Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam" do nghiên cứu sinh Hồ Đức Phớc thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2009), chuyên ngành Kinh tế (mã số: 62.31.01.05), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đào Phương Liên.

Về tính cấp thiết, công trình được triển khai trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quá trình đô thị hóa và phát triển ngành du lịch đòi hỏi hệ thống cơ sở hạ tầng phải được đầu tư tương xứng. Mặc dù nhiều thành phố đã tập trung nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, song công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này còn bộc lộ nhiều hạn chế ở các khâu: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, lập và quản lý quy hoạch, kế hoạch đầu tư, quản lý dự án, tổ chức bộ máy, năng lực cán bộ công chức cũng như công tác thanh tra, kiểm tra. Tình trạng lãng phí, thất thoát vốn và đầu tư thiếu đồng bộ làm cho cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: Sau khi Luật Du lịch năm 2005 được ban hành, Chính phủ đã có hai nghị định hướng dẫn, nhưng các văn bản quy định tiêu chí cụ thể về khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch vẫn chưa được ban hành đầy đủ. Trước đó, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu nội dung quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch một cách tổng thể, toàn diện, hệ thống và độc lập tại Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung:

  1. Góp phần làm rõ cơ sở khoa học của quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng đô thị du lịch.
  2. Phân tích, đánh giá một cách toàn diện và hệ thống, chỉ ra thành tựu, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng cơ sở hạ tầng và quản lý nhà nước trong lĩnh vực này tại các đô thị du lịch Việt Nam giai đoạn 2000 - 2009.
  3. Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.

Đối tượng nghiên cứu là hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng tại 4 đô thị mang tính đại diện cho các loại hình đô thị du lịch ở Việt Nam, gồm thành phố Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh - đại diện đô thị du lịch biển phía Bắc), thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng - đại diện đô thị du lịch sinh thái miền núi), thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế - đại diện đô thị du lịch văn hóa lịch sử) và thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu - đại diện đô thị du lịch biển phía Nam).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng trong giai đoạn 2000 - 2009; định hướng và giải pháp hoàn thiện được đề xuất đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình liên quan đến quản lý nhà nước, dịch vụ công và đầu tư cơ sở hạ tầng xây dựng cơ bản:

  • Nhóm công trình về dịch vụ công và xã hội hóa: Cuốn sách Cải cách dịch vụ công ở Việt Nam của PGS.TS. Lê Chi Mai (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2003); cuốn sách Dịch vụ công và xã hội hóa dịch vụ công - một số vấn đề lý luận và thực tiễn do TS. Chu Văn Thành chủ biên (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2004). Các ấn phẩm này làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế về dịch vụ công gắn với cơ sở hạ tầng do Nhà nước cung ứng, nhưng chưa đi sâu vào phương thức quản lý nhà nước đối với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật chuyên ngành.
  • Nhóm đề tài và luận án về quản lý chi tiêu, quản lý vốn đầu tư xây dựng cơ bản: Đề tài Một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư tại kho bạc nhà nước Hà Nội nhằm góp phần chống thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản do nhóm nghiên cứu thuộc Kho bạc Nhà nước thực hiện (2006); đề tài khoa học Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển các khu du lịch, điểm du lịch của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch - Tổng cục Du lịch (2007); luận án tiến sĩ của Trịnh Quân Được tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (2001) về Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển công nghiệp từ nguồn ngân sách nhà nước; luận án tiến sĩ kinh tế của Nguyễn Xuân Vinh tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (1989) về Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế vốn đầu tư xây dựng cơ bản trong ngành thông tin bưu điện; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Trường (2000) về Hoàn thiện quản lý tài chính trong các trung tâm kiểm định kỹ thuật; luận văn thạc sĩ của Nguyễn Khắc Thiện (2006) về Tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh Hà Tây.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Các tài liệu nói trên nghiên cứu từng khía cạnh riêng biệt như kiểm soát vốn ngân sách, dịch vụ công, hoặc hiệu quả đầu tư trong phạm vi một ngành hẹp (công nghiệp, thông tin bưu điện) hay một địa phương cụ thể. Chưa có công trình nào tích hợp các lý thuyết kinh tế công cộng để giải quyết vấn đề quản lý nhà nước đối với toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội đặc thù của đô thị du lịch trong khung khổ pháp lý của Luật Du lịch năm 2005.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp các nền tảng lý thuyết kinh tế chính trị và kinh tế học công cộng:

  • Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa kiến trúc thượng tầng và cơ sở kinh tế; tư tưởng của V.I. Lênin trong các tác phẩm Nhà nước và cách mạng, Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền Xô Viết về chức năng quản lý kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước kiểu mới.
  • Lịch sử tư tưởng kinh tế về vai trò của Nhà nước: Phân tích tư tưởng của trường phái Trọng thương (nhấn mạnh sự can thiệp của nhà nước vào lưu thông tiền tệ và ngoại thương); lý thuyết "Bàn tay vô hình" của Adam Smith (kinh tế chính trị tư sản cổ điển) khẳng định sự điều tiết của quy luật khách quan nhưng chỉ ra ba chức năng công cộng của Nhà nước (bảo vệ xã hội, thiết lập công lý, duy trì công trình và định chế công cộng); lý thuyết của J.M. Keynes về sự can thiệp của Nhà nước nhằm kích cầu qua chi tiêu công và tín dụng; lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp của Paul A. Samuelson kết hợp cơ chế thị trường với bốn chức năng kinh tế của chính phủ (thiết lập khung khổ pháp luật, sửa chữa thất bại thị trường, đảm bảo công bằng và ổn định kinh tế vĩ mô).
  • Lý thuyết kinh tế học công cộng về hàng hóa công cộng: Cơ sở hạ tầng đô thị được phân tích dưới tính chất của hàng hóa công cộng (thuần túy và không thuần túy), đặc trưng bởi "tính không loại trừ" (non-excludability) và "tính không tranh giành" (non-rivalry). Do chi phí tiêu dùng cận biên thấp hoặc khó thu hồi vốn trực tiếp từ người sử dụng, thị trường tư nhân thường thất bại hoặc cung cấp không đầy đủ, đặt ra yêu cầu Nhà nước phải trực tiếp cung ứng hoặc điều tiết vĩ mô.
  • Khái niệm và tiêu chí: Sử dụng các định nghĩa về đô thị (theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa Xô viết 1963, Giáo trình Kinh tế Xây dựng Đại học Kiến trúc, Nghị định số 72/2001/NĐ-CP); định nghĩa du lịch của Hội nghị quốc tế về thống kê du lịch tại Ottawa (1991), Hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan (1989), Luật Du lịch Bulgaria, Pháp lệnh Du lịch năm 1999 và Luật Du lịch Việt Nam năm 2005; các khái niệm điểm du lịch, tài nguyên du lịch (tự nhiên và nhân văn), khách du lịch và cơ sở lưu trú.

Phương pháp nghiên cứu được áp dụng gồm:

  • Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Phương pháp tiếp cận hệ thống, phân tích và tổng hợp lý thuyết.
  • Phương pháp thống kê mô tả, so sánh số liệu kinh tế.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế; trực tiếp trao đổi, thảo luận với cán bộ quản lý, lãnh đạo chính quyền đô thị du lịch, chuyên gia quy hoạch - kiến trúc và thu thập tư liệu từ các hội thảo chuyên đề.

Nguồn dữ liệu và tư liệu:

  • Văn bản pháp quy: Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Du lịch năm 2005, Luật Đấu thầu và Nghị định số 72/2001/NĐ-CP.
  • Dữ liệu thứ cấp: Số liệu từ Tổng cục Thống kê, Báo cáo kinh tế xã hội của các thành phố Hạ Long, Đà Lạt, Huế, Vũng Tàu; tài liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các công trình xã hội học đô thị (như tài liệu của Trịnh Duy Hoàn, năm 2005).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, phân loại và vai trò của cơ sở hạ tầng đô thị du lịch. Tác giả đưa ra định nghĩa: Đô thị du lịch là đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo quy định của pháp luật, có tài nguyên du lịch hấp dẫn, có cơ sở hạ tầng đồng bộ đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch và du lịch là ngành chủ yếu trong cơ cấu kinh tế đô thị.

