Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 1. Tổng quan những vấn đề lý luận về du lịch. Những khái niệm về du lịch Cũng nhƣ nhiều ngành khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, sản xuất, ngành Du lịch đƣợc hình thành từ rất sớm trong bối cảnh lịch sử nhất định. Trong từng thời thời kỳ, ở những khía cạnh khác nhau mà ngƣời ta đƣa ra những định nghĩa về du lịch khác nhau.
Năm 1811, lần đầu tiên tại Anh có định nghĩa về du lịch: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí. Ở đây sự giải trí là động cơ chính”. Năm 1930, ông Glusman (Thụy Sĩ) đã định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những ngƣời đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cƣ trú thƣờng xuyên”. Còn hai học giả Thụy Sĩ Hunziker và Kraff đƣa định nghĩa “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ và hiện tƣợng bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và làm việc thƣờng xuyên của họ”.
Định nghĩa này đã đƣợc Hiệp hội các chuyên gia du lịch thừa nhận. Theo các tác giả Mclntosh, Goeldner và Ritchie cho rằng khi nói đến du lịch cần cân nhắc tới các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch để hiểu bản chất của du lịch một cách đầy đủ. Các thành phần đó bao gồm: Khách du lịch, các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ du lịch, chính quyền địa phƣơng và dân cƣ địa phƣơng. Theo cách tiếp cận này, du lịch đƣợc hiểu là: “Tổng số các hiện tƣợng và mối quan hệ nảy sinh từ sự tác động qua lại giữa khách du lịch, các nhà kinh doanh, chính quyền và dân cƣ địa phƣơng trong quá trình thu hút và tiếp đón du khách”.[8, 2 – 3] Nguyễn Thị Diệu Hƣơng5 Bên cạnh đó, tổ chức du lịch thế giới – UNWTO định nghĩa Du lịch gồm: - Du lịch quốc tế (International tourism) gồm Du lịch vào trong nƣớc (inbound tourism) Du lịch ra ngoài nƣớc (outbound tourism) - Du lịch của ngƣời trong nƣớc (internal tourism) Du lịch nội địa (Domestic tourism) Du lịch quốc gia (National tourism) Theo luật du lịch của quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoản 1, điều 4, chƣơng 1 quy định: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con ngƣời ngoài nơi cƣ trú thƣờng xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dƣỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Các loại hình du lịch 1. Khái niệm Loại hình du lịch đƣợc hiểu là một tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ du lịch tƣơng tự, hoặc đƣợc bán cho cùng một nhóm khách hàng, hoặc vì chúng có cùng một cách phân phối, một cách tổ chức nhƣ nhau hoặc đƣợc xếp chung theo một mức giá bán nào đó. Phân loại các loại hình du lịch Có rất nhiều cách phân loại các loại hình du lịch. Các loại hình du lịch có thể phân loại theo: - Phân loại theo mục đích chuyến đi: Du lịch tham quan Du lịch nghỉ ngơi, giải trí Du lịch khám phá Du lịch thể thao; du lịch văn hóa Du lịch tôn giáo Du lịch hội nghị Du lịch mạo hiểm Nguyễn Thị Diệu Hƣơng6 Du lịch thăm nhân thân Du lịch kinh doanh - Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: Du lịch miền biển Du lịch miền núi Du lịch đồng bằng - Phân loại theo lãnh thổ hoạt động Du lịch quốc tế Du lịch nội địa Phan loại theo phƣơng tiện giao thông Du lịch bằng xe đạp Du lịch bằng ô tô Du lịch bằng tàu hỏa Du lịch bằng tàu thủy Du lịch bằng máy bay - Các cách phân loại khác Phân loại theo phƣơng tiện lƣu trú: gồm du lịch ở khách sạn, motel, nhà nghỉ, bãi cắm trại, làng du lịch… Phân loại theo lứa tuổi: du lịch thiếu niên, thanh niên, trung niên, cao niên.
Phân loại theo phƣơng thức hơp đồng: gồm du lịch trọn gói, du lịch từng phần. Các điều kiện để phát triển du lịch Ngành du lịch chỉ ra đời khi có đủ những tiền để làm nảy sinh các hoạt động du lịch và kinh doanh du lịch. Do đó, ngành du lịch sẽ phát triển nhanh khi các tiền đề ra đời của ngành đƣợc củng cố và tăng cƣờng. Song xem xét trên phạm vi một quốc gia cụ thể cần hội tụ thêm các điều kiện có bản sau: Nguyễn Thị Diệu Hƣơng7 Tài nguyên du lịch Điều kiện Nhu cầu và phát triển Cơ sở hạ cầu về du ngành du tầng phục lịch lịch vụ du lịch An ninh chính trị và an toàn xã hội Thứ nhất, để phát triển du lịch, các vùng, các quốc gia phải có tài nguyên du lịch.
Du lịch là một trong những ngành có định hƣớng tài nguyên rõ rệt. Tài nguyên du lịch ảnh hƣởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hóa của vùng du lịch. Quy mô hoạt động du lịch của một vùng, một quốc gia đƣợc xác định trên cơ sở khối lƣợng nguồn tài nguyên du lịch. Nguồn tài nguyên du lịch còn quyết định đến tính chất mùa trong kinh doanh du lịch, nhịp điệu dòng khách du lịch.
