Mở đầu. Phần 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu. Phần 4: Kết quả nghiên cứu và phân tích.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị e 5 Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG Vườn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại. Vườn quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con người. Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động - thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người (Võ Quý, 2001)[7].
Vườn quốc gia Là vùng đất tự nhiên được thành lập để bảo vệ lâu dài một hay nhiều hệ sinh thái, đáp ứng yêu cầu sau: Vùng đất tự nhiên bao gồm mẫu chuẩn của các hệ sinh thái cơ bản còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người, các khu rừng có giá trị cao về văn hóa, du lịch. Phải đủ rộng để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái và không bị thay đổi bởi những tác động xấu của con người. Tỷ lệ diện tích hệ sinh thái cần bảo tồn phải đạt từ 70% trở lên. Điều kiện giao thông tương đối thuận lợi.
Khái niệm về vùng đệm Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với khu vực đặc dụng, có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm hại khu rừng đặc dụng. Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ khu rừng đặc dụng; hạn chế di dân từ bên ngoài vào vùng đệm; cấm săn bắt, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ (Võ Quý, 2001)[7]. - Chia vùng đệm thành 2 loại chính: e 6 + Vùng đệm có dân sinh sống. + Vùng đệm không có dân sinh sống.
- Vị trí vùng đệm: Nằm liền kề ngoài KBT, bao quanh KBT và không thuộc KBT. - Xác định ranh giới vùng đệm: Gồm ranh giới phía bên trong và phía bên ngoài vùng đệm: + Ranh giới phía bên trong vùng đệm: là ranh giới giữa KBT và vùng đất đai bao quanh KBT. + Ranh giới phía bên ngoài vùng đệm: là ranh giới giữa vùng đất bao quanh KBT với vùng đất không trực tiếp bao quanh KBT; ranh giới đó thường được xác định bởi các mốc tự nhiên hoặc do con người tạo ra như: Vách núi, đường mòn, đường ô tô, đường sông, đường sắt, các con suối, hồ chứa nước… Vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG Trong thực tiễn, việc hoạch định vùng đệm cho các khu bảo tồn thiên nhiên VQG đã phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Ở Việt Nam, lần đầu tiên vùng đệm được đưa vào quy hoạch cho VQG Cúc Phương và sau đó là các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG khác.
Tuy nhiên, khó có một ranh giới rõ rệt được xác lập giữa vùng đệm và khu bảo tồn nội vi. Điều đó cho thấy sự tồn tại của vùng đệm có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững của các khu bảo tồn thiên nhiên và VQG. Chức năng chính của vùng đệm gồm: Chức năng vùng đệm xã hội: Việc quản lý vùng đệm trước hết nhằm cung cấp các sản phẩm thiết yếu đối với cuộc sống của người dân địa phương. Việc sử dụng những sinh vật hoang dã của vùng đệm có tầm quan trọng thứ yếu.
Tuy nhiên, việc sử dụng đất đai của cư dân ở đây không được mâu thuẫn với mục tiêu chính của khu bảo tồn. Chức năng vùng đệm mở rộng: Việc quản lý vùng đệm nhằm mục đích mở rộng phạm vi của môi trường sống có trong khu bảo tồn sang vùng đệm, nhờ đó mà mở rộng môi trường sống của các loài hoang dã có trong khu bảo tồn. Từ đó có thể hiểu, vùng đệm chính là khu vực diễn ra sự trao đổi lợi ích giữa các hoạt động kinh tế dân sinh của cộng đồng dân cư địa phương và các hoạt động của các loại sinh vật hoang dã vốn có trong khu bảo tồn, trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. e 7 Ý nghĩa của việc cải thiện sinh kế cho ngƣời dân vùng đệm các VGQ Hiện nay, “phương pháp sinh kế” đã được một số cơ quan phát triển áp dụng trong các động phát triển.
Như chúng ta thấy ở các phần sau, khó có thể nói là có một phương hoạt pháp thống nhất khi mà các cơ quan áp dụng một cách khác nhau, từ các hoạt động sơ khai như xây dựng các công cụ hay khung phân tích cho việc lập kế họach hoặc đánh giá ban đầu đến một số loại hoạt động cụ thể của chương trình. Ba yếu tố dẫn đường giải thích lý do của việc áp dụng “Phương pháp sinh kế bền vững” trong công tác giảm nghèo. Thứ nhất, thực tế cho thấy tăng trưởng kinh tế là cần thiết cho việc giảm nghèo nhưng không có một liên hệ trực tiếp giữa hai tác nhân này từ khi nó hoàn toàn phụ thuộc và khả năng của người nghèo tự tìm kiếm các cơ hội để phát triển kinh tế. Vì vậy, điều quan trọng là tìm ra chính xác cái gì đã ngăn cản hoặc thách thức người nghèo cải thiện sinh kế của họ trong điều kiện cụ thể để thiết kế các họat động hỗ trợ cho dự án.
