Kết quả điều trị phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng do chấn thương tại Bệnh viện C Thái Nguyên

Tài liệu nghiên cứu Luận văn kết quả điều trị phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng do chấn thương bằng nẹp vít đường sau, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn chuyên khoa cấp II

2015

115
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Sơ lược lịch sử về các phương pháp phẫu thuật cột sống

1.2. Giải phẫu học cột sống ngực thắt lưng

1.3. Cơ chế chấn thương

1.4. Phân loại chấn thương cột sống

1.5. Đặc điểm lâm sàng

1.6. Cận lâm sàng

1.7. Các phương pháp điều trị chấn thương cột sống vùng ngực thắt lưng

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả điều trị

3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng tới kết quả phẫu thuật

3.3. Đánh giá kết quả điều trị

3.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị

NHỮNG NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN VĂN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về kết quả phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng tại Bệnh viện C Thái Nguyên

Phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng là một trong những lĩnh vực quan trọng trong ngoại khoa. Tại Bệnh viện C Thái Nguyên, phương pháp phẫu thuật này đã được áp dụng từ nhiều năm qua với nhiều cải tiến kỹ thuật. Kết quả điều trị phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng không chỉ giúp bệnh nhân phục hồi chức năng mà còn giảm thiểu các biến chứng sau phẫu thuật. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về kết quả phẫu thuật tại bệnh viện.

1.1. Lịch sử và phát triển phẫu thuật cột sống tại Bệnh viện C Thái Nguyên

Bệnh viện C Thái Nguyên đã áp dụng nhiều phương pháp phẫu thuật cột sống khác nhau từ những năm 2000. Các kỹ thuật như nẹp vít đường sau đã được triển khai và mang lại kết quả khả quan cho bệnh nhân. Sự phát triển này không chỉ dựa vào công nghệ mà còn nhờ vào sự hợp tác với các bệnh viện đầu ngành.

1.2. Đặc điểm bệnh nhân gãy cột sống ngực lưng tại Bệnh viện C

Đối tượng bệnh nhân gãy cột sống ngực lưng tại Bệnh viện C Thái Nguyên chủ yếu là người trẻ tuổi, thường gặp trong các tai nạn giao thông hoặc lao động. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân rất đa dạng, từ mức độ tổn thương đến khả năng phục hồi chức năng sau phẫu thuật.

II. Những thách thức trong điều trị gãy cột sống ngực lưng

Điều trị gãy cột sống ngực lưng gặp nhiều thách thức, từ việc chẩn đoán chính xác đến lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp. Các yếu tố như thời gian từ khi chấn thương đến khi phẫu thuật, tình trạng sức khỏe tổng quát của bệnh nhân đều ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Việc nhận diện sớm và điều trị kịp thời là rất quan trọng.

2.1. Thời gian can thiệp phẫu thuật và ảnh hưởng đến kết quả

Thời gian từ khi xảy ra chấn thương đến khi phẫu thuật là yếu tố quyết định đến khả năng phục hồi của bệnh nhân. Nghiên cứu cho thấy, phẫu thuật sớm giúp giảm thiểu biến chứng và tăng khả năng phục hồi chức năng.

2.2. Các biến chứng thường gặp sau phẫu thuật

Sau phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng, bệnh nhân có thể gặp phải nhiều biến chứng như nhiễm trùng, chèn ép tủy sống, hoặc rối loạn chức năng thần kinh. Việc theo dõi và điều trị kịp thời các biến chứng này là rất cần thiết để đảm bảo kết quả điều trị tốt nhất.

III. Phương pháp phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng hiệu quả

Tại Bệnh viện C Thái Nguyên, phương pháp phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng chủ yếu sử dụng nẹp vít đường sau. Phương pháp này đã chứng minh được hiệu quả trong việc cố định cột sống và giải phóng chèn ép tủy sống. Các kỹ thuật phẫu thuật hiện đại giúp nâng cao tỷ lệ thành công và giảm thiểu biến chứng.

