Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp LHQT; Chương 2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp LHQT của Sở Du lịch Hà Nội; Chương 3. Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn Hà Nội.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ DU LỊCH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP LỮ HÀNH QUỐC TẾ 1. Khái niệm về du lịch và quản lý nhà nƣớc về du lịch 1. Khái niệm về du lịch Du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến. Nhiều quan điểm cho rằng thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa là “Đi một vòng.
Thuật ngữ này được đưa vào hệ ngữ La tinh thành Turnur và sau đó thành Tour trong tiếng Pháp với nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi. Theo Robert Langquar (1980), từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên được sử dụng trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hoá, nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch là một từ gốc Hán - Việt, tạm hiểu là đi chơi, trải nghiệm. Mặc dù hoạt động du lịch đã có nguồn gốc hìn thành từ rất lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh, song cho đến nay, trong nhiều công trình nghiên cứu về du lịch, các chuyên gia vẫn nhận định khái niệm “Du lịch” được hiểu rất khác nhau tại các quốc gia khác nhau và từ nhiều góc độ khác nhau.
Về mặt khái niệm, định nghĩa của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch ở Otawa, Canada diễn ra vào tháng 6/1991 có đưa ra khái niệm: “Du lịch là hoạt động của con người đi tới một nơi ngoài môi trường thường xuyên (nơi ở thường xuyên của mình) trong một khoảng thời gian ít hơn thời gian đã được các tổ chức du lịch quy định trước, mục đích của chuyến đi không phải là để tiến hành các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi vùng tới thăm” [11, tr19]. Nhìn nhận từ góc độ kinh tế và kinh doanh của du lịch, trong cuốn Giáo trình kinh tế du lịch của nhóm tác giả Nguyễn Văn Đính, Trần Thị Minh Hòa (Khoa Du lịch và Khách sạn, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội), Du lịch được hiểu là “một ngành kinh doanh bao gồm các hoạt động tổ chức hướng dẫn du lịch, sản xuất, trao đổi hàng hóa và dịch vụ của những doanh nghiệp, nhằm đáp ứng các nhu cầu về đi lại lưu trú, ăn uống, tham quan, giải trí, tìm hiểu và các nhu cầu khác của 16 z khách du lịch. Các hoạt động đó phải đem lại lợi ích kinh tế chính trị - xã hội thiết thực cho nước làm du lịch và cho bản thân doanh nghiệp” [11,tr19 – 20]. Ở Việt Nam, Luật Du lịch năm 2017 cũng nêu rõ khái niệm về du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với các mục đích hợp pháp khác” [22, Điều 3].
Quản lý nhà nước về du lịch 1. Khái niệm về quản lý nhà nước Với khái niệm quản lý nhà nước, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau. Theo nghĩa chung nhất, quản lý nhà nước vừa là chức năng, vừa là quyền hạn và nhiệm vụ của nhà nước. Nó được hiểu là việc Nhà nước sử dụng quyền lực chung đã được thể chế hóa tác động thường xuyên và liên tục đến các quá trình, lĩnh vực hay quan hệ xã hội nhằm đạt được mục đích quản lý.
Có thể định nghĩa quản lý nhà nước theo hai bình diện: - Theo nghĩa rộng: Quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. - Theo nghĩa hẹp: Quản lý nhà nước được hiểu là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước, đó là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Dù được hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, bản chất của quản lý nhà nước chính là tính quyền lực xã hội đã được thể chế hóa. Đó là sự tác động của các cơ quan có thẩm quyền, đại diện cho nhà nước đến đối tượng quản lý và các quan hệ xã hội thông qua phương pháp chủ yếu là thuyế t phục và cưỡng chế.
Tính quyền lực nhà nước được thể hiện rõ nhấ t trong trường h ợp nế u các tổ chức , cá nhân không tự giác, tự nguyện tuân thủ thực thi hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước sẽ 17 z được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế. Đây là đặc trưng cơ bản cho phép phân biệt quản lý nhà nước với các hoạt động quản lý xã hội thông thường khác không phải là quản lý nhà nước. Trong Luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm quản lý nhà nước theo cả hai nghĩa r ộng và hẹp, tùy theo từng vấn đề, phạm vi, góc độ tiếp cận khác nhau để xem xét, lý giải vấn đề. Quản lý nhà nước về du lịch là “làm chức năng quản lý vĩ mô về du lịch, không làm chức năng chủ quản, không làm chức năng kinh doanh thay các doanh nghiệp du lịch.