Do vậy, tài nguyên du lịch có thể đánh giá là một trong những yếu tố rất quan trọng để tạo vùng du lịch và quyết định đến khả năng phát triển du lịch của một quốc gia. Thứ hai, điều kiện khác cũng ảnh hƣởng quan trọng đến phát triển ngnafh du lịch là các điều kiện về cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh phát triển du lịch. Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch bao gồm hệ thống đƣờng xá và các phƣơng tiện giao thông cùng các công trình cung cấp điện, nƣớc, thông tin liên lạc trong đó mạng lƣới đƣờng xá và phƣơng tiện giao thông đóng vai trò quan trọng hàng đầu.
Điều kiện cơ sở hạ tầng phụ thuộc vào sự phát triển của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự phát triển của nền kinh tế, điều đó lý giải tại sao ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển thì ngành du lịch có sự phát triển mạnh hơn. Thứ ba, nhu cầu và cầu về du lịch phát triển. Trong phát triển kinh doanh du lịch sẽ không thể bỏ qua vai trò của yếu tố “nhu cầu”, nhu cầu tăng lên là mộ động lực chủ yếu cho các chiến lƣợc đầu tƣ phát triển du lịch. Nhu cầu và nhu cầu du lịch của một quốc gia phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố nhƣ: thu nhập, trình độ nhận thức, thời gian rỗi.
Trong Nguyễn Thị Diệu Hƣơng8 bối cảnh du lịch đang trở thành một xu thế có tính đại chúng và cả thế giới đang xích lại gần nhƣ xóa bỏ dần những ranh giới khác biệt về chính trị thì nhu cầu và cầu về du lịch sẽ tăng lên không ngừng. Thứ tƣ, các điều kiện về an ninh chính trị, chật tự an toàn xã hội cho khách du lịch. Du lịch chỉ xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình, trật tự an toàn xã hội đƣợc đảm bảo. Ngƣợc lại, tại các quốc gia có chiến tranh hoặc có nhiều hạn chế về trật tự, an toàn xã hội sẽ ảnh hƣởng lớn đến khả năng thu hút du khách.
Vậy có thể nói, điều kiện về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là điều kiện đặc biệt quan trọng có tác dụng hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch trong nƣớc và quốc tế. Chức năng của du lịch 1. Chức năng chính trị Chức năng chính trị của du lịch thể hiện ở vai trỏ của nó nhƣ một nhân tố củng cố hòa bình, thúc đẩy giảo lƣu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc. Du lịch quốc tế làm cho con ngƣời sống ở những khu vực khác nhau trên thế giới hiểu biết và xích lại gần nhau, tạo tình hữu nghị giữa các dân tộc.
Chức năng sinh thái Chức năng sinh thái của du lịch đƣợc thể hiện trong công việc tạo nên môi trƣờng sống ổn định về mặt sinh thái. Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ, khôi phục môi trƣờng thiên nhiên xung quanh. Việc tham quan các danh lam thăng cảnh và môi trƣờng thiên nhiên có ý nghĩa lớn đối với du khách. Nó tạo điều kiện cho du khách hiểu biết về tự nhiên và hình thành thói quen bảo vệ môi trƣờng.
Du lịch và môi trƣờng có quan hệ mật thiết với nhau, du lịch góp phần bảo vệ môi trƣờng sinh thái, tạo điều kiện để phát triển du lịch. Chức năng kinh tế Với chế độ nghỉ ngơi hợp lý, du lịch góp phần vào việc hồi phục sức khỏe, tài sản xuất sắc, sức lao động từ đó có thể tăng năng suất lao động. Ngành du lịch mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất dƣớc, tạo ra thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch… Nguyễn Thị Diệu Hƣơng9 1. Chức năng xã hội Chức năng xã hội thể hiện ở vai trò của du lịch trong việc giữ gìn, phục hồi sức khỏe cho nhân dân.
Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con ngƣời. Các công trình nghiên cứu về sinh học khẳng định, nhờ chế độ nghỉ ngơi và du lịch hợp lý, bệnh tật của dân cƣ trung bình giảm 30%, bệnh đƣờng hô hấp giảm 40%, bệnh thần kinh giảm 30%. Định nghĩa Trong cuốn “Quản lý du lịch tại các khu di sản thế giới”, tác giả Arthur Pedersen cho rằng, Du lịch văn hóa thƣờng đƣợc dùng để mô tả một số mảng nhất định của thị trƣờng du lịch. Nó có thể gắn với các chuyến tham quan thắng tích lịch sử, nghệ thuật và khoa học, hoặc di sản văn hóa.
Tổ chức du lịch thế giới (WTO) có hai định nghĩa dành cho du lịch văn hóa. Hiểu theo nghĩa hẹp, du lịch văn hóa bao gồm “hoạt động của những ngƣời với động cơ chủ yếu là văn hóa nhƣ các tour nghiên cứu, nghệ thuật biểu diễn, các tour văn hóa, du lịch tới các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác, thăm các di tích và di chỉ, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hƣơng”.