CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu cột sống thắt lưng và đĩa đệm 1. Cột sống thắt lưng Cột sống là một xương dài uốn éo đi từ mặt dưới xương chẩm hết xương cụt, chiếm 2/5 chiều cao cơ thể. Cột sống gồm nhiều cấu trúc xương, mô liên kết bao bọc và bảo vệ tủy sống, được cấu tạo bởi 33-35 đốt sống, trong đó có 24 đốt trên rời nhau: 7 đốt sống cổ, 12 đốt sống ngực và 5 đốt sống thắt lưng.
Các đốt sống cổ, ngực và thắt lưng được liên kết với nhau qua 24 đĩa đệm gian đốt sống.[9],[20] Cột sống thắt lưng được đánh số từ L1 đến L5 là những đốt sống lớn nhất và khỏe nhất của cột sống do phải chống đỡ toàn thân và cần chuyển động nhiều. Giải phẫu cột sống. Giải phẫu đĩa đệm Đĩa đệm gồm 3 thành phần: nhân nhầy nằm ở giữa, hệ thống vòng sợi bao bọc xung quanh, tấm sụn nằm lót mặt dưới và mặt trên của các thân đốt sống liền kề. Nhân nhầy: nằm ở khoang nối 1/3 giữa và 1/3 sau của đĩa đệm, chiếm khoảng 40% bề mặt cắt ngang đĩa đệm [4].
NNĐĐ được cấu tạo bởi hỗn hợp proteoglycan và nước được kết dính với nhau bởi một mạng lưới collagen và sợi elastin. Nước là thành phần chiếm tỷ lệ cao trong NNĐĐ, khoảng 90% ở trẻ sơ sinh, 80% ở người trẻ và giảm dần khi càng lớn tuổi. [14] Vòng sợi: gồm những sợi sụn rất chắc chắn đan ngoặc lấy nhau theo kiểu xoáy ốc và xếp thành từng lớp đồng tâm. Những sợi ngoài cùng đi qua bờ tấm sụn gắn vào thân xương, những sợi phía trong thì gắn vào tấm sụn trên tới tấm sụn dưới [20].
Phần sau và sau bên của vòng sợi mỏng hơn các chỗ khác và là chỗ yếu nhất nên đĩa đệm dễ thoát vị về sau và sau bên hơn [14]. Tấm sụn: ĐĐ ngăn cách với các thân đốt sống gần kề bởi các tấm sụn trên và dưới. Tấm sụn này có vai trò như tấn tăng trưởng của thân sống và có cấu trúc đặc trưng của tấm sụn tiếp hợp ở đầu xương dài. Tấm sụn mỏng dần theo sự phát triển và cuối cùng chỉ còn khoảng 1mm bề dày.
Tấm sụn là một lớp sụn hyaline vô mạch ở người lớn, giống các sụn hyaline khác của cơ thể, tấm sụn gồm nhiều vòng tế bào sợi. Về mặt sinh cơ học, hầu hết các lực nén ép đều đi từ thân sống phía trên qua tấm sụn đến NNĐĐ rồi đến tấm sụn dưới và thân sống phía dưới. Tấm và các bè xương kế cận có thể biến dạng tạm thời khi truyền tải lực. Cấu trúc đĩa đệm.
Các cấu trúc khác liên quan với đĩa đệm Các dây chằng: - Dây chằng dọc trước: chạy dọc mặt trước thân sống, dính chắc vào mép trước và mép bên thân sống. Dây chằng này chắc và khỏe nên ít TVĐĐ ra trước.[22] - Dây chằng dọc sau: nằm ở mặt sau thân sống, dính chắc vào mép sau thân sống. Dây chằng này mỏng và yếu hơn nên hay TVĐĐ ra sau.[22] - Dây chằng vàng: cấu tạo bởi các sợi đàn hồi và có màu vàng đặc trưng. Dây chằng này dính chặt và kết nối bản sống trên với bản sống dưới, góp phần tăng cường thành sau của ống sống.