3.1. Kỹ thuật nẹp vít đường sau trong phẫu thuật

Kỹ thuật nẹp vít đường sau được áp dụng rộng rãi tại Bệnh viện C Thái Nguyên. Phương pháp này cho phép cố định cột sống một cách chắc chắn, đồng thời giảm thiểu tổn thương cho các mô xung quanh. Kết quả cho thấy tỷ lệ phục hồi chức năng sau phẫu thuật cao.

3.2. Đánh giá hiệu quả của phương pháp phẫu thuật

Đánh giá hiệu quả của phương pháp phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng cho thấy tỷ lệ thành công lên đến 85%. Nhiều bệnh nhân đã phục hồi chức năng tốt và trở lại với cuộc sống bình thường sau phẫu thuật.

IV. Kết quả nghiên cứu về phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng

Kết quả nghiên cứu cho thấy phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng tại Bệnh viện C Thái Nguyên đạt được nhiều thành công. Các yếu tố như thời gian phẫu thuật, kỹ thuật thực hiện và chăm sóc sau phẫu thuật đều ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng. Nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả điều trị.

4.1. Tỷ lệ phục hồi chức năng sau phẫu thuật

Tỷ lệ phục hồi chức năng sau phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng tại Bệnh viện C Thái Nguyên đạt khoảng 80%. Nhiều bệnh nhân đã có thể trở lại sinh hoạt bình thường sau một thời gian ngắn phục hồi.

4.2. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như độ tuổi, tình trạng sức khỏe trước phẫu thuật và thời gian can thiệp đều có ảnh hưởng lớn đến kết quả điều trị. Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp cải thiện quy trình điều trị.

V. Kết luận và triển vọng tương lai trong điều trị gãy cột sống

Kết quả phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng tại Bệnh viện C Thái Nguyên cho thấy nhiều triển vọng trong việc cải thiện chất lượng điều trị. Các phương pháp phẫu thuật hiện đại cùng với sự phát triển của công nghệ y tế hứa hẹn sẽ mang lại nhiều cơ hội cho bệnh nhân. Nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc tối ưu hóa quy trình điều trị và giảm thiểu biến chứng.

5.1. Triển vọng phát triển kỹ thuật phẫu thuật

Triển vọng phát triển kỹ thuật phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng tại Bệnh viện C Thái Nguyên rất khả quan. Việc áp dụng công nghệ mới và cải tiến kỹ thuật sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều trị.

5.2. Nhu cầu nghiên cứu và cải tiến trong điều trị

Nhu cầu nghiên cứu và cải tiến trong điều trị gãy cột sống ngực lưng là rất cần thiết. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ giúp tìm ra những phương pháp điều trị hiệu quả hơn, giảm thiểu biến chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

15/07/2025
Luận văn kết quả điều trị phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng do chấn thương bằng nẹp vít đường sau tại bệnh viện c thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Gãy xương nói chung là một thương tích thường gặp, trong đó gãy cột sống chiếm khoảng 3 - 6% [12]. Gãy cột sống là một chấn thương nghiêm trọng thường gặp ở người trẻ, trong độ tuổi lao động. Chấn thương cột sống ngực -lưng thường gây ra thương tổn liệt và để lại nhiều di chứng như: viêm phổi, xẹp phổi, loét do tỳ đè, nhiễm trùng tiết niệu,… rất ảnh hưởng đến sinh hoạt của người bệnh và là gánh nặng cho xã hội. Ngày nay, ở nước ta do sự phát triển kinh tế, các công trình xây dựng tăng nhanh, phương tiện giao thông ngày càng nhiều, đồng thời cơ sở hạ tầng và bảo hộ lao động chưa được trang bị đầy đủ, ý thức người dân chưa cao nên các tai nạn giao thông, tai nạn lao động gây ra các chấn thương xương khớp ngày một tăng.

Năm 1814, Clyne là người đầu tiên phẫu thuật đục đốt sống qua đường sau. Năm 1896, Maccowen là người đầu tiên mở cung sau đốt sống. Năm 1958, Harrington sử dụng một loại dụng cụ để cố định sau trở nên phổ biến [41]. Phương pháp bắt vít qua cuống mãi đến năm 1970 mới được Roy - Camille đề suất và áp dụng rộng rãi.

Hiện nay, trên thế giới, phẫu thuật cột sống ngực lưng qua đường sau có rất nhiều loại dụng cụ như: vít bắt qua cuống của các hãng Moss - Miami, Aesculap và nhiều loại hệ móc hoặc móc và vít cuống sống phối hợp để cố định vào cuống sống hoặc cung sau như Moss-Miami, Aesculap, khung Harshill…,dù sử dụng phương tiện cố định nào cũng phải đảm bảo nắn chỉnh được các biến dạng do xương gãy gây ra và phải giải phóng được ống sống trong trường hợp có chèn ép, cố định được cột sống bị thương tổn đủ vững để sau mổ có thể phục hồi chức năng được. Hiện nay tại Việt Nam đã có rất nhiều các Bệnh viện và các trung tâm đầu nghành điều trị phẫu thuật cố định cột sống ngực - lưng bằng phương pháp bắt vít qua cuống đường sau. Tuy nhiên, tại các Bệnh viện tuyến tỉnh, kỹ 2 thuật này còn chưa được triển khai nhiều. Trong những năm gần đây, nhờ sự giúp đỡ của các Bệnh viện đầu ngành và sự cố gắng của tập thể Bệnh viện C Thái Nguyên, khoa chấn thương-Bệnh viện C Thái Nguyên đã chẩn đoán và điều trị phẫu thuật cố định cột sống ngực - lưng bằng phương pháp bắt vít qua cuống sống với mục đích cố định vững chắc cột sống và giải phóng chèn ép, giúp cho bệnh nhân phục hồi chức năng sớm.

Nhằm đánh giá kết quả của phương pháp điều trị này, chúng tôi thực hiện đề tài: “Kết quả điều trị phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng do chấn thương bằng nẹp vít đường sau tại Bệnh viện C Thái Nguyên” với hai mục tiêu: 1. Đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương cột sống ngực lưng bằng nẹp vít đường sau tại Bệnh Viện C Thái Nguyên từ 01/2012 tới 06/2015; 2. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới kết quả điều trị phẫu thuật. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.

Sơ lƣợc lịch sử về các phƣơng pháp phẫu thuật cột sống 1. Trên thế giới Từ 3000 năm trước Công Nguyên, tác giả Edwin Smith đã mô tả bệnh nhân bị liệt 2 chi dưới do chấn thương cột sống, tủy sống. Hyppocrate (460 - 377 trước Công Nguyên) đã đề ra phương pháp kéo giãn để điều trị chấn thương cột sống tuỷ sống. Boehler (1885-1973) là người đã cải tiến, phát triển các phương pháp trên và có nhiều thành công trong lĩnh vực điều trị gãy cột sống.

Từ thế kỷ thứ 7, Paul (620 - 690) đã đề ra phương pháp cắt mảnh cung để giải phóng chèn ép tuỷ. Năm 1564, Ambrose Pare đưa ra phương pháp nắn chỉnh cột sống di lệch. Năm 1814, Clyne là người đầu tiên phẫu thuật được cột sống qua đường sau. Năm 1917, Riddock Gearge đã mô tả phản xạ tự động tuỷ, nghiên cứu chức năng của bàng quang sau chấn thương cột sống tuỷ sống.

Hutchinson (1828 - 1913) chủ trương đặt dẫn lưu nước tiểu cho những bệnh nhân bị chấn thương cột sống nặng. Năm 1936, Donall Monro đã rửa bàng quang bằng hệ thống lên xuống qua sonde 3 nhánh, ngày nay vẫn áp dụng gọi là phương pháp rửa bàng quang Monro. Năm 1953, Harrington[41] dùng móc để móc vào bản sống để nắn xương cột sống. Năm 1970, Roy - Camille dùng nẹp vít bắt vào cuống cung đốt sống để nắn xương.

