phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có 04 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế luận văn Chƣơng 3: Phân tích thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội tại các khách sạn 2-3 sao trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa Chƣơng 4: Các giải pháp nâng cao trách nhiệm xã hội tại các khách sạn 2-3 sao trên địa bàn Thành phố Thanh Hóa 4 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp đang dần trở thành mối quan tâm chung của quốc tế, của các quốc gia và của đa số các doanh nghiệp trên thế giới. Vì vậy, nghiên cứu về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) cũng nhận đƣợc sự quan tâm rất lớn của giới học thuật trong hàng chục thập kỉ qua.
Có rất nhiều nghiên cứu về CSR nói chung và mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR với kết quả hoạt động của doanh nghiệp, với sự trung thành và gắn bó của ngƣời lao động. Một số nghiên cứu thì tập trung tìm hiểu mối quan hệ giữa việc thực hiện CSR với giá trị thƣơng hiệu và lòng trung thành của khách hàng. Có thể kể đến một số nghiên cứu nhƣ sau: Mathew (2006) bàn về tầm quan trọng của CSR trong doanh nghiệp nhƣ: Các quy định kinh doanh toàn cầu mới- sự hiểu biết của công ty về trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, thực hành CSR đáp ứng lý thuyết quản trị toàn cầu và mạng lƣới chính sách công cộng toàn cầu. Collier và Esteban (2007) tìm hiểu mối quan hệ giữa CSR và sự cam kết của nhân viên.
Hai tác giả này đã tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu lý thuyết cũng nhƣ nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây về CSR, động lực và sự cam kết của nhân viên để chỉ ra rằng hiệu quả của các hoạt động CSR phụ thuộc vào mức độ tham gia của nhân viên mà trong khi mức độ tham gia này thì lại chịu ảnh hƣởng của các yếu tố hoàn cảnh và nhận thức của NLĐ. Theo Collier và Esteban, tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp xuyên quốc gia phải chịu trách nhiệm về những quy tắc ứng xử đạo đức của 5 z họ mà còn phải chịu trách nhiệm về ảnh hƣởng của nó gây ra cho các bên liên quan hiện tại và các thế hệ tƣơng lai. Vì vậy, CSR muốn đƣợc thực thi có hiệu quả thì doanh nghiệp cần thúc đẩy và tạo đƣợc sự cam kết của nhân viên. Sự cam kết này sẽ rất quan trọng khi doanh nghiệp hoạt động trong các bối cảnh văn hóa khác nhau.
Ngoài ra, cũng theo hai tác giả này, nếu doanh nghiệp chỉ có bản tuyên bố sứ mệnh và bộ quy tắc ứng xử thôi thì vẫn chƣa đủ mà cần khiến những quy tắc đạo đức đó đƣợc ngấm sâu vào văn hóa của doanh nghiệp cũng nhƣ ngấm vào tâm trí và trái tim của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) lần đầu tiên đƣợc thực hiện trong ngành du lịch vào cuối những năm 1990 bởi các tập đoàn khách sạn quốc tế. Nhiều chuỗi khách sạn quốc tế đã tích hợp các biện pháp CSR, chẳng hạn nhƣ Marriott International với chƣơng trình "Spirit to Serve Our Communities" hoặc "Street Children" của NH Hoteles. Ngày nay, nhiều chuỗi khách sạn xuất bản các báo cáo CSR hàng năm trên các trang web của họ (ví dụ nhƣ Accor, Hilton Hotel Tổng công ty, Khách sạn Inter Continental, Khách sạn NH, Banyan Tree, Club Méditerranée.
Một loạt các công cụ tự nguyện hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện các hoạt động CSR. Điều này bắt đầu với việc thiết lập nguyên tắc CSR trong tầm nhìn của công ty, dựa vào sự hỗ trợ của ban quản lý và nhân viên. Các chƣơng trình CSR hoặc các quy tắc ứng xử, chẳng hạn nhƣ chƣơng trình Khách Sạn Trái Đất của Accor Hotels, các cuộc thi dành cho các hoạt động du lịch sinh thái và có trách nhiệm với xã hội nhƣ EcoTrophea, giải thƣởng môi trƣờng quốc tế của Hiệp hội Du lịch Đức (DRV). Các biện pháp CSR của các doanh nghiệp du lịch bao gồm việc sử dụng có trách nhiệm tài nguyên tự nhiên và văn hoá; giảm thiểu ô nhiễm và chất thải; bảo tồn cảnh quan, đa dạng sinh học và di sản văn hoá; công bằng và có trách nhiệm đối với nhân viên, nhà cung cấp và khách; sử dụng hợp lý các sản phẩm và dịch vụ địa phƣơng; cũng nhƣ sự tham gia và hợp tác 6 z với cộng đồng địa phƣơng để nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân địa phƣơng.
Rachel Dodds và Marion Joppe (2005) trong báo cáo của mình đã chỉ ra rằng ngành du lịch trên toàn thế giới hiện có 760 triệu ngƣời và tài khoản tƣơng đƣơng một phần mƣời việc làm trên toàn cầu. Ở hầu hết các nƣớc, đặc biệt là các nƣớc có thu nhập thấp, du lịch đƣợc xem là một lựa chọn khả thi cho tăng trƣởng kinh tế, nhƣng những thực tiễn du lịch không bền vững hiện nay có thể ảnh hƣởng đến sức khoẻ và phúc lợi của môi trƣờng và cộng đồng. Ở nhiều nƣớc thu nhập thấp du lịch có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế và du lịch đƣờng dài đang phát triển tại tốc độ nhanh nhất (tăng gấp đôi từ năm 1997-2001). Trong hầu hết các ngành công nghiệp, các tiêu chuẩn và thực tiễn về CSR đã đƣợc xây dựng để đáp ứng với áp lực bên ngoài.