Về phân loại, cơ sở hạ tầng đô thị du lịch gồm hai bộ phận chính:

  • Cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Gồm hệ thống đường giao thông đối nội và đối ngoại; cấp điện và chiếu sáng đô thị; cấp nước sạch; thoát nước và xử lý nước thải; bến cảng, sân bay; công trình công nghệ thông tin và viễn thông; phương tiện giao thông vận tải hành khách; công trình bảo vệ môi trường và các cơ sở kỹ thuật khác.
  • Cơ sở hạ tầng xã hội (cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch): Gồm hệ thống cơ sở lưu trú (khách sạn, làng du lịch, biệt thự, nhà an dưỡng); cơ sở y tế khám chữa bệnh, cấp cứu; ngân hàng, tài chính; công trình thể thao, văn hóa, nghệ thuật, bảo tàng; công viên, khu vui chơi giải trí; siêu thị, chợ, trung tâm thương mại; hệ thống đảm bảo an ninh, trật tự; nghĩa trang và các công trình dịch vụ khác.

Cơ sở hạ tầng đô thị du lịch có năm đặc điểm kinh tế - kỹ thuật chủ yếu:

  1. Thuộc loại dịch vụ công, cung ứng hàng hóa công cộng thuần túy hoặc không thuần túy nhằm phục vụ lợi ích chung của cộng đồng và khách lưu trú.
  2. Mang sắc thái vùng và lãnh thổ rõ rệt, gắn với địa hình, cảnh quan và phong tục văn hóa bản địa.
  3. Có thời hạn khấu hao lâu dài, đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn nhưng thời gian thu hồi vốn kéo dài.
  4. Có mật độ công trình cao, đòi hỏi tính hệ thống và tính đồng bộ chặt chẽ giữa các mạng lưới kỹ thuật.
  5. Có mối quan hệ mật thiết với tài nguyên du lịch và chịu chi phối mạnh bởi tính thời vụ. Điển hình, đô thị du lịch biển phía Bắc có thời gian khai thác tập trung vào mùa nắng (khoảng 4 tháng), mùa đông nhiều dịch vụ ngưng hoạt động; trong khi các đô thị phía Nam có thể khai thác quanh năm.

Tác giả phân tích mối quan hệ giữa trình độ đô thị hóa và GDP bình quân đầu người dựa trên bảng số liệu tổng hợp:

Nhóm nước GDP bình quân đầu người Tỷ lệ đô thị hóa
Các nước thu nhập thấp 270 USD 22%
Các nước thu nhập trung bình 1.290 USD 48%
Những nền kinh tế thị trường công nghiệp 11.810 USD 75%

Về nội dung quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch, luận án xác định bốn trụ cột cần hoàn thiện:

  1. Xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ với chương trình phát triển kinh tế - xã hội.
  2. Xây dựng và kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước tương ứng với hai phương thức: quản lý trực tiếp các dự án công cộng sử dụng vốn ngân sách nhà nước, và quản lý vĩ mô đối với các công trình do tư nhân hoặc các tổ chức xã hội đầu tư.
  3. Quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng (từ thẩm định chủ trương, thiết kế - dự toán, đấu thầu, thi công, giám sát chất lượng đến thanh quyết toán) kết hợp duy tu, bảo dưỡng và khai thác sử dụng.
  4. Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật và pháp luật nhằm ngăn chặn tổn thất, lãng phí và tham nhũng.

Chương này cũng tổng kết kinh nghiệm quản lý hạ tầng đô thị của một số quốc gia, nhấn mạnh bài học từ Trung Quốc về việc đặt điểm số tiêu chí hạ tầng ở mức cao nhất khi xét duyệt công nhận đô thị du lịch và xử lý vi phạm trong xây dựng cơ bản.

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam

Chương 2 tập trung khảo sát thực tiễn tại các đô thị Hạ Long, Đà Lạt, Huế và Vũng Tàu trong giai đoạn 2000 - 2009. Luận án phân tích bối cảnh sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định ngày 22 tháng 7 năm 2002 công nhận 11 đô thị du lịch (gồm TP. Hạ Long, TP. Huế, TP. Nha Trang, TP. Vũng Tàu, TP. Đà Lạt, TX. Phan Thiết, TP. Sa Pa, TX. Sầm Sơn, TX. Hội An, TX. Hà Tiên).

