Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong bối cảnh ngành du lịch Việt Nam từng bước khẳng định vị thế là ngành kinh tế mũi nhọn, tài nguyên du lịch nhân văn đóng vai trò nền tảng để định hình các sản phẩm du lịch mang bản sắc văn hóa độc đáo. Tỉnh Bắc Ninh, dù có diện tích tự nhiên nhỏ nhất cả nước (được văn bản ghi nhận là 82,6 km²), lại sở hữu hệ thống di sản văn hóa phi vật thể và vật thể phong phú như dân ca Quan họ, các làng nghề thủ công truyền thống (làng tranh Đông Hồ, gốm Phù Lãng...) và hệ thống di tích lịch sử - văn hóa dày đặc. Trong đó, di tích đền Đô (phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn) – nơi phụng thờ tám vị vua triều Lý – là một quần thể kiến trúc nghệ thuật và tâm linh có ý nghĩa lịch sử sâu sắc. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch tại di tích này trong thực tế vẫn còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có. Khóa luận tốt nghiệp ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch – Lữ hành của tác giả Vương Thị Minh Hằng được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống giữa tiềm năng tài nguyên và hiệu quả khai thác thực tế tại điểm đến.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhận định, đánh giá và vận dụng các giá trị hiện hữu tại di tích lịch sử - văn hóa đền Đô nhằm nâng cao hiệu quả khai thác phát triển du lịch tại điểm đến. Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch, tài nguyên du lịch và sự phát triển du lịch gắn với di tích lịch sử - văn hóa.
  2. Đánh giá các giá trị đặc trưng của đền Đô và phân tích thực trạng hoạt động khai thác phát triển du lịch tại điểm di tích giai đoạn 2015 – 2019.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp và khuyến nghị khả thi nhằm tăng cường hiệu quả quản lý, khai thác du lịch tại di tích trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:

  • Đối tượng nghiên cứu:
    • Chủ thể: Các giá trị lịch sử, kiến trúc, văn hóa của di tích đền Đô cùng các hoạt động khai thác phát triển du lịch tại điểm đến.
    • Khách thể: Khách du lịch, cộng đồng dân cư địa phương, ban quản lý di tích và các đơn vị kinh doanh lữ hành.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Khuôn viên di tích lịch sử - văn hóa đền Đô tại phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
    • Thời gian: Dữ liệu và thực trạng được khảo cứu trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm chuẩn mực từ văn bản quy phạm pháp luật và các công trình khoa học chuyên ngành:

  • Khái niệm và văn bản pháp lý: Vận dụng định nghĩa về "Du lịch" của Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO) và Luật Du lịch Việt Nam năm 2017; khái niệm "Sự phát triển" của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam; các định nghĩa về "Tài nguyên du lịch" và "Tài nguyên du lịch văn hóa" (bao gồm tài nguyên văn hóa vật thể và phi vật thể).
  • Khung tiêu chí đánh giá: Khóa luận xác lập hệ thống tiêu chí đánh giá di tích (vị trí, lịch sử hình thành, quy mô kiến trúc, giá trị cổ vật, môi trường, xếp hạng di tích) và các tiêu chí đo lường sự phát triển du lịch tại điểm di tích (lượng khách, sự phát triển dịch vụ, cơ sở hạ tầng - cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức quản lý, lực lượng lao động và doanh thu).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai trong khóa luận bao gồm:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: Thu thập, đối chiếu và tổng hợp các nguồn tư liệu thứ cấp từ giáo trình, sách lịch sử, văn bản pháp quy, các báo cáo chuyên ngành của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh và Ban quản lý di tích đền Đô.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện phỏng vấn sâu cán bộ quản lý (tiêu biểu như phỏng vấn Phó trưởng Ban quản lý khu di tích), người dân địa phương và các nhóm du khách thuộc nhiều lứa tuổi, đối tượng tham quan khác nhau.
  • Phương pháp điền dã: Khảo sát thực địa trực tiếp tại di tích đền Đô nhằm ghi nhận hiện trạng không gian kiến trúc, cơ sở vật chất kỹ thuật, điều kiện vệ sinh môi trường và quan sát các hoạt động du lịch, lễ bái thực tế.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu là sự kết hợp giữa số liệu hành chính thống kê chính thức giai đoạn 2015 – 2019 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh cung cấp cùng dữ liệu sơ cấp do tác giả tự tổng hợp, đo đếm trong quá trình khảo sát năm 2019.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển du lịch gắn với tài nguyên du lịch là di tích lịch sử - văn hóa