Giữa màng cứng và dây chằng vàng là tổ chức mỡ có tác dụng không cho màng cứng dính vào DCV.[22] Lỗ liên hợp: do khuyết sống dưới của cuống sống trên và khuyết sống trên của cuống sống dưới tạo nên, các lỗ này nằm ngang mức với đĩa đệm. Trong lỗ liên hợp có thần kinh tủy sống và mạch máu chạy qua [31]. Kích thước rộng gấp 5-6 lần kích thước của rễ thần kinh chạy qua nên khi cột sống chuyện sẽ làm thay 6 đổi kích thước lỗ nhưng không ảnh hưởng rễ thần kinh. Nhưng khi có TVĐĐ thì các động tác của cột sống sẽ kích thích rễ thần kinh và gây đau [22].
Các dây chằng cột sống thắt lưng. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh thoát vị đĩa đệm. Nguyên nhân Có nhiều giả thuyết về nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm như thuyết về nhiễm khuẩn, bệnh thấp, chấn thương, dị thường cột sống và đĩa đệm, di truyền.[22] Thuyết về nhiễm khuẩn: những năm đầu thế kỷ XX người ta cho rằng những biểu hiện của viêm rễ thần kinh là di quá trình viêm do virus, vi khuẩn, do lao hoặc giang mai. Ngày nay người ta hiểu rõ rằng viêm rễ thần kinh thắt lưng – cùng có thể do TVĐĐ hoặc không do TVĐĐ.[22] Thuyết về bệnh thấp: một số tác giả ủng hộ thuyết cho rằng bệnh thấp là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây thoái hóa trong đĩa đệm.
Họ cho rằng quá trình viêm khớp dạng thấp đều diễn ra ở khớp gian đốt sống ( bao gồm 7 cả ĐĐ và khớp cột sống). Tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có tài liệu chứng minh TVĐĐ là do thấp gây nên.[22] Thuyết chấn thương: có nhiều tác giả cho rằng TVĐĐ có liên quan đến chấn thương cột sống trước đó chiếm khoảng 20-25%. Ngoài ra TVĐĐ có thể xảy ra khi khiêng vác nặng, vận động cột sống sai tư thế, một số nghề có nguy cơ cao như thợ mỏ, thợ khuân vác, lao động chân tay. Hiện tượng không có đĩa đệm hoặc các thành phần rất yếu, không đầy đủ làm chúng không có khả năng căng phồng và tải trọng nên nhân nhầy bị lão hóa sớm.
Cơ chế bệnh sinh Sự lão hóa của đĩa đệm theo thời gian và các bệnh lý của bản thân ĐĐ dẫn đến tình trạng thoái hóa sinh lý và bệnh lý. Thoái hóa sinh lý: đĩa đệm bắt đầu thoái hóa ở lứa tuổi sau 20 hoặc 30 do ĐĐ luôn phải chịu tải trọng tĩnh cũng như tải trọng động của cơ thể nên theo thời gian nó dần bị thoái hóa [25]. Quá trình thoái hóa diễn ra như sau: đầu tiên nhân nhầy mất dần nước và khô lại. Tính đàn hồi và khả năng căng phồng của ĐĐ giảm dần, trở nên giòn và dễ gẫy.
Vòng sợi mất tính đàn hồi, xuất hiện các khe nứt theo các hướng khác nhau, thường thấy mặt sau bên của vòng sợi. Những khe nứt ngày càng rộng, đến một mức nào đó NNĐĐ sẽ qua khe nứt này, thúc ép vào DCDS làm cho DC này suy yếu không có khả năng giữ nổi NNĐĐ và dẫn tới lồi vào ống sống [33]. Thoái hóa bệnh lý: do nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài tác động lên ĐĐ như cơ học, di truyền, miễn dịch, chuyển hóa. Trong số đó yếu tố cơ học biểu 8 hiện bằng hiện tượng quá tải, là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình thoái hóa đĩa đệm tăng nhanh [14].
Phân loại thoát vị đĩa đệm thắt lưng 1. Phân loại theo hướng thoát vị của nhân nhầy đĩa đệm Thoát vị đĩa đệm ra trước: NNĐĐ phát triển ra phía trước thân đốt sống, ít gặp và thường không có biểu hiện đau theo rễ thần kinh. - Thoát vị bên: NNĐĐ thoát ra sau – bên gây chèn ép rễ thần kinh một bên, bệnh nhân biểu hiện chỉ đau một chân. - Thoát vị vào lỗ liên hợp.
