Chương I, Điều 3 giải thích từ ngữ, khoản 1: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác”. Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: Du lịch là một trong 6 những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc. Nhìn từ góc độ kinh tế: Du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác. Như vậy, chúng ta thấy được du lịch là một hoạt động có nhiều đặc thù, bao gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp.
Nó vừa mang đặc điểm của ngành kinh tế vừa có đặc điểm của ngành văn hóa – xã hội. Sản phẩm du lịch: có nhiều khái niệm về sản phẩm du lịch, một trong những khái niệm đó là: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ trên cơ sở khai thác giá trị tài nguyên du lịch để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch” (Theo Luật Du lịch năm 2017). Sản phẩm du lịch = Tài nguyên du lịch + Các dịch vụ và hàng hóa du lịch. Vai trò của du lịch Du lịch được coi như là một sở thích mà bất kỳ ai đều có, chúng được coi như là hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người.
Ngày nay du lịch được coi như là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hoá, xã hội và là một trong những ngành kinh tế quan trọng của rất nhiều đất nước. Xét về góc độ kinh tế du lịch là ngành có hiệu quả kinh tế cao nhờ hình thức xuất khẩu du lịch và văn hoá tại chỗ. Du lịch có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế quốc gia, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của rất nhiều đất nước. Du lịch giúp cho con người nâng cao hiểu biết, nâng cao chất lượng các mối quan hệ xã hội, giúp mang lại cuộc sống hạnh phúc và thành công.
Vai trò của du lịch trong nền kinh tế: Ngành du lịch đóng góp một phần đáng kể trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân ở nhiều quốc gia. Đặc biệt, đối với Việt Nam, ngành Du lịch hiện nay được xem như là một trong ba ngành kinh tế mũi nhọn; được chú trọng đầu tư; không ngừng phát triển và có những đóng góp tích cực vào nền kinh tế quốc gia. Du lịch phát triển thúc đẩy các ngành kinh tế hỗ trợ phát triển theo như giao 7 thông vận tải; bưu chính viễn thông; bảo hiểm; dịch vụ tài chính; dịch vụ lưu trú và ăn uống. Ngành du lịch phát triển cũng đem lại một thị trường tiêu thụ hàng hóa rộng lớn; từ đó thúc đẩy tăng trưởng nhanh tổng sản phẩm kinh tế quốc dân.
Du lịch quốc tế phát triển đem lại nguồn lợi từ thu hút vốn đầu tư nước ngoài; hoạt động xuất khẩu tại chỗ và tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước. Ngoài ra; du lịch quốc tế phát triển cũng giúp củng cố và phát triển mối quan hệ kinh tế với các nước trên thế giới cũng như thúc đẩy phát triển giao thông quốc tế. Vai trò du lịch đối với sự phát triển của xã hội: Ngành Du lịch tạo ra hàng triệu việc làm cho nhiều lao động; đặc biệt tạo ra cơ hội việc làm lớn cho các lao động nữ. Ngành Du lịch cũng giải quyết việc làm cho nhiều người dân vùng nông thôn; tạo nên những chuyển biến tích cực trong xã hội; nâng cao mức sống của người dân và vị thế của phụ nữ trong xã hội.
Ngoài ra; ngành Du lịch còn góp phần giảm quá trình đô thị hóa khi giúp cân bằng lại sự phân bố dân cư và hệ thống cơ sở hạ tầng từ độ thị về nông thôn trong quá trình phát triển du lịch. Nhờ đó; hạn chế được những tác động tiêu cực do quá trình đô thị hóa gây ra. Du lịch phát triển giúp truyền bá văn hóa với hình ảnh đất nước; con người Việt Nam cho bạn bè quốc tế; đồng thời cũng là phương tiện quảng bá hàng hóa Việt Nam ra thị trường nước ngoài hiệu quả. Du lịch thúc đẩy và tạo cơ hội cho việc giao lưu; trao đổi giữa các nền văn hóa trên thế giới; giúp cho con người hiểu biết lẫn nhau và gắn kết nhau hơn.