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận căn bản về mối quan hệ giữa tài nguyên du lịch nhân văn và hoạt động phát triển du lịch:

  • Phân tích các đặc trưng cơ bản của tài nguyên du lịch văn hóa: tính dễ bị suy thoái và không có khả năng tự phục hồi (đòi hỏi phải thường xuyên bảo tồn, tôn tạo khoa học), tính phổ biến gắn liền với cộng đồng cư dân, tính đặc sắc vùng miền và tính mùa vụ thấp hơn so với tài nguyên du lịch tự nhiên.
  • Xác định 5 điều kiện cốt lõi để khai thác di tích cho phát triển du lịch: Cơ sở vật chất kỹ thuật và tiện nghi phục vụ; Đường lối, chính sách phát triển liên ngành; Nguồn nhân lực quản lý và phục vụ trực tiếp; Vai trò quản lý của chính quyền địa phương; Mối quan hệ mật thiết giữa phát triển du lịch và công tác bảo tồn di tích.
  • Làm rõ các giá trị khai thác du lịch của di tích (sức hấp dẫn lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật, tính nguyên bản; khả năng tiếp cận và liên tuyến du lịch; nhân lực phục vụ; công tác xúc tiến quảng bá; an ninh an toàn) cùng các tiêu chí định lượng, định tính đánh giá trình độ phát triển du lịch tại điểm đến.

Chương 2: Hiện trạng khai thác phát triển du lịch tại di tích lịch sử - văn hóa đền Đô

Chương 2 tập trung phân tích toàn diện hiện trạng tài nguyên và thực tế khai thác tại đền Đô:

