Chương 1 giới thiệu khái quát về quá trình hình thành, mục tiêu, đặc biệt là tính toàn diện và tiến bộ vượt trội của Hiệp định CPTPP. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đề cập đến các quốc gia thành viên trong CPTPP với ý nghĩa là đối tác hợp tác thương mại và đầu tư với Việt Nam, những triển vọng về hợp tác các lĩnh vực kinh tế này với Việt Nam sau khi CPTPP có hiệu lực. HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ KHẢ NĂNG CHUYỂN DỊCH VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM 1. TIẾN TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ TÍNH TOÀN DIỆN, TIẾN BỘ CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP 1.
Bối cảnh và tiến trình hình thành Hiệp định CPTPP Bước vào thập niên 90 của thế kỷ 20, thế giới chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ việc đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại song phương và khu vực. Điển hình là hai Hiệp định khu vực lớn và có ảnh hưởng đến quan hệ thương mại thế giới: Liên minh châu Âu (EU) vào năm 1993 và Hiệp định Thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) năm 1994. Ngoài ra, còn có một số thỏa thuận thương mại khu vực khác như: Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR) năm 1991, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1992, Thỏa thuận Thương mại ưu đãi Nam Á (SAPTA) năm 1995,. Các thỏa thuận thương mại này được xem như sáng kiến để cắt giảm thuế, gia tăng cơ hội tiếp cận thị trường của các nước thành viên.
Qua thời gian, những vấn đề cắt giảm hoặc dỡ bỏ hàng rào phi thuế cũng được đưa vào các thỏa thuận này. Tuy nhiên, bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu những năm 2007 - 2008 đã đặt ra thách thức lớn cho các quốc gia trong việc lựa chọn cách thức hợp tác, phát triển, vực dậy nền kinh tế sau khủng hoảng. Vì vậy, trong hợp tác thương mại, mạng lưới các FTA song phương và đa phương vốn được tạo dựng trong hơn 30 năm qua cũng cần có sự thay đổi. Những ý tưởng đàm phán các thỏa thuận thương mại tham vọng, sâu sắc và toàn diện hơn cũng được đề xuất 16 HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ KHẢ NĂNG CHUYỂN DỊCH VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM - theo đó các FTA thế hệ mới đã ra đời.
Các FTA thế hệ mới cập nhật và mở rộng các quy tắc thương mại quốc tế đáp ứng sự phát triển kinh tế và thương mại của bối cảnh thời đại. Nội dung của các FTA này đã vượt ra khỏi những vấn đề thương mại truyền thống, mở rộng sang cả những lĩnh vực mà nhu cầu về các quy tắc thương mại mới trở nên cấp thiết như thương mại điện tử, chế phẩm sinh học và dược phẩm,. hay các vấn đề phi thương mại khác như doanh nghiệp nhà nước, công đoàn, môi trường, cạnh tranh. Điều quan trọng là các FTA thế hệ mới này sẽ tạo ra khuôn mẫu cho đàm phán đa phương trong tương lai.
Hiệp định CPTPP, tiền thân là Hiệp định TPP, là một FTA thế hệ mới, được đàm phán nhằm thiết lập khuôn khổ tự do hóa kinh tế và thương mại tham vọng nhất từ trước đến nay. Theo các chuyên gia kinh tế, CPTPP được kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chất lượng cao và là khuôn mẫu cho các Hiệp định thế kỷ 21. Đây chính là con đường để mở ra tương lai tăng trưởng mạnh mẽ cho các nước tham gia. Nói như vậy bởi CPTPP không chỉ là một Hiệp định lớn, mà còn ở tầm vóc và ảnh hưởng của Hiệp định.
Về phạm vi, so với các FTA song phương và thậm chí cả WTO, Hiệp định CPTPP mở rộng hơn cả về thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, còn có các vấn đề phi thương mại như mua sắm chính phủ, môi trường, lao động, công đoàn, hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. 17 HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ KHẢ NĂNG CHUYỂN DỊCH VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM Khởi đầu từ Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans - Pacific Strategic Economic Partnership), qua quá trình đàm phán, các bên đã thống nhất về các điều khoản cho sự ra đời của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (Trans - Pacific Partnership Agreement) vào ngày 4/2/2016. Sau khi Mỹ rút khỏi TPP, 11 bên còn lại tiếp tục những nỗ lực đàm phán và đi đến đồng thuận vào tháng 11 năm 2017, chính thức đổi tên thành Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (Comprehensive and Progressive Agreement for Trans - Pacific Partnership - CPTPP).
Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPSEP hoặc P4) giữa New Zealand, Brunei Darussalam, Chile và Singapore là Hiệp định đa phương đầu tiên giữa châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ Latinh. Bên lề Hội nghị cấp cao các nhà lãnh đạo APEC ở Los Cabos, Mexico năm 2002, Thủ tướng New Zealand, Thủ tướng Singapore và Tổng thống Chile đã khởi động các cuộc đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế gần gũi giữa ba nước Thái Bình Dương (P3 - CEP) khi cùng chia sẻ quan điểm rằng, Hiệp định sẽ tạo nền tảng cho việc mở rộng các mối quan hệ nội khu vực châu Á - Thái Bình Dương. 18 HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ KHẢ NĂNG CHUYỂN DỊCH VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM Vòng đàm phán đầu tiên của P3 diễn ra tại Singapore tháng 9 năm 2003. Cuối năm 2003, Chile kêu gọi tạm dừng trong khi vẫn tiếp tục tư vấn thêm với khu vực tư nhân.