Nẹp và vít là loại đặc biệt dành riêng cho cột sống. Roy - Camille dùng kỹ 4 thuật bắt vít “thẳng từ sau ra trước”. Phương pháp này cố định vững chắc, nếu thương tổn ở đoạn bản lề thì cột sống sẽ bị hạn chế vận động. Năm 1970, Holdsworth [43] đã phẫu thuật kết hợp xương cột sống bằng cách đi vào lối trước và bắt nẹp vít vào mặt trước bên của thân đốt sống.

Năm 1982, Magerl thuộc nhóm AO[51] đề suất phương pháp cố định ngoài cột sống nhưng phương pháp này cồng kềnh và bệnh nhân không thể nằm ngửa được nên phương pháp này không được phổ biến. Phương pháp CD đã tạo ra một hướng mới trong việc cố định cột sống phía sau, đó là hệ thống được gắn với nhau rất chắc chắn, giúp cố định vững chắc, lấy lại đường cong sinh lý của cột sống và thuận lợi cho việc nắn chỉnh. Được đề cập lần đầu tiên vào năm 1982 bởi phẫu thuật viên người Pháp, Yves Cotrel, hệ thống Cotrel-Dubosset[28] đã đưa ngành phẫu thuật cột sống sang kỷ nguyên mới. Ban đầu, CD gồm các thanh rod đường kính 7mm có khía, các móc (hook) và vít (screw) được bắt chặt vào thanh rod nhờ các bu-lông.

Tuy nhiên do liên kết quá chặt, chỉ có thể mài phá mới lấy bỏ đi được nên phẫu thuật lần sau sẽ vô cùng khó khăn. Để khắc phục nhược điểm này các thanh rod được giảm đường kính xuống 5.5mm, bề mặt trơn nhẵn, không có khía và các bu- lông có thể lấy bỏ sau khi bẻ khóa. Hệ thống Cotrel-Dubosset thế hệ thứ hai được ra đời sau vài năm với đường kính bu - lông giảm xuống 10mm, thế hệ thứ ba la 8mm, đây chính là hệ thống CD M8 và thế hệ mới nhất là CD Legacy. Hệ thống CD M8 được phổ biến và sử dụng rộng rãi nhất cho đến ngày nay [28].

Trong nước Năm 1986, Lê Xuân Trung đã theo dõi trên 72 trường hợp gãy cột sống có liệt tủy với 25% điều trị bằng phẫu thuật đã đưa ra kết luận “Muốn đạt kết quả điều trị cao phải sơ cứu đúng và chọn phương pháp điều trị thích hợp”. 5 Năm 1989, bệnh viện Chợ Rẫy, thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng phương pháp Roy Camille, sử dụng nẹp vít cố định vào cuống cung trong chấn thương cột sống .Với kết quả rất tốt đã mang lại hiệu quả to lớn thiết thực làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt của khu điều trị cột sống trong khoa phẫu thuật thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy. Năm 1992, Bệnh viện 103 đã phẫu thuật theo phương pháp Roy - Camille cho bệnh nhân chấn thương cột sống. Năm 1994, bệnh viện Trung Ương Huế đã sử dụng nẹp tự chế từ đinh Kuntcher, vít AO và áp dụng phương pháp Roy - Camille để điều trị chấn thương cột sống.

Năm 2004, Nguyễn Đắc Nghĩa - Bệnh viện Saint Paul đã phẫu thuật cho 64 bệnh nhân gãy cột sống thắt lưng (CSTL) có liệt tủy bằng khung Hartshill cải tiến (kết hợp hai cầu ngang với bốn vít chân cung và bốn mối chỉ thép), làm cho độ vững của hệ thống cố định bằng khung Hartshill được tăng lên và duy trì được kết quả nắn chỉnh giải phẫu tốt hơn khung Hartshill thông thường [11]. Phương pháp cải tiến này an toàn , đơn giản và ít tốn kém, có thể áp dụng để thực hiện sớm các phẫu thuật giải ép và cố định cột sống cho bệnh nhân gãy cột sống ngực - thắt lưng không vững có thương tổn tủy sống. Năm 2006, Nguyễn Hoàng Long [10] đã nghiên cứu kết quả chấn thương gãy CSNL bằng hai đường mổ sau và trước, giải ép, ghép xương kết hợp bắt vít qua cuống với dụng cụ Moss Miami. Với kết luận phương pháp cải tiến của chúng tôi an toàn , đơn giản và ít tốn kém , có thể lựa chọn áp dụng để thực hiện sớm các phẫu thuật cấp cứu giải chèn ép và cố định cột sống cho loại bệnh nhân gãy cột sống ngực - thắt lưng không vững có thương tổn tủy sống.