  • Lịch sử và quy mô: Đền Đô khởi dựng từ thế kỷ XI (ngày 3/3/1030 dưới triều vua Lý Thái Tông), được trùng tu lớn vào năm 1602 dưới thời vua Lê Kính Tông, khắc bia "Cổ Pháp Điện Tạo Bi" năm 1604. Sau khi bị phá hủy hoàn toàn năm 1952, di tích được khôi phục từ năm 1989 và được công nhận Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia ngày 25/01/1991. Tổng diện tích di tích rộng 31.250 m² gồm 21 hạng mục công trình, phân định thành 2 khu vực:
    • Nội thành (4.340 m²): Hậu cung (Cổ Pháp Điện, 180 m² hình chữ Công thờ 8 vị vua Lý), nhà Tiền tế (220 m², 7 gian với 48 cột gỗ lim), nhà Chuyển bồng (80 m² kiểu chồng diêm 8 mái), nhà Phương đình (70 m²), nhà để 8 kiệu thờ (130 m²), nhà để 8 ngựa thờ (130 m²), Ngũ Long Môn (60 m²), Sân Rồng (2.800 m²), Nhà thờ Mẫu (100 m²), 2 nhà khách (mỗi nhà 150 m²), nhà bia.
    • Ngoại thành (26.910 m²): Hồ bán nguyệt (9.500 m²) với Thủy đình 3 gian 8 mái chồng diêm ở giữa hồ, nhà Văn chỉ (180 m² thờ Lý Đạo Thành, Tô Hiến Thành), nhà Võ chỉ (187 m² thờ Đào Cam Mộc, Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt), hệ thống nhà bia (bia "Cổ Pháp Điện Tạo Bi" cao 190 cm, rộng 103 cm, dày 17 cm và nhà bia bên phải cao 2 m, rộng 1 m).
STT Tên cơ sở vật chất Số lượng (chiếc)
1 Hòm công đức 15
2 Đèn trong đền 20
3 Quạt 30
4 Ghế đá 30
5 Cột cờ 2
6 Cột đèn ngoài sân Rồng 1
7 Lư hương 3
8 Giếng nước 1
9 Khu vực nhà vệ sinh 1
  • Phương thức tổ chức và quản lý: Hoạt động lễ bái, dâng hương diễn ra thường xuyên; học sinh các trường tham quan học tập và nghe hát Quan họ tại Thủy đình. Lễ hội đền Đô tổ chức định kỳ vào ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch (kỷ niệm ngày Lý Công Uẩn đăng quang 15/3 Canh Tuất 1009) với phần lễ rước kiệu Lý Thánh Mẫu, rước kiệu Bát Đế và phần hội gồm các trò chơi dân gian: đấu vật, cờ người, hát Quan họ, thả chim bồ câu, thi nấu cơm niêu đất.
  • Cơ sở vật chất kỹ thuật và tiện nghi: Trong di tích có 1 khu vệ sinh công cộng đạt chuẩn, quầy hàng lưu niệm hoạt động từ 6h00 đến 19h00. Di tích chưa có cơ sở lưu trú, nhà hàng tại chỗ (các khách sạn Gia Bảo, Hưng Long và nhà hàng Trâu Ngon Quán, Hồng Long Quán nằm cách đền 3 - 5 km), chưa có dịch vụ phục vụ nhu cầu cao cấp.
  • Thực trạng khách du lịch và nguồn thu:
Chỉ tiêu 2015 2016 2017 2018 6 tháng đầu năm 2019
Khách nội địa (người) 15.830 - - - 16.423
Khách quốc tế (người) 533 - - - 437
Doanh thu công đức (triệu đồng) - 55 (giai đoạn 15-16) 70 (giai đoạn 16-17) 62 (giai đoạn 17-18) 56 (giai đoạn 18-19) / 40 (6T/2019)
  • Đánh giá SWOT:
    • Điểm mạnh (S): Chiều sâu lịch sử triều Lý; Bác Hồ từng về thăm 4 lần; kiến trúc gỗ cổ bề thế, phong thủy tốt; an ninh trật tự và vệ sinh môi trường bảo đảm (trung bình 1 thùng rác/30m).
    • Hạn chế (W): Chưa có đề án liên ngành; dịch vụ du lịch đơn điệu; thiếu đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm có chuyên môn (chỉ có duy nhất một cộng tác viên là nhà giáo Nguyễn Đức Thìn tham gia thuyết minh); các trò chơi dân gian chỉ diễn ra trong 3 ngày hội; chưa phát huy hệ thống loa truyền thanh.
    • Cơ hội (O): Xu hướng tìm về cội nguồn tăng; vị trí giao thông thuận lợi (cách Hà Nội dưới 20 km, kết nối xe buýt số 10, 54, 203); tiềm năng liên tuyến cao với chùa Bút Tháp, đền Dâu, đền Phật Tích, đình Đình Bảng, đền Bà Chúa Kho và các làng nghề Phù Khê, Đồng Kỵ, Đại Bái.
    • Thách thức (T): Cạnh tranh điểm đến với các di tích lân cận trong tỉnh; áp lực dung hòa giữa bảo tồn nguyên trạng và thương mại hóa du lịch.

Chương 3: Một số giải pháp và khuyến nghị tăng cường hiệu quả khai thác phát triển du lịch tại di tích lịch sử - văn hóa đền Đô

Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị cụ thể:

  • 5 nhóm giải pháp trọng tâm:
    1. Phát triển sản phẩm du lịch gắn với giá trị lịch sử đền Đô và diễn xướng dân ca Quan họ.
    2. Tăng cường công tác nghiên cứu, bảo tồn nguyên trạng các hạng mục và cổ vật di tích.
    3. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến, tuyên truyền, ứng dụng công nghệ thông tin và xây dựng hình ảnh điểm đến.
    4. Đào tạo, chuẩn hóa nguồn nhân lực và thành lập đội ngũ hướng dẫn viên chuyên nghiệp tại điểm.
    5. Xây dựng chính sách huy động vốn, quản lý nguồn tiền công đức minh bạch và thu hút đầu tư hạ tầng du lịch.
  • 5 nhóm khuyến nghị: Khuyến nghị đối với du khách (chấp hành nội quy, ứng xử văn minh); Ban quản lý di tích (nâng cao quản lý dịch vụ, tiền giọt dầu, an ninh); Chính quyền địa phương (hoạch định quy hoạch, tổ chức bồi dưỡng nghề); Người dân địa phương (tham gia bảo vệ môi trường, văn minh thương mại); Doanh nghiệp lữ hành (thiết kế tour liên tuyến chuyên đề văn hóa Kinh Bắc).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật, thực tiễn cụ thể:

