CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NUỚC NGOÀI 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ VÀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Một số khái niệm * Đầu tư Theo Nhà Kinh tế học PA Samuelson: “Đầu tư là hoạt động tạo ra vốn tư bản thực sự, theo các dạng nhà ở, đầu tư vào tài sản cố định của doanh nghiệp như máy móc, thiết bị nhà xưởng và tăng thêm hàng tồn kho. Đầu tư cũng có thể vô hình như giáo dục, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đầu tư nghiên cứu, phát minh….
Theo Luật Đầu tư năm 2005: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo qui định của luật này và các qui định pháp khác của pháp luật có liên quan” [9]. Như vậy có thể nói đầu tư là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện có để làm tăng thêm các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để cải thiện mức sống của dân cư hoặc để duy trì khả năng hoạt động của các tài sản và nguồn lực sẵn có [10, tr. * Vốn đầu tư Theo Luật Đầu tư năm 2005: “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp” [9] * Các loại nguồn vốn đầu tư gồm có nguồn vốn đầu tư trong nước và nguồn vốn nước ngoài. - Nguồn vốn đầu tư trong nước Luan van 4 Nguồn vốn đầu tư trong nước là nguồn vốn được huy động bởi các thành phần kinh tế và tư nhân trong nước.
Nguồn vốn này có quan hệ với vốn tích luỹ các thành phần kinh tế trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Thông qua tích luỹ và tổng giá trị tài sản đã tích luỹ cho chúng ta nhận thấy được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như toàn xã hội [5, tr. Nguồn vốn đầu tư trong nước còn bao gồm lượng kiều hối của Việt kiều đang sinh sống tại nước ngoài giúp cho thân nhân trong nước đầu tư phát triển sản xuất và nguồn thu nhập từ lao động xuất khẩu của Việt Nam [5, tr. - Nguồn vốn nước ngoài Đây là nguồn vốn rất quan trọng đối với công cuộc công nghiệp hoá.
Nguồn vốn đầu tư nước ngoài có 2 dạng chính: + Nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp: Đây là nguồn vốn nước ngoài do các doanh nghiệp hoặc tư nhân đầu tư trực tiếp theo luật đầu tư nước ngoài tại các quốc gia. Theo Luật Đầu tư năm 2005: “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư” [9]. “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” [9]. “Nhà đầu tư nước ngoài là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” [9].
Từ những khái niệm trên luận văn đi đến thống nhất với khái niệm như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác vào quốc gia đó để tiến hành hoạt động đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư; có quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu đối đa hoá lợi ích của mình. + Nguồn vốn viện trợ chính thức (ODA): Đây là hình thức đầu tư thông qua các hiệp định song phương giữa 2 chính phủ hoặc cho vay vốn với những điều Luan van 5 kiện ưu đãi đặc biệt về thời hạn vay, lãi suất vay… Nguồn vốn ODA nhằm giúp các quốc gia chậm hoặc đang phát triển đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng và phúc lợi xã hội. Nguồn vốn ODA còn thực hiện bằng các hiệp định viện trợ đa phương của các tổ chức quốc tế và các tổ chức phi Chính phủ như: IMF, WB…[5, tr. * Thu hút đầu tư nước ngoài nghĩa là làm gia tăng sự chú ý và quan tâm của nhà đầu tư quốc tế nhằm tiến đến các dự án đầu tư đem lại lợi ích từ đầu tư.
* Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là thu hút vốn đầu tư từ những nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hay nói các khác là tổng hợp nhiều hoạt động marketing nhằm đẩy mạnh thu hút vốn FDI. Các hoạt động đó là: tổ chức các hội thảo, phái đoàn vận động đầu tư, tham gia các triển lãm, diễn đàn về thương mại - đầu tư, phân phát các tài liệu tuyên truyền kêu gọi đầu tư, tổ chức các buổi tiếp xúc giữa các nhà đầu tư tiềm năng với các đối tác địa phương, trợ giúp nhà đầu tư khảo sát, hình thành dự án, phê duyệt và cấp giấy phép đầu tư, các hỗ trợ sau khi dự án đi vào hoạt động. Khái quát lại thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là tổng thể các biện pháp, hoạt động thích hợp nhằm thu hút các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư tại một quốc gia hay địa điểm nào đó. Đặc điểm và các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài a.
Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI là một dạng quan hệ kinh tế, có nhân tố nước ngoài (chủ đầu tư, vốn đầu tư và địa điểm đầu tư từ các quốc gia khác nhau). Nhân tố nước ngoài ở đây không chỉ thể hiện sự khác biệt về quốc tịch hoặc về lãnh thổ cư trú thường xuyên của các bên tham gia vào quan hệ FDI mà còn thể hiện ở những đặc trưng chủ yếu sau đây: - FDI gắn liền với việc di chuyển tiền và tài sản giữa các quốc gia trên thế giới. - FDI đảm bảo cho nhà đầu tư nước ngoài quyền trực tiếp tham gia kiểm soát, điều hành quá trình đầu tư và kinh doanh của doanh nghiệp theo đó chủ đầu tư bị khống chế mức góp vốn tối thiểu theo quy định của từng nước. Luan van 6 - Quyền quản lý doanh nghiệp FDI phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư.
- FDI được thực hiện thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới, mua lại từng phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động hoặc tiến hành hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp. Điều này cho thấy đa dạng của các hình thức và phương thức đầu tư FDI. - FDI chủ yếu là hoạt động đầu tư của tư nhân với mục tiêu cơ bản là lợi nhuận. - FDI gắn liền với các hoạt động kinh doanh của các công ty xuyên quốc gia thực hiện (TNCs).
Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Luật đầu tư năm 2005 đã qui định 5 hình thức FDI cơ bản như sau: - Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài[9] Nhà đầu tư nước ngoài được đầu tư theo hình thức 100% vốn để thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và với nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới. Nhà đầu tư nước ngoài tự tổ chức hoặc thuê quản lý, điều hành mọi hoạt động đầu tư và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. - Thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài[9] Nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để nhà đầu tư thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan.
Liên doanh được hiểu là một hình thức đầu tư mà các bên tham gia tổ chức các hoạt động kinh doanh chung thông qua việc góp vốn thành lập một pháp nhân mới. Các bên liên doanh cử người tham gia vào quản lý doanh nghiệp trên cơ sở tỉ lệ góp vốn vào liên doanh. Luan van 7 - Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC, hợp đồng BOT, hợp đồng BTO, hợp đồng BT [9] + Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. + Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
+ Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận. + Hợp đồng xây dựng - chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư theo thoả thuận trong hợp đồng BT. - Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp [9] Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, sáp nhập, mua lại doanh nghiệp để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp nhập sáp nhập, mua lại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập, mua lại, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.