Luận án đánh giá thực trạng từng phân hệ hạ tầng kỹ thuật:

  • Mạng lưới giao thông: Hệ thống giao thông đối ngoại kết nối đến các đô thị du lịch đã được cải tạo nhưng giao thông đối nội còn chật hẹp, thiếu bãi đỗ xe tĩnh, thiếu hệ thống vận tải hành khách công cộng chất lượng cao.
  • Hệ thống cấp nước sạch: Công suất cấp nước tại một số đô thị chưa đáp ứng được nhu cầu tăng đột biến vào mùa cao điểm du lịch; tỷ lệ thất thoát nước sạch còn ở mức cao.
  • Hệ thống thoát nước và xử lý nước thải, chất thải rắn: Hầu hết các đô thị du lịch sử dụng hệ thống thoát nước chung cho cả nước mưa và nước thải sinh hoạt; tỷ lệ nước thải được thu gom và xử lý đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường biển hoặc sông hồ còn thấp. Phương thức xử lý rác thải chủ yếu vẫn là chôn lấp hợp vệ sinh hoặc chôn lấp tự nhiên.
  • Hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở lưu trú: Hệ thống bưu chính viễn thông phát triển nhanh; số lượng khách sạn, nhà hàng tăng trưởng mạnh nhưng phân bố không đồng đều, thiếu các khu vui chơi giải trí phức hợp quy mô lớn.

Về công tác quản lý nhà nước, chương 2 chỉ ra các kết quả và hạn chế cụ thể:

  • Công tác quy hoạch: Nhiều đồ án quy hoạch chi tiết thiếu tính đồng bộ, tình trạng điều chỉnh quy hoạch cục bộ để phục vụ các dự án thứ cấp còn diễn ra; quy hoạch xây dựng chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch bảo vệ tài nguyên môi trường.
  • Cơ chế huy động vốn: Dù đã xuất hiện các hình thức đầu tư ngoài ngân sách, nguồn vốn phát triển hạ tầng kỹ thuật khung vẫn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; cơ chế khai thác quỹ đất ("đổi đất lấy công trình") và các hợp đồng BOT, BTO, BT, BOO triển khai còn chậm và thiếu khung khổ pháp lý cụ thể.
  • Quản lý quá trình đầu tư và thất thoát vốn: Công tác thẩm định dự án, thẩm định dự toán còn sai sót; thủ tục giải phóng mặt bằng kéo dài làm chậm tiến độ thi công; hiện tượng thông đồng trong đấu thầu và rút ruột công trình dẫn đến công trình xuống cấp nhanh.
  • Tổ chức bộ máy và cán bộ: Sự phân định trách nhiệm quản lý giữa các sở chuyên ngành (Xây dựng, Giao thông vận tải, Du lịch, Tài nguyên và Môi trường) và Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc tỉnh còn chồng chéo, bộ máy thanh tra xây dựng mỏng, chưa kiểm soát hết các vi phạm trật tự xây dựng đô thị.

Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước đôi vơi cơ sở hạ tầng đô thị du lịch ở Việt Nam

Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp thực hiện đến năm 2025, tầm nhìn 2050 dựa trên căn cứ bối cảnh hội nhập quốc tế sau khi gia nhập WTO và Chiến lược phát triển du lịch, Chiến lược phát triển hệ thống đô thị Việt Nam.

Tác giả xác định sáu phương hướng quản lý nhà nước:

  1. Hoàn thiện công tác quy hoạch, đảm bảo quy hoạch phải đi trước một bước, có tầm nhìn dài hạn, bảo tồn cảnh quan và lấy ý kiến phản biện rộng rãi của cộng đồng dân cư.
  2. Hoàn thiện các chế độ chính sách khuyến khích xây dựng nhanh và khai thác sử dụng có hiệu quả cơ sở hạ tầng đô thị.
  3. Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý cơ sở hạ tầng đô thị du lịch và từng bước xây dựng mô hình chính quyền đô thị.
  4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ các khâu đầu tư nhằm chống thất thoát, lãng phí và tham nhũng.
  5. Xây dựng và thực thi nghiêm minh hệ thống chính sách, pháp luật trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.
  6. Xây dựng văn hóa đô thị và văn hóa quản lý đô thị hiện đại.