  • Kết quả dữ liệu thực tế: Khóa luận lập danh mục kiểm kê chi tiết 21 hạng mục công trình của đền Đô với các thông số diện tích cụ thể (tổng thể 31.250 m², Hậu cung 180 m², Tiền tế 220 m², Hồ bán nguyệt 9.500 m²...); thống kê số lượng trang thiết bị nội tự; tổng hợp chuỗi số liệu lượng khách và doanh thu công đức giai đoạn 2015 – 2019.
  • Phát hiện thực trạng: Khóa luận chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất trong công tác khai thác du lịch tại đền Đô là sự thiếu hụt hoàn toàn đội ngũ hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp tại điểm, nguồn thu du lịch phụ thuộc đơn thuần vào hòm công đức do chưa tổ chức thu phí vé thắng cảnh hay khai thác các dịch vụ bổ trợ có thu phí.
  • Đóng góp của đề tài:
    • Ý nghĩa khoa học: Hệ thống hóa khung lý luận về đánh giá tài nguyên di tích lịch sử - văn hóa phục vụ phát triển du lịch tại một điểm đến cụ thể ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
    • Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp luận cứ thực chứng và đề xuất các giải pháp khả thi giúp Ban quản lý di tích đền Đô, chính quyền địa phương và các hãng lữ hành tối ưu hóa quy trình quản lý, liên kết tour tuyến và nâng cao chất lượng trải nghiệm cho du khách.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu trong phạm vi không gian một điểm di tích đơn lẻ (đền Đô) và phạm vi thời gian số liệu thứ cấp dừng ở giai đoạn 2015 đến 6 tháng đầu năm 2019. Việc đánh giá hành vi và mức chi tiêu của du khách chủ yếu dựa trên quan sát và phỏng vấn định tính, chưa triển khai khảo sát định lượng diện rộng với bảng câu hỏi cấu trúc quy mô lớn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tác giả gợi mở việc mở rộng phạm vi nghiên cứu sang đánh giá sức chứa du lịch tổng thể của cụm di tích phụ cận trên địa bàn thị xã Từ Sơn; nghiên cứu mô hình quản trị hợp tác công - tư (PPP) trong bảo tồn di sản gắn với phát triển du lịch bền vững; và xây dựng đề án liên kết tour chuyên đề làng nghề - lễ hội dọc tuyến sông Tiêu Tương cổ.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:

  • Sinh viên và học viên: Chuyên ngành Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản trị Điểm đến, Văn hóa học, Việt Nam học, Di sản học khi thực hiện đồ án, khóa luận về khai thác du lịch văn hóa tâm linh.
  • Cơ quan quản lý và doanh nghiệp: Ban quản lý các khu di tích lịch sử, Phòng Văn hóa và Thông tin cấp huyện/thị xã trong việc tham khảo bộ tiêu chí đánh giá hiện trạng và mô hình quản lý tiền công đức, vệ sinh môi trường; các công ty lữ hành nghiên cứu xây dựng tour liên tuyến kết nối Hà Nội - Bắc Ninh.
  • Nội dung tham khảo giá trị nhất: Phần mô tả chi tiết kiến trúc, kích thước các hạng mục di tích tại Chương 2; ma trận SWOT phân tích thực trạng khai thác; và hệ thống bảng biểu kiểm kê cơ sở vật chất, số liệu thống kê du khách giai đoạn 2015 – 2019.