Từ tháng 8 năm 2003, tại khoa phẫu thuật thần kinh bệnh viện Việt Đức đã sử dụng hệ thống vít Moss Miami, Aesculap…trong phẫu thuật kết hợp xương cột sống ngực lưng. 6 Năm 2007, Nguyễn Văn Thạch - Bệnh viện Việt Đức [17] nghiên cứu điều trị phẫu thuật gãy CSNL không vững, không liệt và liệt tủy không hoàn toàn bằng dụng cụ Moss Miami. Với kết luận phương pháp cố định cột sống bằng vít cuống cung là sự lựa chọn hợp lý cho các thương tổn cột sống ở vùng ngực - thắt lưng. Năm 2012, Nguyễn Vũ Hoàng - Bệnh viện 103 nghiên cứu điều trị gãy cột sống mất vững và có thương tổn thần kinh đoạn ngực - thắt lưng bằng vít qua cuống sống với kết luận phương pháp này là ưu việt nhất với những tổn thương ở đoạn ngực - thắt lưng.

Phẫu thuật càng sớm khả năng phục hồi thần kinh càng cao [5]. Năm 2010 , Đặng Ngọc Huy [6] đã áp dụng điều trị gãy cột sống ngực lưng bằng nẹp vít đường sau tại Bệnh viện C Thái Nguyên. Bước đầu cho kết quả tốt, giúp cho bệnh nhân được điều trị sớm, đỡ tốn kém, không phải chuyển về tuyến trung ương. Giải phẫu học cột sống ngực thắt lƣng Vùng cột sống ngực lưng có cấu trúc của đốt sống, khớp, dây chằng với những đặc điểm chung cho cả cột sống và riêng cho vùng này.

Những đặc điểm riêng về giải phẫu học làm cho vùng này dễ bị tổn thương hơn những vùng còn lại của cột sống nên được gọi là vùng chuyển tiếp. Cấu tạo chung của cột sống Cột sống được tạo nên bởi một sự chồng lên nhau đều đặn và hài hòa của các đốt sống. Các đốt được liên kết với nhau một cách chắc chắn nhưng mềm mại nhờ đĩa gian sống ở trước, hai cặp mấu khớp ở sau. Các đốt sống còn được liên kết với nhau một cách chắc chắn và liên tục từ xương sọ tới xương cùng bằng hai dây chằng dọc sống, dây dọc trước và dây dọc sau.

Ngoài ra, ở phía sau cột sống còn một hệ thống dây chằng bám gắn vào mấu gai gọi là dây chằng liên gai và trên gai. Dây chằng bám vào các mấu ngang gọi là dây chằng liên ngang. Đốt sống Một đốt sống gồm có những thành phần sau (hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kết quả phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng tại Bệnh viện C Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình và kết quả của phẫu thuật gãy cột sống ngực lưng, một vấn đề nghiêm trọng trong y học. Bài viết nêu bật các phương pháp phẫu thuật, tỷ lệ thành công, cũng như những lợi ích mà bệnh nhân có thể nhận được sau khi điều trị. Đặc biệt, tài liệu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về quy trình phẫu thuật mà còn cung cấp thông tin quý giá về sự phục hồi và chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến cột sống, bạn có thể tham khảo tài liệu Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh mri một số yếu tố liên quan và đánh giá kết quả điều trị nội khoa ở bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại bệnh viện đa khoa trung ươn, nơi cung cấp thông tin về thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng và các yếu tố ảnh hưởng đến điều trị. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Xây dựng phần mềm hương trình tạo các dạng sóng lực kéo ứng dụng trong phục hồi chức năng, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về công nghệ hỗ trợ trong phục hồi chức năng cho bệnh nhân cột sống. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cột sống.