- Thoát vị ngoài lỗ liên hợp: nhân nhầy đĩa đệm nằm ống sống, ngoài lỗ ghép. Chỉ có thể chẩn đoán xác định chẩn đoán nhờ chụp MRI hoặc CLVT. - Thoát vị trung tâm: còn gọi là thoát vị Schmorl do NNĐĐ xuyên qua tấm sụn chui vào phần xốp của thân đốt sống. Thể này không biểu hiện lâm sàng do ĐĐ không chèn ép rễ thần kinh.
Phân loại theo mức độ chèn ép của khối đĩa đệm lên rễ thần kinh. Theo Caillet (1981) chia ra mức độ [14]: - Mức 1: chèn ép ít, rối loạn cảm giác nông (đau, tê bì) ở mông. - Mức 2: chèn ép vừa, rối loạn cảm giác ở mông, đùi, cẳng chân. - Mức 3: chèn ép nặng, rối loạn cảm giác ở mông, đùi, cẳng chân, bàn chân, ngón chân.
Phân loại theo biểu hiện lâm sàng [13] - TVĐĐ thể điển hình và không điển hình. - Thể đau dây thần kinh tọa đơn thuần: thường gặp trong TVĐĐ vào lỗ gian đốt sống. - Thể liệt một nhóm cơ: thường diễn biến theo 2 thời kỳ: đau thắt lưng, dị cảm và liệt chân. - Thể hội chứng chùm đuôi ngựa.
- Thể TVĐĐ kết hợp với các bệnh lý khác: u tủy, u rễ thần kinh, viêm tủy, viêm màng nhện tủy,… 1. Phân loại theo vị trí đĩa đệm so với dây chằng dọc sau Thoát vị còn chứa nhân nhầy đĩa đệm: dây chằng dọc sau còn nguyên vẹn nhưng NNĐĐ lồi vào ống sống, còn gọi là lồi ĐĐ [22]. Thoát vị này gồm: - Thoát vị mềm: chỉ có NNĐĐ chèn ép rễ thần kinh. - Thoát vị cứng: không những chỉ do NNĐĐ mà còn do gai xương, sụn cốt hóa và phì đại DCV chèn ép vào rễ thần kinh.
Thoát vị không còn chứa nhân nhầy đĩa đệm: NNĐĐ đã làm rách vòng sợi và rách DCDS. Trong trường hợp này mảnh ĐĐ có thể nằm tự do trong ống sống, di trú lên trên hoặc xuống dưới. Thậm chí NNĐĐ có thể xuyên thủng màng cứng và nằm tự do giữa các rễ thần kinh. Lâm sàng và hình ảnh MRI thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng 1.
Triệu chứng cơ năng Khởi phát bệnh thường sau chấn thương cột sống, cúi người, nâng vật nặng, vi chấn thương hoặc có thể khởi phát từ từ. Bệnh phát triển theo 2 thời kỳ: đau thắt lưng cấp và đau thắt lưng – hông [4]. 10 Đau lưng xuất hiện đầu tiên và là triệu chứng khiến bệnh nhân than phiền nhiều nhất. Đau ở phần dưới CSTL với cường độ cao, hạn chế vận động, phải nằm nghỉ ngơi, có tư thế chống đau.
Nằm nghỉ và điều trị vai ngày thì đau giảm dần, khỏi sau 1-2 tuần, có thể tái phát [14]. Sau đó vài ngày, vài tuần hay một số lần tái đau lưng, thậm chí một số trường hợp xuất hiện ngay sau đau lưng là đau theo rễ thần kinh hông to một bên hay cả hai bên. Đây là triệu chứng đặc trưng và thường khiến bệnh nhân phải nhập viện điều trị. Hướng lan theo rễ phụ thuộc vào tầng thoát vị và rễ thần kinh bị chèn ép.
TVĐĐ thắt lưng thấp thường có những triệu chứng đau dọc chi dưới điển hình đến phía dưới gối:[15], [29] - Đau theo rễ L4: đau ở mặt sau mông, lan theo mặt sau ngoài đùi đến mặt trước cẳng chân. - Đau theo rễ L5: đau sau mông, lan theo mặt sau đùi, hõm khoeo đến mặt ngoài cẳng chân, mu bàn chân và kết thúc ở ngón chân cái. - Đau theo rễ S1: đau sau mông, lan theo mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân đến gót chân, gan bàn chân và tận cùng ở các ngón còn lại.