Việc quản lý đó được thông qua các công cụ quản lý vĩ mô, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau hoạt động trên lĩnh vực kinh tế du lịch. Quản lý nhà nước về du lịch là nhằm đưa du lịch phát triển theo hướng chung của tiến trình phát triển của đất nước” [11,tr. 328] Sự khác biệt của quản lý nhà nước đối với quản lý kinh doanh ở chỗ quản lý nhà nước có tổ chức quyền lực nhà nước, đặt các đơn vị sản xuất kinh doanh vào các mối quan hệ và điều chỉnh các mối quan hệ đó bằng các công cụ khác nhau, trong đó công cụ pháp luật là chính. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch Công tác quản lý nhà nước về du lịch là phát triển du lịch bền vững, góp phần quan trọng vào giá trị tổng sản phẩm xã hội, tạo việc làm và thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và địa phương.
Đối với doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và đối với doanh nghiệp nói riêng là nhằm tạo môi trường hoạt động thuận lợi, bình đẳng, cạnh tranh; đảm bảo để doanh nghiệp tuân thủ pháp luật; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Trong quá trình thực thi, công tác quản lý nhà nước về du lịch phải được triển khai đầy đủ các nội dung sau: - Quản lý nhà nước về định hướng, chiến lược phát triển du lịch: Nội dung này bao gồm việc đề ra và ban hành các quan điểm, chủ trương, chính sách vĩ mô; các mục tiêu tổng quát, chương trình, kế hoạch phát triển du lịch dài hạn; xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về du lịch, quy hoạch và tổ chức thực hiện quy hoạch… 18 z - Quản lý nhà nước đối với các cơ sở hoạt động kinh doanh du dịch: Cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch là các doanh nghiệp, tập thể, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình tham gia thị trường du lịch nhằm thu lợi. Các cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch vừa là chủ thể phát triển du lịch vừa là đối tượng quản lý của nhà nước về du lịch bởi vậy đòi hỏi họ phải có đăng ký kinh doanh và làm các nghĩa vụ đối với nhà nước, xã hội. Việc quản lý các cơ sở này là tất yếu khách quan nhằm duy trì trật tự, kỷ cương pháp luật, tạo ra sân chơi bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của mọi cá nhân, tổ chức trong lĩnh vực kinh doanh du lịch.
- Quản lý nhà nước đối với luồng khách và hoạt động của khách du lịch: Khách du lịch cũng là đối tượng cần được quản lý chặt chẽ. Việc quản lý khách du dịch có hai góc độ. Góc độ thứ nhất nhằm thống kê, nắm bắt tình hình phát triển thị trường du lịch, phân tích dự báo thị trường để có giải pháp thu hút khách, khai thác thị trường phục vụ mục đích tăng trưởng du lịch. Góc độ thứ hai, quản lý các hoạt động của khách du lịch nhằm nắm bắt nhu cầu, thái độ và đánh giá, phân khúc thị trường du khách nhằm phục vụ tốt nhất cho từng nhóm đối tượng, đáp ứng nhu cầu phong phú, đa dạng của du khách.
Hơn thế nữa, quản lý tốt hoạt động của du khách cũng là để phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực du lịch. - Quản lý nhà nước đối với các tuyến, các điểm du lịch: Các điểm, tuyến du lịch chính là điểm đến, là nơi thu hút và thỏa mãn nhu cầu của khách. Bởi vậy quản lý tốt các tuyến, điểm du lịch có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo và duy trì các luồng khách đến với du lịch. Quản lý các tuyến, điểm du lịch là nội dung mang tính phức hợp trong quản lý nhà nước về du lịch ở một địa danh, một công trình hay một chuỗi các địa danh, công trình du lịch nào đó bao gồm đầy đủ các nội dung quy hoạch và thực hiện quy hoạch, quản lý luồng khách và hoạt động của khách, quản lý các đơn vị, cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch, quản lý an ninh – trật tự… - Quản lý nhà nước đối với các ngành, các cơ quan có thẩm quyền và liên quan đến du lịch: Các ngành, cơ quan có thẩm quyền và liên quan đến du lịch vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quản lý nhà nước.
Mỗi một ngành, cơ quan phụ trách từng mảng, nội dung quản lý nhà nước khác nhau, có nhiều mối quan hệ ngang và 19 z dọc, cùng phối hợp, hỗ trợ đồng thời kiểm soát và chế ước lẫn nhau. Việc quản lý tốt các cơ quan này nhằm phát huy tốt chức trách, nhiệm vụ của họ và tránh tình trạng lạm quyền, hạn chế các tiêu cực phát sinh trong quản lý nhà nước về du lịch.