phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài. Chƣơng 2: Thực trạng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào địa bàn tỉnh Quảng Nam. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng thu hút đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài vào địa bàn tỉnh Quảng Nam. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Lĩnh vực FDI đã và đang đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu làm rõ, thể hiện trong các đề tài luận văn, luận án, các hội thảo khoa học.
Hiện có một số công trình nghiên cứu đề cập tới những góc độ và mục đích khác nhau. Đó là: - Luận án Tiến sĩ của tác giả Đặng Thành Cƣơng (2012), tăng cƣờng thu hút vốn FDI vào tỉnh Nghệ An, tác giả đã mô tả bức tranh toàn cảnh về thu hút FDI ở tỉnh Nghệ An từ năm 1988 đến 2010. Tăng cƣờng thu hút vốn FDI trên cả hai góc độ là tăng cƣờng về mặt quy mô và hiệu quả sử dụng vốn, lấy kinh nghiệm của một số nƣớc châu Á và các tỉnh, thành trong nƣớc để thu hút vốn FDI; đánh giá thực trạng và xây dựng, kiểm định mô hình phản ánh hiệu quả vốn FDI và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cƣờng thu hút vốn FDI vào tỉnh Nghệ An. Luan van 4 - Luận án Tiến sĩ của tác giả Vƣơng Đức Tuấn (2007), hoàn thiện cơ chế chính sách để thu hút FDI ở Hà Nội giai đoạn 2001 – 2010, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về cơ chế, chính sách thu hút FDI.
Phân tích, đánh giá thực trạng quá trình hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút FDI, chỉ ra những nhân tố cơ bản tác động đến kết quả thu hút FDI trong thời gian qua. Đánh giá những thành tựu đạt đƣợc, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của nó để có định hƣớng cho việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút FDI trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, đề xuất phƣơng hƣớng và các giải pháp cho việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tăng cƣờng thu hút FDI vào Hà Nội. - Giáo trình quản lý Nhà nƣớc đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài của TS.
Trần Văn Nam (2005) trình bày những vấn đề tổng quan về doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, những vấn đề lý luận và thực trạng sử dụng công cụ quản lý Nhà nƣớc bằng pháp luật đối với các doanh nghiệp có vốn ĐTNN, lấy kinh nghiệm của nƣớc ngoài về vấn đề dùng pháp luật để thu hút và điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Sau đó, đề ra phƣơng hƣớng, biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nƣớc ở góc độ quản lý đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. - Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Diễm Phƣơng (2011), thu hút FDI vào KKT Dung Quất tỉnh Quảng Ngãi, tác giả đã phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến thu hút FDI vào KKT. Đánh giá, phân tích thực trạng thu hút FDI vào KKT Dung Quất trong thời gian từ năm 2005 đến năm 2010.
Trên cơ sở đó, đánh giá các mặt thành công, hạn chế và phân tích các nguyên nhân ảnh hƣởng đến hoạt động thu hút FDI vào KKT. Từ đó, đề xuất các giải pháp trên phƣơng diện môi trƣờng vĩ mô và năng lực nội tại nhằm thu hút FDI vào KKT Dung Quất. Luan van 5 Từ những nghiên cứu trên là cơ sở để vận dụng vào việc thu hút FDI vào địa bàn tỉnh Quảng Nam. Có thể nói, hiện chƣa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực thu hút vốn FDI trên địa bàn.
Một số nội dung nhƣ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ và Nghị quyết Hội đồng nhân dân tỉnh chỉ mới đề cập tới ở cấp độ định hƣớng chung cho sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, trong đó có hoạt động thu hút vốn FDI. Mặt khác, các kế hoạch do Sở Kế hoạch & Đầu tƣ tham mƣu UBND tỉnh xây dựng chỉ giới hạn ở việc đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu mà chƣa chú trọng phân tích thực trạng và đề ra giải pháp để nâng cao hiệu quả thu hút vốn FDI trên địa bàn. Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1.
Một số khái niệm liên quan * Đầu tư: là một trong những nhân tố chủ yếu quyết định đến sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đầu tƣ là việc sử dụng các nguồn lực hiện tại nhằm biến các lợi ích dự kiến thành hiện thực trong tƣơng lai. Theo luật đầu tƣ năm 2005 của Việt Nam thì “đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan” [9]. Theo khái niệm này, đã là đầu tƣ thì phải bỏ vốn, vốn chính là các tài sản hữu hình và vô hình để tiến hành các hoạt động đầu tƣ đƣợc pháp luật cho phép, nhƣ vậy tất cả các nhà đầu tƣ đều đƣợc tham gia đầu tƣ vào các lĩnh vực trong nền kinh tế mà không vi phạm các quy định của pháp luật.