Các nhóm giải pháp cơ bản được luận án xây dựng gồm:

  • Nhóm giải pháp 1: Đổi mới, bổ sung, điều chỉnh các công cụ vĩ mô và tạo lập cơ sở pháp lý. Trọng tâm là yêu cầu Chính phủ sớm ban hành bộ tiêu chí chính thức về đô thị du lịch (bao gồm các tiêu chí về tài nguyên, hạ tầng kỹ thuật, môi trường, cơ cấu kinh tế du lịch); sửa đổi các văn bản hướng dẫn Luật Đầu tư, Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, Luật Đất đai để tháo gỡ vướng mắc trong đền bù giải phóng mặt bằng.
  • Nhóm giải pháp 2: Chuyển đổi hình thức sở hữu đơn nhất của Nhà nước sang đa dạng hóa hình thức sở hữu, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư. Nhà nước tập trung vốn ngân sách vào các công trình hạ tầng kỹ thuật then chốt, không có khả năng thu hồi vốn trực tiếp; ban hành cơ chế ưu đãi tài chính, thuế, tín dụng để thu hút các doanh nghiệp tư nhân, nguồn vốn FDI, ODA tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua hợp đồng BOT, BTO, BT, BOO và cơ chế khai thác quỹ đất.
  • Nhóm giải pháp 3: Nâng cao năng lực quản lý của bộ máy nhà nước. Kiện toàn tổ chức các ban quản lý dự án; chuẩn hóa quy trình tuyển dụng và đào tạo đội ngũ cán bộ công chức có chuyên môn sâu và phẩm chất đạo đức liêm chính; nâng cao chất lượng thẩm định dự án, giám sát thi công; ứng dụng công nghệ và vật liệu mới (như bê tông xốp, tấm lợp 3D, gạch không nung) trong xây dựng hạ tầng; tăng cường chế tài xử phạt vi phạm hành chính và xử lý hình sự đối với hành vi làm thất thoát vốn nhà nước.

Luận án kết thúc bằng các kiến nghị cụ thể:

  • Đối với Nhà nước Trung ương: Ban hành Nghị định về tiêu chí đô thị du lịch; hoàn thiện thể chế quản lý tài chính công và hình thức đối tác công tư trong phát triển hạ tầng.
  • Đối với chính quyền các đô thị du lịch: Nâng cao trách nhiệm trong quản lý trật tự kiến trúc cảnh quan; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính về cấp phép xây dựng; thực hiện công khai, minh bạch quy hoạch để người dân giám sát theo phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết về vai trò kinh tế của Nhà nước và kinh tế học công cộng trong việc cung ứng, quản lý cơ sở hạ tầng đô thị du lịch dưới góc độ hàng hóa công cộng.
  • Xác định và luận giải năm đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đặc thù của cơ sở hạ tầng đô thị du lịch (tính dịch vụ công, tính vùng lãnh thổ, thời gian khấu hao dài, tính hệ thống đồng bộ mật độ cao, mối liên hệ với tài nguyên và tính thời vụ), làm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chính sách quản lý nhà nước chuyên ngành.
  • Đề xuất luận cứ khoa học khẳng định sự cần thiết phải xây dựng bộ tiêu chí riêng để công nhận và phân loại đô thị du lịch thay vì chỉ áp dụng tiêu chí dân số và mật độ dân số thuần túy như quy định chung đối với các đô thị khác.