Mặt khác; du lịch cũng đóng góp một phần tích cực trong việc bảo tồn các di sản văn hóa và thúc đẩy các hoạt động văn hóa có quy mô và chất lượng. Tài nguyên du lịch (Tourism resources) a. Khái niệm Là khách thể của du lịch và là cơ sở phát triển của ngành du lịch. Các nhà nghiên cứu về du lịch (Bài giảng thuộc khoá huấn luyện du lịch bền vững các KBT biển, https://nmssanctuaries.net) đưa ra khái niệm sau: Mọi nhân tố có thể kích thích động cơ du lịch của khách du lịch được ngành du lịch tận dụng 8 để sinh ra lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội đều được gọi là tài nguyên du lịch.
Nói một cách khác, đã là nhân tố thiên nhiên, nhân văn và xã hội có thể thu hút được khách du lịch thì gọi chung là tài nguyên du lịch. Đây là một khái niệm rất rộng và rất bao quát, rất thiết thực. Tài nguyên du lịch theo Pirojnik (I.I Pirojnik, (1985): “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hoá – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thế lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khoẻ của họ, trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế, kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp tạo ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”. Về thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên và các đối tượng văn hoá, lịch sử đã bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch; Tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên đã, đang và tài nguyên chưa được khai thác.
Tài nguyên du lịch được xem như tiền đề phát triển du lịch, nó càng phong phú đặc sắc có mức độ tập trung cao bao nhiêu thì càng có sức hấp dẫn đối với du khách bấy nhiêu và đem lại hiệu quả kinh doanh du lịch cao. Phân loại tài nguyên du lịch Theo điều 13 Luật du lịch của Việt nam: Tài nguyên du lịch gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác và chưa được khai thác. - Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí hậu, thuỷ văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch. - Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hoá, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục vụ mục đích du lịch.
+ Tài nguyên du lịch nhân văn vật thể bao gồm các di tích lịch sử, các công 9 trình kiến trúc, văn hoá, nghệ thuật. + Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể bao gồm các truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, các phong tục tập quán, các loại hình nghệ thuật truyền thống. - Tài nguyên du lịch xã hội bao gồm các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội do con người đương đại tổ chức cũng tạo ra sức hấp dẫn để thu hút khách du lịch. Ví dụ như: các sự kiện thể thao thế giới, các cuộc thi hoa hậu thế giới và khu vực, các hội nghị chính trị - kinh tế như: Hội nghị APEC, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN.
Theo Giáo trình Tổng quan về du lịch và phát triển du lịch bền vững, 2007, Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội, xét theo tiêu chí tiềm năng các nhà khoa học cũng chia ra: + Tài nguyên du lịch hiện thực (tức là có khả nămg khai thác) + Tài nguyên du lịch tiềm năng còn chưa khai phá Chỉ có tài nguyên du lịch hiện thực mới có giá trị du lịch và mới có thể phát triển ngành du lịch. Loại hình và các mô hình du lịch Trên cơ sở của việc phân loại các tài nguyên du lịch, các nhà kinh doanh du lịch đã xây dựng các khu du lịch, các điểm du lịch. - Khu du lịch: Khu du lịch là đơn vị cơ bản của công tác qui hoạch và quản lí du lịch, là không gian có môi trường đẹp, cảnh vật tương đối tập trung, là tổng thể về địa lí lấy chức năng du lịch làm chính. Để trở thành khu du lịch phải thoả mãn được hai điều kiện + Thứ nhất, tài nguyên du lịch trong khu du lịch có qui mô nhất định và tương đối tập trung.
+ Thứ hai, có cơ sở đáp ứng nhu cầu du lịch như: ăn, ở, đi lại tham quan, vui chơi giải trí, mua sắm của khách du lịch. - Điểm du lịch bao gồm: Cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn và các loại động thực vật; là kết quả sáng tạo do con người xây dựng nên, đó là bảo tàng, di tích cổ đại, di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật, du lịch nước, du lịch săn bắn, du lịch leo núi (mạo 10 hiểm) và những nơi nghỉ mát. Loại hình du lịch Các loại hình du lịch ở Việt Nam hiện nay cũng được phân loại khá rộng rãi, trong đề tài này, tập trung các loại hình du lịch được phân loại theo mục đích chuyến đi. - Du lịch sinh thái Định nghĩa của Việt Nam Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST “là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng dân cư, kết hợp giáo dục về bảo vệ môi trường” (Theo Luật Du lịch năm 2017).
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch kết hợp giữa điều kiện tự nhiên và văn hóa của Việt Nam.