Tuy nhiên trong du lịch, việc sử dụng các quy tắc ứng xử và chứng nhận không phổ biến rộng rãi và không dựa trên các thỏa thuận quốc tế tiêu chuẩn. Khó có thể khái quát hóa về CSR mà không cần xem xét bối cảnh trong đó du lịch bền vững hoạt động, nhu cầu của nó và cũng đánh giá nhiều chƣơng trình chứng nhận, quy tắc ứng xử và thực tiễn tốt nhất trong ngành tìm hiểu mối quan hệ giữa CSR và sự cam kết của nhân viên. Hai tác giả này đã tổng hợp và phân tích các kết quả nghiên cứu lý thuyết cũng nhƣ nghiên cứu thực nghiệm trƣớc đây, kết luận 3 điểm nhƣ sau. Thứ nhất, có rất ít nhu cầu đối với du lịch bền vững, cần phải nghiên cứu thêm để xác định xem các sản phẩm hay dịch vụ có thể đƣợc chuyển đổi để bao gồm tính bền vững hơn hay không.
Nếu ngƣời tiêu dùng và ngành công nghiệp đƣợc định hƣớng bởi giá cả thì cần phải suy nghĩ lại về chiến lƣợc bao gồm tính bền vững trong phạm vi hiện tại cấu trúc chi phí. Thứ hai, còn ít các báo cáo, chứng nhận về sự thành công hay sự cố gắng thực hiện của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch. Cần tiếp tục phát triển khái niệm chứng nhận quốc tế cho ngành du lịch bao gồm (môi trƣờng, xã hội, văn hoá.) theo dõi và báo cáo liên tục. Thứ ba, CSR 7 z có thể giúp giải quyết một số các vấn đề mà du lịch phải đối mặt với việc thúc đẩy các hoạt động du lịch bền vững, tuy nhiên, ngành công nghiệp cần kêu gọi cả sự tham gia và hỗ trợ của chính phủ nếu muốn tăng sự sức ảnh hƣởng của CSR.
Chính phủ cần có những biện pháp để hỗ trợ và trấn an các nhà đầu tƣ trong ngành du lịch rằng chính phủ sẽ hỗ trợ và khuyến khích quản lý và phát triển du lịch bền vững, đây là động lực và cam kết để những ngƣời làm việc trong ngành cũng nhƣ các khách hàng sử dụng sảm phẩm dịch vụ hiểu rằng hiệu quả của các hoạt động CSR phụ thuộc quan trọng vào mức độ tham gia của họ. Nhóm tác giả Andrea Ettinger, Sonja Grabner-Krauter, Ralf Terlutter (2018) đƣa ra ba cách tiếp cận xem xét việc thực hiện CSR của các khách sạn bao gồm thông tin công bố hoạt động CSR trên trang web của họ, cách khách hàng nhận xét về cam kết CSR của khách sạn trong đánh giá trực tuyến và cách khách sạn phản hồi các đánh giá trực tuyến. Các chiến lƣợc truyền thông CSR , phản hồi và sự tham gia của các bên liên quan của Morsing và Schultz (2006) đã đƣợc sử dụng làm khung khái niệm. Nhóm tác giả dựa trên trên mẫu của 47 khách sạn đƣợc chứng nhận bởi CSR của Áo, nghiên cứu đầu tiên đã khám phá mức độ khách sạn liên lạc các hoạt động CSR với các bên liên quan thông qua trang web của họ.
Nghiên cứu thứ hai đã phân tích 1383 đánh giá trực tuyến của khách hàng về cùng một khách sạn trên TripAdvisor® liên quan đến tài liệu tham khảo CSR. Nghiên cứu thứ ba phân tích phản ứng của khách sạn đối với các đánh giá trực tuyến. Kết quả cho thấy các vấn đề môi trƣờng và quan hệ nhà cung cấp nhận đƣợc sự quan tâm cao nhất từ các khách sạn và đánh giá của khách hàng. Quan hệ nhân viên ít đƣợc truyền đạt và giải quyết trong các bài đánh giá.
Ba nghiên cứu khám phá các cơ hội để tăng cƣờng tích hợp các bên liên quan trong các chiến lƣợc truyền thông và cam kết của CSR. Nghiên cứu này đã chỉ ra các bằng chứng cho thấy việc thực hiện các công việc truyền thông liên quan đến CSR trên webside và các công cụ online nhƣ các trang web đánh 8 z giá du lịch có tác dụng rất lớn đến việc nhìn nhận của khách hàng về các khách sạn nhỏ, mang lại lợi ích lớn cho bản thân doanh nghiệp cũng nhƣ động lực thúc đẩy các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lƣu trú cam kết thực hiện CSR đúng với giá trị mang lại. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) đã đƣợc biết đến từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX. Kể từ đó đến nay có rất nhiều bài nghiên cứu về CSR.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về CSR chƣa mang tính hệ thống. Những nghiên cứu về CSR đƣợc công bố chính thức trên các tạp chí chuyên ngành hay báo cáo của các tổ chức phi chính phủ, có một số bài viết về CSR cũng đƣợc đăng tải trên các tạp chí điện tử, diễn đàn về CSR chƣa đƣợc hệ thống, và chắt lọc lại thành những bài học cho các doanh nghiệp làm tài liệu tham khảo. Các bài viết chủ yếu hƣớng đến việc làm rõ phạm trù CSR và chỉ ra những lợi ích của CSR đối với doanh nghiệp ở góc độ lý luận. Những công trình nghiên cứu về CSR nội bộ và sự hài lòng của nhân viên còn rất ít.