Chương 1 Luật du lịch số 09/2017/QH14. Các chính sách về phát triển du lịch ở địa phương giúp cho hoạt động phát triển du lịch phát triển theo đúng quan điểm, đúng định hướng của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện giao lưu, hiểu biết lẫn nhau, gia tăng sự đoàn kết, tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa các quốc gia, dân tộc,. Hiện nay, du lịch đang dần trở thành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của nước ta, mang lại nguồn thu nhập khổng lồ, tạo ra cơ hội việc làm cho lao động cũng là nhờ vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh việc thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch, chính sách của chính quyền còn kiểm soát sự phát triển du lịch với các vấn đề tiêu cực khác như tác động đến môi trường, thương mại hoá văn hoá, mai một về tài nguyên du lịch,.
Ở Việt Nam, ngành du lịch nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và 12 Nhà nước thể hiện qua nước ta có một ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch theo Quyết đinh số 23/100/QĐ-TTg. Bên cạnh đó, nhà nước cũng ban hành rất nhiều văn bản chỉ đạo liên quan đến ngành du lịch, đặc biệt là Luật du lịch năm 2005, Luật du lịch năm 2017. Đây cũng chính là khung pháp lý quan trọng, thể hiện quyết tâm của chính phủ Việt Nam coi ngành du lịch là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn. Điều kiện về kinh tế, cơ sở hạ tầng Nền kinh tế phát triển là tiền đề cho sự ra đời và phát triển của ngành kinh tế du lịch.
Ngành du lịch và các ngành kinh tế khác có mối liên hệ phụ thuộc chặt chẽ với nhau. Du lịch phát triển dựa trên thành quả của các ngành kinh tế khác, điển hình là nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, công nghiệp nhẹ. Du lịch được coi là thị trường tiêu thụ lớn hàng hoá được cung ứng từ các ngành kinh tế này. Muốn phát triển du lịch, các ngành sản xuất không chỉ cần đảm bảo về khối lượng hàng hoá cung ứng mà còn phải đảm bảo về chất lượng, thẩm mỹ, đa dạng về chủng loại.
Điều này cũng có nghĩa là những địa phương có nền kinh tế càng phát triển, càng có thể đáp ứng nguồn hàng hoá chất lượng cao, khối lượng lớn, là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch tại địa phương. Du lịch văn hoá cũng như các loại hình du lịch khác, không tồn tại độc lập mà nằm trong hệ thống hữu cơ các ngành nghề khác nhau. Yếu tố kinh tế thứ hai có tác động lớn đến cầu du lịch là thu nhập. Nhu cầu du lịch là một loại nhu cầu xã hội đặc biệt và mang tính tổng hợp cao, thể hiện sự mong muốn tạm thời rời nơi ở thường xuyên để đến với thiên nhiên và văn hoá ở một nơi khác; là nguyện vọng cần thiết của con người muốn được giải phóng khỏi sự căng thẳng, tiếng ồn, sự ô nhiễm môi trường ngày càng tăng tại trung tâm công nghiệp, đô thị, để nghỉ dưỡng, giải trí, tăng cường sự hiểu biết, phục hồi sức khoẻ,.
nhu cầu du lịch xuất hiện khi nhu cầu sinh học và nhu cầu an toàn được thoả mãn. Kinh tế yếu tố quan trọng có thể thoả mãn 2 nhu cầu này. Khi thu nhập của một gia đình sau khi chi trả cho các nhu cầu thiết yếu như ăn uống, ngủ nghỉ, mặc,. mà vẫn còn thừa một khoản tiền nhàn rỗi.
Số tiền nhàn rỗi đó sẽ được chi trả cho các hoạt động vui chơi, giải trí của con người và các 13 chuyến du lịch. Các chuyến du lịch dài ngày hay ngắn ngày, sang trọng hay không sẽ tuỳ thuộc vào số tiền nhàn rỗi đó. Với những gia đình có điều kiện kinh tế, thu nhập càng cao, nhu cầu đi du lịch của họ càng lớn, chất lượng của các chuyến du lịch càng cao. [2] Hiện nay, trước sự phát triển của nền kinh tế-xã hội, nhu cầu đi du lịch của con người cũng ngày một tăng cao.
Theo khảo sát nhu cầu và xu hướng khách du lịch của Ban Nghiên cứu Phát triển kinh tế tư nhân và Báo VnExpress tổ chức khảo sát online, với tổng số 10.717 người tham gia khảo sát, có gần 90% số người tham gia muốn đi du lịch trong 10 tháng tới, 27% sẵn sàng đi du lịch ngay trong tháng đầu. Cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống đường sá, nhà ga, sân bay, bến cảng, đường sắt, hê thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện,. Đóng vai trò là đòn bẩy thúc đẩy hoạt động kinh tế-xã hội, cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố tiền đề đảm bảo khách du lịch có thể dễ dàng tiếp cận các điểm đến du lịch và được thoả mãn các nhu cầu trong suốt chuyến đi. Ngoài ra, sự phát triển của giao thông vận tải gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
Sự phát triển của giao thông vận tải được thể hiện về cả số lượng và chất lượng. Về số lượng, giao thông vận tải có sự đa dạng về các loại hình giao thông, sự tăng lên về số lượng phương tiện vận chuyển. Về chất lượng, sự ra đời của nhiều phương tiện vận chuyển với tốc độ cao nhằm tiết kiệm thời gian di chuyển, cho phép khách du lịch đi những nơi xa hơn, giữ chân khách tại điểm du lịch, đảm bảo sự an toàn, tiện nghi mà giá cả lại rất rẻ cho du khách, khách hàng sẽ cảm thấy an tâm, không ngại di chuyển, kích thích nhu cầu đi du lịch đối với các khách hàng có mức thu nhập thấp hoặc trung bình. Điều kiện về nhân lực Theo Liên Hợp Quốc: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”.