Câu hỏi thường gặp

1. Di tích đền Đô thờ phụng những ai và được khởi dựng chính thức vào năm nào? Đền Đô là nơi thờ tự tám vị vua triều Lý (Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông). Đền được khởi dựng từ ngày 3 tháng 3 năm Canh Ngọ (1030) khi vua Lý Thái Tông cho sửa sang ngôi nhà nghênh tiếp trước đây thành Cổ Pháp Điện để làm nơi thờ vua cha Lý Thái Tổ và các bậc tiên vương sau khi băng hà.

2. Quy mô diện tích tổng thể và cách phân chia không gian kiến trúc của đền Đô được quy hoạch như thế nào? Tổng diện tích toàn bộ di tích rộng 31.250 m², gồm 21 hạng mục công trình xây dựng. Khuôn viên được chia làm 2 khu vực chính: Nội thành rộng 4.340 m² (chứa các công trình Hậu cung, Tiền tế, Chuyển bồng, Phương đình, Ngũ Long Môn, Sân Rồng, nhà để kiệu, nhà để ngựa, nhà khách, nhà Mẫu...) và Ngoại thành rộng 26.910 m² (gồm Hồ bán nguyệt rộng 9.500 m² có Thủy đình, nhà Văn chỉ 180 m², nhà Võ chỉ 187 m² và 2 nhà bia).

3. Thực trạng đội ngũ thuyết minh, hướng dẫn viên tại điểm đền Đô ở thời điểm nghiên cứu (2019) có đặc điểm gì? Tại thời điểm nghiên cứu năm 2019, đền Đô chưa có đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm tốt nghiệp chuyên ngành du lịch có đầy đủ nghiệp vụ chính quy. Hoạt động giới thiệu di tích cho du khách chủ yếu do một cộng tác viên địa phương là nhà giáo Nguyễn Đức Thìn tự nguyện đảm nhiệm khi có đoàn tham quan.

4. Cơ cấu nguồn thu từ hoạt động du lịch tại đền Đô giai đoạn 2015 – 2019 diễn biến ra sao? Nguồn thu du lịch tại đền Đô hoàn toàn dựa vào tiền công đức của khách du lịch, chưa triển khai bán vé tham quan hay dịch vụ phụ trợ có thu phí. Mức doanh thu công đức ghi nhận: giai đoạn 2015 – 2016 đạt 55 triệu đồng; 2016 – 2017 đạt 70 triệu đồng; 2017 – 2018 đạt 62 triệu đồng; 2018 – 2019 đạt 56 triệu đồng; và 6 tháng đầu năm 2019 đạt 40 triệu đồng.

5. Lễ hội đền Đô được tổ chức vào thời gian nào và có những nghi lễ, trò chơi dân gian đặc trưng nào? Lễ hội diễn ra vào các ngày 14, 15, 16 tháng 3 âm lịch hàng năm nhằm kỷ niệm ngày vua Lý Thái Tổ đăng quang (15/3 năm Canh Tuất 1009) và ban "Chiếu dời đô". Phần lễ có nghi thức rước kiệu Lý Thánh Mẫu (chiều 13/3) và rước kiệu Bát Đế sang đền Cổ Pháp rồi rước về đền Đô. Phần hội tổ chức các hoạt động văn hóa dân gian như đấu vật, cờ người, hát Quan họ tại Thủy đình, hội thơ, chơi đu, thả chim bồ câu, chọi gà và thi nấu cơm niêu đất.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vương Thị Minh Hằng đã phản ánh toàn diện hiện trạng khai thác du lịch tại Di tích quốc gia đền Đô thông qua hệ thống dữ liệu thực chứng và khảo sát điền dã chi tiết. Công trình làm nổi bật thế mạnh về kiến trúc nghệ thuật, chiều sâu lịch sử triều Lý của điểm đến, đồng thời thẳng thắn chỉ ra những hạn chế cố hữu về nhân lực thuyết minh, dịch vụ bổ trợ và mô hình tạo nguồn thu. Các giải pháp và khuyến nghị được đề xuất mang tính hệ thống, gắn kết giữa yêu cầu bảo tồn di sản văn hóa với mục tiêu phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Bắc Ninh.