Về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh phân tích toàn diện, có hệ thống về thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng và công tác quản lý nhà nước tại 4 đô thị du lịch đại diện cho các vùng miền sinh thái - văn hóa của Việt Nam (Hạ Long, Đà Lạt, Huế, Vũng Tàu) trong giai đoạn 2000 - 2009.
  • Chỉ rõ hạn chế "gốc rễ" trong quản lý thực tiễn: Sự thiếu vắng bộ tiêu chí đô thị du lịch chính thức do Chính phủ ban hành theo Luật Du lịch năm 2005; cơ chế đầu tư phụ thuộc nặng nề vào ngân sách nhà nước; sự chồng chéo, phân tán trong bộ máy điều hành đô thị; tình trạng thất thoát, lãng phí trong các khâu chuẩn bị và thi công xây dựng cơ bản.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ từ điều chỉnh công cụ pháp lý vĩ mô, đa dạng hóa phương thức huy động vốn (BOT, BTO, BT, BOO), kiện toàn tổ chức bộ máy, siết chặt thanh tra kiểm tra đến xây dựng văn hóa quản lý đô thị hiện đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi khảo sát thực tế mới tập trung sâu vào 4 thành phố (Hạ Long, Đà Lạt, Huế, Vũng Tàu), chưa bao quát hết tất cả 11 đô thị du lịch đã được phê duyệt chủ trương từ năm 2002.
  • Chuỗi số liệu khảo sát dừng lại ở mốc năm 2008 - 2009, chịu sự chi phối của khung khổ pháp lý tại thời điểm đó (Nghị định số 72/2001/NĐ-CP và Luật Du lịch năm 2005 mới ban hành chưa có đủ hệ thống thông tư hướng dẫn chi tiết).
  • Các chỉ tiêu đánh giá thất thoát, lãng phí vốn đầu tư xây dựng cơ bản chủ yếu dựa trên số liệu thanh tra, kiểm tra được công bố, chưa xây dựng được mô hình kinh tế lượng để lượng hóa chính xác tổn thất vốn.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát đối với các đô thị du lịch loại hình khác như đô thị di sản (Hội An), đô thị vùng cao biên giới (Sa Pa) hoặc các thị xã du lịch biển miền Trung (Sầm Sơn, Cửa Lò).
  • Tiếp tục nghiên cứu định lượng về cơ chế phân cấp tài chính và chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước và khu vực tư nhân trong các dự án hợp tác công - tư (PPP) phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị du lịch khi các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên ngành Kinh tế, Quản lý kinh tế, Quản lý công, Đô thị học và Du lịch: Tài liệu cung cấp hệ thống lý luận chặt chẽ về hàng hóa công cộng, phân loại cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội và phương pháp luận đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với đô thị chuyên ngành.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Xây dựng, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch): Đóng vai trò tài liệu tham khảo cho quá trình xây dựng chính sách, đặc biệt là việc soạn thảo các nghị định, thông tư quy định tiêu chuẩn, tiêu chí công nhận đô thị du lịch tại Việt Nam.
  • Đối với chính quyền địa phương và các ban quản lý dự án tại các đô thị du lịch: Cung cấp cơ sở khoa học để rà soát quy hoạch, nâng cao hiệu lực kiểm soát chi tiêu công, phòng chống thất thoát lãng phí trong đấu thầu xây lắp và vận dụng linh hoạt các phương thức xã hội hóa đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng.

Câu hỏi thường gặp

1. Điều kiện để một đô thị được công nhận là đô thị du lịch theo quy định của Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 gồm những gì?

Theo Luật Du lịch năm 2005 (được tác giả trích dẫn tại mục 1.1 Chương 1), một đô thị có đủ ba điều kiện sau thì được công nhận là đô thị du lịch:

  1. Có tài nguyên du lịch hấp dẫn trong ranh giới đô thị hoặc trong ranh giới đô thị và khu vực liền kề.
  2. Có cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch; có cơ cấu lao động phù hợp với yêu cầu phát triển du lịch.
  3. Ngành du lịch có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế, đạt tỷ lệ thu nhập từ du lịch trên tổng thu nhập các ngành dịch vụ theo quy định của Chính phủ.

2. Vì sao cơ sở hạ tầng đô thị du lịch lại chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi tính thời vụ, và tác giả phân tích sự khác biệt giữa hai miền Nam - Bắc như thế nào?

Cơ sở hạ tầng đô thị du lịch chịu ảnh hưởng của thời tiết và chu kỳ nghỉ dưỡng của du khách. Tác giả chỉ ra:

  • Tại các đô thị du lịch biển phía Bắc (như Hạ Long, Sầm Sơn), do có mùa đông lạnh nên hoạt động du lịch chỉ tập trung vào một mùa nắng khoảng 4 tháng; trong thời gian còn lại, hệ thống khách sạn, cơ sở lưu trú và dịch vụ vui chơi giải trí hoạt động cầm chừng hoặc gần như đóng cửa, dẫn đến hệ số sử dụng công trình thấp.
  • Ngược lại, các đô thị du lịch phía Nam (như Vũng Tàu) có khí hậu nắng ấm quanh năm nên phát huy tối đa công suất cơ sở hạ tầng trong cả 12 tháng, đem lại hiệu quả kinh doanh cao hơn. Do đó, bài toán đầu tư cơ sở hạ tầng bắt buộc phải tính toán kỹ yếu tố thời vụ để lựa chọn quy mô, vật liệu và phương án bảo trì phù hợp.

