CHƯƠNG 1 TÓNG QUAN VÈ KẾ TOÁN NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA KẾ TOÁN NGÂN HÀNG 1. Khái niệm Ke toán là công cụ phục vụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý và xuất hiện cùng với sự hình thành đời sống kinh tể xã hội loài người. Cùng với sự phát triến của xã hội loài người và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, kế toán - một môn khoa học cũng đã có sự thay đổi, phát triển không ngừng về nội dung, phương pháp,.
Theo Luật Ke toán Việt Namthì: “Ké toán là việc thu thập, xử lí, kiểm tra, phân tích và cung cấp các thông tin kinh tế, tài chỉnh dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”. Dựa vào các tiêu thức khác nhau, kế toán có thể được phân loại thành các loại khác nhau.Theo Điều 10, Luật Kế toán có qui định về Kế toán tài chính và kế toán quản trị, kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết. Với NHTM - là loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kế toán ngân hàng có vai trò và vị trí quan trọng trong toàn bộ quá trình kinh doanh của ngân hàng và là công cụ quản lý hữu hiệu nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản của NH và của toàn xã hội. Ke toán ngân hàng là công cụ nhằm thu thập, xử lý và phân tích các nghiệp vụ kinh tế, tài chính dưới hình thức chủ yếu là giá trị, nhằm phản ánh kiếm tra toàn bộ hoạt động kinh doanh ngân hàng, đồng thời cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý hoạt động tiền tệ - ngân hàng ở tầm vĩ mô và tầm vi mô.
Ke toán tài chính frong ngân hàng là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp các thông tin kinh tế, tài chính thông qua các báo cáo tài chính cho các dối tượng sử dụng thông tin của ngân hàng. Ke toán quản trị ngân hàng là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ ngân hàng. Vai trò của kế toán ngân hàng Ke toán với tư cách là công cụ quản lý kinhtế tài chính quan trọng, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Với hai chức năng thông tin và kiểm soát, kế toán có vai trò to lớn trên góc độ quản lý vi mô và quản lý vĩ mô trong nền kinh tế thị trường.
Là bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của nền kinh tế quốc dân, kế toán ngân hàng cũng phát huy đầy đủ vai trò kế toán nói chung; đồng thời phát huy vai trò trong việc phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động ngân hàng: Thứ nhất, cung cấp thông tin về hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, kết quả tài chính phục vụ chỉ đạo điều hành quản trị các mặt hoạt động nghiệp vụ đạt hiệu quả cao và các bên quan tâm đến hoạt động ngân hàng. Thứ hai, bảo vệ an toàn tài sản tại đơn vị. Do tổ chức ghi chép một cách khoa học, đầy đủ, chính xác toàn bộ tài sản hiện có cũng như sự vận động của chúng nên kế toán đã giúp cho các chủ ngân hàng quản lý chặt chẽ tài sản của mình nhằm tránh thiếu hụt về mặt số lượng và nâng cao hiệu quả trong quá trình sử dụng tài sản. Thứ ba, quản lý hoạt động tài chính ngân hàng.
Ke phản ảnh được đầy đủ, chính xác các khoản thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh ở từng đơn vị cũng như toàn hệ thống ngân hàng, từ đó giúp cho việc quản lý chặt chẽ hoạt động tài chính, tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, kinh doanh có lãi, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển cho mồi ngân hàng. Thứ tư, đáp ứng yêu cầu công tác thanh tra, kiểm soát trong ngành ngân hàng. Với chức năng tổ chức hạch toán ban đầu và tạo nguồn thông tin nên kế toán ngân hàng là nơi cung cấp thông tin đầy đủ nhất, chính xác nhất ở từng đơn vị, từng cấp ngân hàng cũng như toàn ngành ngân hàng. Nguồn thông tin, so liệu của kế toán ngân hàng là cơ sở quan trọng để xây dựng và điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô, trước hết là chính sách tiền tệ.
Trên cơ sở đó, NHNN và các cơ quan quản lý Nhà nước có thể kiểm soát và điều chỉnh hoạt động của từng 2 ngân hàng và toàn hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định, an toàn cho hệ thống và góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân. ĐỐI TƯỢNG, ĐẶC ĐIÉM, NHIỆM vụ CỦA KẾ TOÁN NGÂN HÀNG 1. Đối tượng của kế toán ngân hàng Là công cụ quản lýkinh tế - tài chính, đối tượng phản ánh trước hết của kế toán ngân hàng là vốn và sự vận động của vốn trong hoạt động kinh doanh của NH. Vốn của NH tồn tại dưới hai hình thức là nguồn vốn và sử dụng vốn.
Nguồn vốn của NHTM là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà NH tạo lập, huy động được mà NH có thể dựa vào để thực hiện các hoạt động kinh doanh và cung ứng các dịch vụ cho nền kinh tế. Nguồn vốn của NH gồm: vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả. Von chủ sở hữu là so vốn thuộc quyền sở hữu của NH gồm: • Vốn điều lệ: là số vốn ghi trong điều lệ hoạt động của NH. Với NHTM Nhà nước, vốn điều lệ do ngân sách Nhà nước cấp khi thành lập và được bổ sung thêm trong quá trình hoạt động; Với NHTM cổ phần, vốn này do các cổ đông đóng góp; NH liên doanh do các bên tham gia liên doanh đóng góp; NH 100% vốn nước ngoài, vốn điều lệ do NH mẹ ở nước ngoài cấp.