* Vốn đầu tư: là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một thời kỳ nhất định. Vốn đầu tƣ thƣờng thực hiện qua các dự án đầu tƣ và một số chƣơng trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố định và tài sản lƣu động. Theo Luật Đầu tƣ năm 2005 của Việt Nam thì “Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt động đầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp” [9]. * Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: là vốn để thực hiện dự án đầu tƣ, bao gồm vốn pháp định và vốn vay.
Luan van 7 * Đầu tư trực tiếp nước ngoài: là việc nhà ĐTNN đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc tài sản bất kỳ nào để tiến hành các hoạt động đầu tƣ theo quy định của Luật ĐTNN tại Việt Nam. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về FDI Theo Diễn đàn Thƣơng mại và Phát triển của Liên hiệp quốc (UNCTAD) thì “FDI là một khoản đầu tư bao gồm các mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà ĐTNN hay công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà ĐTNN (doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài). Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) thì “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn đầu tư thực hiện để thu được lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích là dành được tiếng nói có hiệu quả trong quản lý doanh nghiệp đó”.
Khái niệm này đã nhấn mạnh đến tính lâu dài của quá trình đầu tƣ, chủ đầu tƣ là nƣớc ngoài và việc đầu tƣ ở đây gắn liền với quyền kiểm soát quản lý. Theo Luật Đầu tƣ năm 2005 của Việt Nam thì “FDI là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư còn nhà ĐTNN là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam” [9]. Nhƣ vậy, từ các quan điểm đã nêu ở trên, có thể hiểu FDI là hình thức nhà ĐTNN dịch chuyển tiền, công nghệ,… từ nƣớc này sang nƣớc khác, đồng thời nắm quyền quản lý điều hành với mục đích thu đƣợc lợi ích kinh tế từ nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Đặc điểm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Thứ nhất: Chủ đầu tƣ vốn FDI là chủ sở hữu vốn, là một bộ phận của hình thức chu chuyển vốn quốc tế trong đó chủ đầu tƣ có quốc tịch nƣớc ngoài, tiến hành đầu tƣ tại một nƣớc khác vì vậy nhà ĐTNN phải chấp hành luật pháp của nƣớc tiếp nhận đầu tƣ.
Chủ sở hữu vốn đầu tƣ trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng vốn, có nghĩa vụ và quyền lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh tƣơng ứng với phần vốn góp đó, trong trƣờng hợp nhà ĐTNN đầu tƣ dƣới hình thức 100% vốn nƣớc ngoài thì có toàn quyền quyết định. Thu nhập từ hoạt động đầu tƣ này phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh, mức độ lãi đƣợc chia theo tỷ lệ góp vốn của các bên, nếu bị lỗ thì trách nhiệm của các bên cũng tƣơng ứng với phần vốn góp đó. Thứ hai: Vốn FDI không chỉ bao gồm vốn đầu tƣ ban đầu của chủ ĐTNN dƣới hình thức vốn điều lệ hoặc vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của các nhà đầu tƣ để triển khai và mở rộng dự án. Vì vậy, nƣớc sở tại phải có chính sách về tài chính phù hợp tránh trƣờng hợp một số nhà ĐTNN lợi dụng chỉ đƣa một lƣợng vốn nhỏ vào còn sau đó tiến hành vay vốn tại nƣớc sở tại để thực hiện đầu tƣ, mở rộng kinh doanh làm ảnh hƣởng đến mục đích thu hút ĐTNN của nƣớc sở tại.
Thứ ba: Vốn FDI là vốn đầu tƣ phát triển dài hạn, trực tiếp từ bên nƣớc ngoài vì vậy đối với nƣớc tiếp nhận đầu tƣ thì đây chính là nguồn vốn dài hạn Luan van 9 bổ sung hết sức cần thiết trong nền kinh tế. Vốn FDI là dòng vốn quốc tế gắn liền với việc xây dựng các công trình, nhà máy, chi nhánh sản xuất vì thế thời gian đầu tƣ dài, lƣợng vốn đầu tƣ lớn, có tính ổn định cao tại nƣớc nhận đầu tƣ. Khác với đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài là hình thức đầu tƣ mà nhà ĐTNN bỏ vốn đầu tƣ đến các nƣớc khác nhƣng không nắm quyền quản lý, điều hành thông qua các công cụ tài chính nhƣ cổ phiếu, trái phiếu. Do tính chất trực tiếp của hình thức đầu tƣ này nên vốn FDI ít chịu sự chi phối, ràng buộc của Chính phủ so với hình thức đầu tƣ gián tiếp nƣớc ngoài khác, lĩnh vực mà vốn FDI thƣờng hƣớng tới là những lĩnh vực mang lại lợi nhuận cao cho nhà ĐTNN.
Thứ tư: Vốn FDI là hình thức đầu tƣ trực tiếp của các nhà ĐTNN, họ mang vốn đến nƣớc khác để đầu tƣ.