3. Bốn đô thị du lịch nào được chọn làm đại diện trong phạm vi nghiên cứu của luận án và đại diện cho các loại hình nào?

Bốn đô thị được tác giả lựa chọn khảo sát thực tế đại diện cho bốn loại hình đô thị du lịch đặc trưng tại Việt Nam:

  1. Thành phố Hạ Long (tỉnh Quảng Ninh): Đại diện cho loại hình đô thị du lịch biển phía Bắc.
  2. Thành phố Đà Lạt (tỉnh Lâm Đồng): Đại diện cho loại hình đô thị du lịch sinh thái miền núi.
  3. Thành phố Huế (tỉnh Thừa Thiên Huế): Đại diện cho loại hình đô thị du lịch văn hóa lịch sử.
  4. Thành phố Vũng Tàu (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu): Đại diện cho loại hình đô thị du lịch biển phía Nam.

4. Tác giả luận án đề xuất những hình thức huy động vốn đầu tư cụ thể nào để chuyển đổi sở hữu đơn nhất của Nhà nước sang đa dạng hóa nguồn lực phát triển cơ sở hạ tầng đô thị du lịch?

Tác giả đề xuất Nhà nước không nên bao cấp toàn bộ mà chuyển giao một phần việc cung ứng, khai thác cho khu vực tư nhân và doanh nghiệp thông qua các phương thức:

  • Đấu thầu hợp đồng sản xuất và cung ứng dịch vụ công cộng.
  • Áp dụng các hình thức hợp đồng dự án: BOT (Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao), BTO (Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh), BT (Xây dựng - Chuyển giao) và BOO (Đầu tư xây dựng - Quản lý - Sử dụng).
  • Áp dụng cơ chế khai thác quỹ đất ("đổi đất lấy công trình") để tạo vốn xây dựng hạ tầng kỹ thuật.
  • Khuyến khích vốn FDI, vốn viện trợ ODA và huy động vốn đóng góp của các tổ chức kinh tế trong nước.

5. Theo lý thuyết của Paul A. Samuelson được tác giả phân tích, chính phủ trong nền kinh tế thị trường hiện đại đảm nhận những chức năng kinh tế chính nào?

Dựa trên lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp của Paul A. Samuelson, tác giả nêu rõ chính phủ có bốn chức năng chính:

  1. Thiết lập khuôn khổ luật pháp.
  2. Sửa chữa những thất bại của thị trường để thị trường hoạt động có hiệu quả (xử lý độc quyền do đầu cơ, giải quyết các tác động ngoại ứng, trực tiếp đảm nhận sản xuất các hàng hóa công cộng và thực hiện chính sách thuế khóa).
  3. Đảm bảo sự công bằng xã hội.
  4. Ổn định kinh tế vĩ mô (ngăn ngừa suy thoái, khủng hoảng, kiềm chế lạm phát và giải quyết thất nghiệp).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Đức Phớc đã hệ thống hóa cơ sở lý luận kinh tế học công cộng và kinh tế chính trị về vai trò quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch - một loại hàng hóa công cộng đặc thù chịu ảnh hưởng của tính vùng miền và tính thời vụ. Bằng việc phân tích thực trạng tại bốn đô thị tiêu biểu (Hạ Long, Đà Lạt, Huế, Vũng Tàu) giai đoạn 2000 - 2009, tác giả đã nhận diện rõ những điểm nghẽn về thể chế, quy hoạch, cơ chế huy động vốn và tình trạng lãng phí trong đầu tư công. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất ba nhóm giải pháp đồng bộ và các kiến nghị cụ thể đến năm 2025 nhằm hoàn thiện công cụ quản lý vĩ mô, đa dạng hóa các hình thức sở hữu đầu tư và nâng cao năng lực bộ máy quản lý nhà nước, góp phần thúc đẩy hệ thống đô thị du lịch Việt Nam phát triển bền vững.