• Thặng dư vốn cổ phần: là chênh lệch giữa giá thực tế phát hành và mệnh giá cổ phiếu (nếu có) • Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính. • Các khoán chênh lệch tỷ giá hối đoái, chênh lệch do đánh giá lại tài sản và vốn khác thuộc sở hữu của ngân hàng. Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của NH phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà NH phải thanh toán từ nguồn lực của mình, gồm: vốn huy động tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vốn đi vay, các khoản phải trả phải nộp khác,. Sử dụng vốn của NH trên bảng cân đối kế toán thể hiện là tài sản của NH.
Tài sản của NH gồm: tiền mặt, tiền gửi, chứng khoán kinh doanh, cho vay khách hàng; chứng khoán đầu tư; góp vốn đầu tư liên doanh liên kết; tài sản cố định, công cụ dụng cụ, vật liệu và các khoản phải thu khác. Sự vận động của vốn trong ngân hàng diễn ra trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ tiền tệ, tín dụng, thanh toán sẽ làm tăng lên hay giảm xuống của vốn của ngân hàng ấy. Ngoài phản ánh vốn và sự vận động của vốn trong hoạt động kinh doanh NH, kế toán NH còn phản ánh kết quả của quá trinh vận động của vốn trong một thời kỳ nhất định. Đó chính là các khoản thu nhập, chi phí và kết quả kinh doanh của NHTM.
Đặc điểm của kế toán ngân hàng NHTM cũng là một loại hình doanh nghiệp, vì vậy kế toán ngân hàng cũng tuân thủ những nguyên lý, nguyên tắc kế toán nói chung. Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động của ngân hàng - một trung gian tài chính trong nền kinh tế, kế toán ngân hàng có những đặc điểm riêng, đó là: • Ke toán ngân hàng sử dụng tiền tệ làm đơn vị đo lường chủ yếu • Ke toán ngân hàng có tính giao dịch và xử lý nghiệp vụ ngân hàng: kế toán ngân hàng tiến hành đồng thời giữa kiểm soát, xử lý nghiệp vụ và ghi sổ sách kế toán khi có nghiệp vụ phát sinh. • Ke toán ngân hàng có tính chính xác và kịp thời rất cao xuất phát từ yêu cầu quản lí của bản thân ngân hàng và yêu cầu quản lý của nền kinh tế. Hàng ngày, kế toán ngân hàng phải lập bảng cân đối tài khoản ngày (còn gọi là bảng cân đối kiểm tra) • Đối tượng của kế toán NH có moi quan hệ chặt chẽ với đối tượng kế toán của các đơn vị khác trong nền kinh tế quốc dân thông qua các quan hệ tiền gửi, tiền vay, quan hệ trung gian thanh toán.
• Ke toán ngân hàng có tính tập trung và thống nhất cao giữa Hội sở 4 chính và chi nhánh nhằm phục vụ cho yêu cầu hạch toán toàn ngành. Nhiệm vụ của ke toán ngân hàng Là công cụ quản lí kinh tế - tài chính quan trọng, kế toán ngân hàng có các nhiệm vụ sau: • Thu thập, xử lý, ghi chép, hạch toán kịp thời, đầy đủ và chính xác các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh tại ngân hàng theo đúng chế độ, chuẩn mực kế toán. • Kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng tài sản của bản thân ngân hàng và của toàn xã hội thông qua các khâu kiểm soát của kế toán, góp phần tăng kỷ luật tài chính, củng cố chế độ hạch toán kinh tế trong ngân hàng và toàn bộ nền kinh tế. • Lập các báo cáo, cung cấp thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, quản lý của các cấp quản lý tại ngân hàng và phục vụ việc hoạch địch và thực thi chính sách tiền tệ quốc gia.
• Tố chức giao dịch phục vụ khách hàng. TÔ CHỨC Bộ MÁY KẾ TOÁN TRONG NGÂN HÀNG Tổng giám đốc/ Giám đốc của đơn vị ngân hàng phải chịu trách nhiệm tổ chức bộ máy kế toán và chỉ đạo thực hiện công tác kế toán trong đơn vị theo quy định của Luật kế toán. Hai vấn đề chủ yếu trong tổ chức bộ máy kế toán tại đơn vị kế toán là: • Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán; • Bố trí người làm kế toán; Bố trí người làm kế toán trưởng đảm bảo tiêu chuẩn, quyền và trách nhiệm theo đúng quy định của Luật kế toán. Các mô hình tổ chức bộ máy kế toán của pháp nhân ngân hàng Trong ngành ngân hàng, ở mồi pháp nhân ngân hàng có thể tồn tại 3 mô hình tổ chức bộ máy kế toán: • Tổ chức bộ máy kế toán tập trung.
• Tổ chức bộ máy kế toán phân tán. • Tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung, vừa phân tán.