đông Nam Á – một điểm đến giàu tài nguyên du lịch quý giá. “ Những giá trị về lịch sử tinh tế của phố Cổ, chúng ta phải đi sâu nghiên cứu mới nhận biết đƣợc.
Bất cứ ai bƣớc chân vào dãy phố đều có thể thốt lên thán phục một trong những tổng thể kiến trúc đẹp đẽ, độc đáo có một không hai”. Điểm độc đáo của kiến trúc cổ Hà Nội thể hiện ngay trong từng con đƣờng, hè phố, nhà ở… Những dãy phố một nửa không cây – Tràng Tiền, hay Hàng Khay một dãy lệch bên duyên dáng bên Hồ Gƣơm soi bóng, những góc phố cong cong, những con đƣờng rợp bóng mát, những ngôi nhà mái ngói đã bạc màu thời gian rồi mái đình rêu phông phủ kín… Tất cả tạo nên một bản sắc riêng vừa gần gũi mà bí ẩn, tinh tế mà hòa đồng của phố Cổ Hà Nội. Nét đặc Trƣng của nhà ở trong khu vực 36 phố phƣờng chính là kiến trúc “ nhà hình ống” chung tƣờng. Nhà ở đây có một mặt tiền hẹp và chiều sâu rất dài.
Những khu nhà này còn có một tên gọi “ nhà ở hàng phố truyền thống” nhƣ ở một số nƣớc Châu Á “ nhà hình ống” thƣờng có mặt tiền trung bình có 1 – 2 tầng, thƣờng thì ở phòng phía trƣớc có gác lửng lên xuống bằng thang và đƣợc dùng làm kho hay làm phòng ngủ. Nhà có nhiều lớp và cách nhau bằng những Sinh viªn: §ång ThÞ Thùc - Líp: VHL 301 11 Khai th¸c tuyÕn phè cæ Hµ Néi phôc vô ph¸t triÓn du lÞch sân trong ( thƣờng từ 1-3 sân ). Cách bố trí cấu trúc không gian chật hẹp của Hà Nội xƣa để ở, không gian sản xuất, buôn bán thờ phụng, nghỉ ngơi thật hết sức tinh tế và sáng tạo. Nhà càng dài thì càng nhiều săn vƣờn phân cách các khối nhà.
Sân vƣờn chính đƣa thiên nhiên luồn lách vào sâu từng công trình – là một điểm đặc biệt quan tâm trong lối kiến trúc nhà cổ. Ngoài tác dụng ngôi nhà đƣợc thông thoáng, tiếp cận với gió và ánh sáng tự nhiên, sân vƣờn còn là nơi thƣ giãn tĩnh tại giúp con ngƣời hồi phục sức khỏe, bắt đầu một ngày làm việc mới. Khoảng trời nơi sân vƣờn là nơi bố trí các cây cau, giàn trầu, bể nƣớc, hòn non bộ… làm dịu đi cái nắng oi ả của mùa hè, làm cho khí hậu trong nhà đƣợc cải thiện rõ rệt, loại nhà ở này lợp mái dốc, mặt mái song song với phố, đôi khi mặt ngoài đƣợc kéo dài thành hiên che trên vỉa hè. Hai mái dốc đặt sát nhau tạo thành lớp, có khi ở phần sâu trong chỉ có một mái dốc nhƣng cũng có khi các mái dốc đặt cách xa nhau 3 – 4 m để tạo thành sân trong.
Ở hai đầu đỉnh mái của những phần nhà phía ngoài, giáp với những đƣờng phố nhất có hai khối nhô lên hình chữ nhật xây bằng gạch gọi là trụ mái. Bờ tƣờng hồi giật cấp( 1,5 – 2cm ) giữa các mái nhà theo bờ xiên mái có các chức năng chống hỏa hoạn, chống thấm tƣờng nhà đồng thời đem lại vẻ thẩm mỹ cho sống của mái. Một kiểu nhà phổ biến nữa của khu buôn bán Thăng Long – Hà Nội là kiểu nhà “ chồng diêm” mà hiện nay chỉ còn lại ở một số phố nhƣ Mã Mây, Hàng Buồm, Hàng Bạc và Hàng Bè. Những ngôi nhà này thƣờng có từ 1 -2 tầng, hay một tầng trệt và gác xép có cửa câm – cửa giả hoặc có cửa ti hí cỡ 40*40 cm/ 40*60 cm – cửa tròn nhỏ mở ra phía phố.
Còn các ván cửa sổ và cửa đi ở tầng một dùng loại cửa “ thƣợng song hạ bản” ( trên song dƣới ván) hoặc cửa lùa bằng gỗ ván rất chắc chắn. Đôi khi cũng có những trƣờng hợp dùng cửa chống lên hạ xuống đƣợc bằng tre đan. Nhìn chung, ngoài mái ngói rất dốc nhô ra khá xa xuống mặt phố còn có mái tranh vẩy thêm ra hè. Mái dựa vào hai bức tƣờng bên, vƣợt cao lên khỏi mái, mỗi bên ít nhất đến 2m và kết thúc bằng những bậc thang.
Bức tƣờng này có thể là bảo vệ cho Sinh viªn: §ång ThÞ Thùc - Líp: VHL 301 12 Khai th¸c tuyÕn phè cæ Hµ Néi phôc vô ph¸t triÓn du lÞch mái nhà trong những trận bão rất hay xảy ra ở Bắc Kỳ vào những lúc gió chuyển mùa.