Thứ hai, về nhận biết đói nghèo - như chính cảm nhận của những người nghèo- không chỉ là vấn đề thu nhập thấp mà còn bao gồm cả các yếu tố như chăm sóc y tế kém, giáo dục kém, thiếu các dịch vụ xã hội, v.v…, như là tình trạng dễ bị tổn thương và cảm giác của sự bất lực. Hơn nữa, đói nghèo hiện nay được xem là có sự liên kết giữa các yếu tố gây ra nghèo đói và cải thiện một yếu tố có thể có tác động tích cực đối với yếu tố khác. Cải thiện giáo dục có thể mang lại tác động tích cực cho việc chăm sóc y tế, mà nó có thể tăng khả năng sản xuất. Giảm tình trạng dễ bị tổn thương cho người nghèo bằng cách nêu rõ các rủi ro cho họ có thể gia tăng xu hướng để rơi vào các hoạt động rủi ro chưa được kiểm chứng trước đó nhưng mà có hiệu quả kinh tế hơn, và cứ tiếp tục như thế v.
Cuối cùng, ngày nay chúng ta nhận ra rằng chính người nghèo thường hiểu về họ và nhu cầu của họ tốt nhất và vì vậy phải lôi kéo họ tham gia trong việc thiết kế các chính sách và dự án để cải thiện số phận của họ. Khi thiết kế, chúng thường được cam kết nhiều hơn để thực hiện. Vì vậy, sự tham gia của người nghèo sẽ cải thiện kết quả của dự án. e 8 Có ba điểm cơ bản hầu hết các phương pháp thường có.
Thứ nhất là phương pháp chú trọng vào sinh kế của người nghèo, mà trong đó giảm nghèo phải là mấu chốt. Thứ hai là loại bỏ cách tiếp cận theo bộ phận đầu vào (nông nghiệp, nước sạch, hay y tế) và thay vào đó là bắt đầu bằng việc phân tích các sinh kế hiện tại để xác định các tác động phù hợp. Điểm cuối cùng là chú trọng sự tham gia của người nghèo trong việc xác định các họat động phù hợp để triển khai (Lasse, 2001) Bên cạnh đó, sự tác động cải thiện nâng cao sinh kết của hộ được bằng các họat động nông nghiệp cho thấy rằng nông nghiệp chính là họat động sinh kế chính của người dân nông thôn. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới, có đến 86% dân số nông thôn sống phụ thuộc vào nông nghiệp (WB, 2008).
Và là những thay đổi có lợi cho sinh kế của cộng đồng, nhờ các chiến lược sinh kế mang lại, cụ thể là thu nhập cao hơn, cuộc sống ổn định hơn, giảm rủi ro, đảm bảo tốt hơn an toàn thực phẩm và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên (Võ Quý, 1999 [6]. Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững Khái niệm sinh kế: - Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu và tiếp cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phương tiện sinh sống: Sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đương đầu và phục hồi sau các cú sốc, duy trì hoặc cải thiện năng lực và tài sản, và cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ kế tiếp; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương hoặc toàn cầu, trong ngắn hạn và dài hạn.” - “Sinh kế ” là mô ̣t khái niê ̣m rô ̣ng bao gồ m các phương tiê ̣n tự nhiên , kinh tế ,xã hội và văn hóa các cá nhân , hộ gia đin ̀ h , hoă ̣c nhóm xã hô ̣i sở hữu ta ̣o ra thu nhâ ̣p hoă ̣c có thể đươ ̣c sử du ̣ng trao đổ i để đáp ứng nhu cầ u của ho .̣ - Tâ ̣p hơ ̣p các nguồ n lực và khả năng mà con nguời có được kết hợp với những quyế t đinh ̣ và hoa ̣t đô ̣ng mà ho ̣ thực thi nhằ m để kiế m số ng cũng như để đa ̣t đươ ̣c các mu ̣c tiêu và ước nguyê ̣n của ho ̣. Các nguồn lực mà con người có được bao gồm: “ vốn con người, vốn xã hô ̣i, vốn tự nhiên, vốn tài chin ́ h,vốn vâ ̣t chấ t ”. e 9 Các nguồn lực sinh kế: - Vốn con người : Bao gồ m sức ma ̣nh về thể lực , trí tuệ biểu hiện kỹ năng kiế n thức làm kinh tế , khả năng quản lý gia đin ̀ h của người dân.
- Vốn xã h ội: Thể hiê ̣n thông qua quan hê ̣ xã hô ̣i có ý nghiã trong viê ̣c đảm bảo phần nào những diều kiện cần thiết cho cuộc sống. - Vốn tự nhiên: Khả năng cung ứng quý đất sản xuất , sông biể n, ao hồ có thể sử du ̣ng sản xuấ t của hô ̣ gia đình cũng như cô ̣ng đồ ng cùng với điề u kiê ̣n thuâ ̣n lơ ̣i khó khăn của việc khai thác các nguồn lực ấy là nguồn v ốn tự nhiên.