Nhân lực du lịch là lực lượng lao động tham gia và quá trình phát triển du lịch, bao gồm cả nhân lực trực tiếp và nhân lực gián tiếp. Trong đó, nhân lực 14 trực tiếp là những người làm việc tại các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch, các đơn vị sự nghiệp du lịch, các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch,. còn nhân lực trực triếp là những người làm việc tại các bộ phận, ban, ngành liên quan đến hoạt động du lịch như văn hoá, xuất nhập cảnh, giao thông,. Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng sản phẩm du lịch.
Đây là nhân tố có ảnh hưởng nhất định đến tâm lý, tình cảm, sự hài lòng, thoả mãn của du khách đối với điểm du lịch. Nguồn nhân lực tham gia vào hoạt động du lịch yêu cầu cao về tính chuyên môn, chủ yếu là lao động thời vụ, trẻ. Bên cạnh trình độ, kiến thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ và năng lực quản lý, một người làm du lịch cần có thêm những yêu cầu về phẩm chất như sự thân thiện, tinh tế, chuyên nghiệp, và sự am hiểu về văn hoá địa phương. Điều kiện về an sinh, an toàn xã hội Trong bối cảnh xã hội hiện nay, vấn đề an sinh, an toàn xã hội, an ninh chính trị luôn được đặt hàng đầu mỗi chuyến đi du lịch.
Điều này đóng vai trò quan trọng không chỉ đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia mà bao gồm cả sự phát triển của ngành du lịch nói riêng. Du lịch chỉ có thể phát triển được trong điều kiện hoà bình, hữu nghị giữa các quốc gia và các dân tộc. Các mối quan hệ từ kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hoá đến chính trị giữa các dân tộc chỉ được mở rộng trong điều kiện hoà bình về chính trị, kể cả hoạt động du lịch. Thực tế, nếu như một đất nước, quốc gia có chế độ chính trị ổn định, tình hình trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, thu hút rất lớn lượng khách du lịch đến tham quan và du lịch.
Việt Nam đang trên đà phát triển về du lịch, là một trong những điểm sáng trên bản đồ du lịch quốc tế, được rất nhiều khách du lịch đến từ nhiều quốc gia biết đến như một quốc gia hoà bình, thân thiện. Ngược lại, ở những nước, vùng có sự bất ổn về chính trị, xung đột, chiến tranh sẽ gây ảnh hướng rất xẩu hoặc dẫn đến sự ngừng trệ các hoạt động du lịch. Tại những đất nước này, tính mạng và sự an toàn của khách du lịch không được đảm bảo, bị đe doạ trực tiếp hoặc gián tiếp qua các biến cố 15 như đảo chính, bất ổn chính trị, khủng bố, nội chiến,. Bên cạnh những bất ổn về chính trị, các hiện tượng thiên tai như bão, lũ lụt, động đất, hoặc các loại dịch bệnh cũng gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của du lịch.
Điều kiện công nhận điểm du lịch đã được quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định 168/2017/NĐ-CP.[7] Thực tế, nếu như nền kinh tế kém phát triển, hệ thống chính sách xã hội thiếu bền vững sẽ không thể có an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đầy đủ. Ngược lại, nền kinh tế phát triển và tăng trưởng nhanh, hiệu quả và bền vững trong một xã hội có hệ thống chính sách xã hội bảo đảm bền vững và phát triển phù hợp. Điều kiện về nguồn tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là một trong những yếu tố cơ bản, hàng đầu hình thành nên sản phẩm du lịch. Là cơ sở quan trọng trong việc hình thành nên các loại hình du lịch cũng như quyết định đến mục đích chuyến đi của khách du lịch.
Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hoá, có sức hấp hẫn đối với khách du lịch, được bảo vệ, tôn tạo và được khai thác cho hoạt động du lịch, mang lại nguồn lực kinh tế. Trong đó, loại hình du lịch văn hoá khai thác chủ yếu dựa trên các giá trị văn hoá làm sản phẩm du lịch chính, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu văn hoá của du khách. Như vậy, văn hoá là nguồn lực chính cho du lịch văn hoá phát triển. Tài nguyên văn hoá mà loại hình du lịch này sử dụng gồm có: tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch xã hội.
Trong đó, tài nguyên du lịch nhân văn: được hiểu là những của cải vật chất và của cải tinh thần do con người sáng tạo ra, có khả năng thu hút con người tiến hành hoạt động du lịch văn hoá.