Các cuộc thương lượng được nối lại vào giữa năm 2004 sau chuyến thăm của Tổng thống Chilê Ricardo Lagos đến Singapore. Bốn vòng đàm phán tiếp theo được tổ chức trong khoảng giữa tháng 8 năm 2004 đến tháng 4 năm 2005. Brunei Darussalam, theo dõi các cuộc đàm phán từ vòng hai, đã yêu cầu gia nhập P3 - CEP như một thành viên sáng lập ngay trước vòng đàm phán cuối cùng vào tháng 4 năm 2005. Sau vòng đàm phán này, Hiệp định lấy tên là Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương.
Hiệp định được ký ngày 3/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 28/5/2006. Cả New Zealand, Chile, Singapore và Brunei Darussalam đều là các nền kinh tế mở, tương đối nhỏ, phụ thuộc ngày càng nhiều vào thương mại và đầu tư nước ngoài. Do rào cản thương mại giữa các đối tác trong P4 thấp nên mục tiêu chính của các cuộc đàm phán ngay từ đầu là lợi ích tiềm năng chiến lược. Các nước thành viên đều có mối quan tâm chung là thực hiện tự do hóa và tạo thuận lợi cho cả thương mại hàng hóa và dịch vụ, cải thiện môi trường kinh doanh, thúc đẩy hợp tác trên nhiều lĩnh vực kinh tế.
Vì vậy, nội dung điều chỉnh của Hiệp định là tương đối rộng, bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ (chưa bao gồm dịch vụ tài chính do được đàm phán sau), vệ sinh 19 HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ KHẢ NĂNG CHUYỂN DỊCH VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM dịch tễ (SPS), rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), chính sách cạnh tranh, sở hữu trí tuệ, mua sắm chính phủ và minh bạch hóa. Ngoài ra, còn có một chương về hợp tác và 02 văn kiện đi kèm về hợp tác môi trường và hợp tác lao động. Theo thỏa thuận, các bên tham gia P4 sẽ tiếp tục đàm phán và ký 02 văn kiện quan trọng về đầu tư và dịch vụ tài chính, chậm nhất là sau 02 năm kể từ khi P4 chính thức có hiệu lực (tức là từ tháng 3 năm 2008). Điểm nổi bật nhất của P4 là tự do hóa rất mạnh về hàng hóa.
Thuế nhập khẩu được xóa bỏ hoàn toàn và phần lớn là xóa bỏ ngay từ khi Hiệp định có hiệu lực. Về dịch vụ, P4 thực hiện tự do hóa mạnh theo phương thức chọn - bỏ. Theo đó, tất cả các ngành dịch vụ đều được mở, trừ những ngành nằm trong danh mục loại trừ. Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương Năm 2007, các nước thành viên P4 quyết định mở rộng phạm vi đàm phán của Hiệp định này ra các vấn đề dịch vụ tài chính, đầu tư và trao đổi với Mỹ về khả năng nước này tham gia vào đàm phán mở rộng của P4.
Phía Mỹ cũng bắt đầu tiến hành nghiên cứu vấn đề, tham vấn nội bộ với các nhóm lợi ích và Nghị viện về vấn đề này. Tháng 9 năm 2008, Đại diện Thương mại Mỹ (USTR) thông báo quyết định của Mỹ tham gia đàm phán P4 mở rộng và chính thức tham gia một số cuộc thảo luận về mở cửa thị trường dịch vụ tài chính với các nước P4. Tháng 11 năm 2008, nhân Hội 20 HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG VÀ KHẢ NĂNG CHUYỂN DỊCH VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀO VIỆT NAM nghị cấp cao APEC tại Peru, các nước Australia, Peru và Việt Nam cũng bày tỏ sự quan tâm và tham gia đàm phán, nâng tổng số thành viên tham gia lên 8 nước (trừ Việt Nam đến 13/11/2010 mới tuyên bố tham gia đàm phán với tư cách thành viên đầy đủ, các nước khác quyết định tham gia chính thức ngay từ đầu). Tháng 10 năm 2010, Malaysia chính thức thông báo ý định tham gia đàm phán TPP.
Ngày 13/11/2010, Việt Nam tuyên bố tham gia vào TPP với tư cách thành viên đầy đủ. Tháng 10 năm 2012, Mexico trở thành bên thứ 10 tham gia đàm phán. Tiếp đó, tháng 12 năm 2012 và tháng 7 năm 2013, Canada và Nhật Bản lần lượt trở thành bên thứ 11 và 12 tham gia đàm phán TPP. Ngoài 12 quốc gia đã nêu, còn rất nhiều quốc gia khác trong khu vực cũng mong muốn tham gia TPP trong tương lai gần như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, thậm chí cả một số quốc gia không thuộc APEC như Colombia, Costa Rica.
Tuy nhiên, quá trình đàm phán P4 mở rộng đã bị trì hoãn đến tận cuối 2009 do phải chờ đợi Mỹ hoàn thành kỳ bầu cử Tổng thống và chính quyền mới của Tổng thống Obama tham vấn, xem xét lại việc tham gia đàm phán P4. Tháng 12 năm 2009, USTR mới thông báo quyết định của Tổng thống Obama về việc Mỹ tiếp tục tham gia P4. Cũng từ thời điểm nói trên, quá trình đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại là quá trình đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương.