CHƯƠNG 1: NGHIÊN CỨU CÁC CÁCH THỨC KÉO GIÃN CỘT SỐNG TRONG PHỤC HỒI CHỨC NĂNG I. ĐẠI CƯƠNG GIẢI PHẪU VÀ SINH CƠ HỌC CỘT SỐNG Theo những nghiên cứu về cộ sống thì, cột sống có nhiều đoạn nhưng từng đoạn có nhiều chức năng được gọi là “đoạn vận động”. Đoạn vận động bao gồm khoang gian đốt cùng với nhân nhầy (nhân tuỷ), vòng sợi, mâm sụn và nửa phần thân đốt lân cận cùng phần mềm tương ứng. Cột sống người có 24 đoạn vận động.
Đĩa đệm (đĩa gian đốt) bao gồm mâm sụn, vòng sợi và nhân nhầy, nằm trong khoang gian đốt, bình thường có 23 đĩa đệm, ở người bình thường chiều cao của đĩa đệm đoạn cổ là 3mm, đoạn ngực 5mm, đoạn thắt lưng 9mm. Khi vận động cột sống về một phía (nghiêng, cúi, ưỡn…) thì nhân nhầy sẽ chuyển dịch về phía đối diện đồng thời vòng sợi cũng bị giãn ra. Các khớp đốt sống có vai trò đặc biệt trong chức năng của các đoạn vận động và sự xuất hiện triệu chứng đau là do đĩa đệm dưới gián tiếp ảnh hưởng. Là những khớp bản lề – chêm tuỳ theo mỗi tư thế trong không gian mà nó có những hướng vận động hoàn toàn xác định.
Như vậy đĩa đệm là khớp đốt sống tạo nên một đơn vị chức năng thống nhất có khả năng chống đỡ theo nguyên lý đàn hồi với các tác động cơ học. Sự xuất hiện đau ở các khớp đốt sống bao giờ cũng do bao khớp chịu sức căng kéo quá lớn hoặc diện khớp phải chịu áp lực bất thường, nếu tác động liên tiếp kéo 3 dài sẽ dẫn đến thoái hoá khớp đốt sống (spondylar throsis) hay gặp ở đoạn thắt lưng Về mặt sinh cơ học, đĩa đệm được coi như hệ thống thẩm thấu trao đổi chất. Đĩa đệm có trọng tải áp lực khá lớn như ở đoạn thắt lưng, ở tư thế nằm là 15 – 25kg lực (kilogramme-force), tư thế đứng là 100kg và ngồi là 150kg, còn ở tư thế nghiêng hay hạ nâng các vật nặng còn tăng hơn nhiều (nachemson). Tải trọng dẫn tới sự giảm chiều cao gian đốt.
Theo Pukys, khi chịu trọng tải lớn, tổng chiều cao khoang gian đốt giảm 12mm ở nữ và 18mm ở nam. Đĩa đệm không chỉ chịu lực tĩnh mà trong đời sống còn phải ghánh chịu bao nhiêu lực động. Nhờ khả năng chuyển dịch nhân nhầy và đặc tính chun giãn của vòng sợi nên đĩa đệm có đặc tính một hệ thống sinh cơ học có tính thích ứng đàn hồi cao và chịu trọng tải lớn, kiểu lò xo. Theo quy luật “chiều cao đĩa đệm tăng khi áp lực nội đĩa đệm giảm” nên phương pháp kéo giãn cột sống thắt lưng trong điều trị làm cho các khoang gian đốt cao thêm trung bình 1,1mm làm áp lực nội đĩa đệm giảm.
Như vậy, đau lưng cấp hay mãn không do nguồn gốc tuỷ sống, tổ thương xương cũng như bệnh lý đặc hiệu (lao, u …) thì thường có nguồn gốc: - Đĩa đệm (hư, thoát vị) - Rễ thần kính (viêm, chèn ép) - Dây chằng (tổn thương, co) - Thoái hoá khớp đốt sống - Cơ cạnh sống (co phản xạ) Nguồn gốc đĩa đệm là phổ biến như hư đĩa đệm là thoái hoá sinh học theo tuổi, thoái hoá bệnh lý còn gọi là thoái hoá đĩa đệm và hư đĩa đệm khớp, thoát vị đĩa đệm. Bệnh lý đĩa đệm do áp lực trọng tải quá cao, lực tác động lên cột sống 4 đĩa đệm qua mức (xoắn vặn, dồn đẩy, nén ép), tính chất gia đình (Wilson), vi chấn thương kéo dài. Có thể khái quát theo sơ đồ tổng hợp về nguồn gốc bệnh đĩa đệm như sau: Trọng tải Hư đĩa đệm Thoát vị đĩa sinh lý , bệnh lý đệm từ từ Chấn thương cấp, kéo dài Đau lưng cấp, mãn tính Hình 1.1: Sơ đồ tổng hợp nguồn gốc bệnh đĩa đệm. Qua một số vấn đề sinh cơ học cột sống, việc điều trị một số chứng bệnh cột sống thường gặp, biện pháp kéo giãn có khả năng đạt hiệu quả.
5 Sau đây là một số hình ảnh của cột sống: Đốt đội (C1) Đốt đội (C1) Đốt trục (C2) Đốt trục (C2) Đốt trục (C2) Đốt đội (C1) Các đốt sống cổ C1 C1 C1 T1 T1 T1 Các đốt sống ngực T12 T12 T12 L1 L1 L1 Các đốt sống thắt lưng L5 L5 L5 Xương cùng Xương cùng Xương cùng (S1-5) (S1-5) (S1-5) Xương cụt Xương cụt Xương cụt Nhìn trước Nhìn bên trái Nhìn sau Hình 1.2: Cột sống nhìn từ 3 phía. 6 Mỏm khớp trên Mỏm núm vú Cuống Mỏm ngang Mỏm gai Thân đốt sống Đĩa gian Mỏm khớp dưới đốt sống Khuyết đốt sống dưới Lỗ gian đốt sống Khuyết đốt sống trên Diên khớp với xương cùng Hình 1.3: Các đốt sống thắt lưng. Ống đốt sống Mỏ m khớp trên Mỏm núm vú Thân đốt sống Mỏm ngang Mỏm phụ Mỏm gai Mả nh Mỏm kh ớp dưới Hình 1.4: Các đốt thắt lưng thứ 3 và thứ 4. 7 Cuống mặ t c ắt M ặt sau các thân đốt sống Dây chằng sau Đĩa gian đốt sống Hình 1.5: Các đoạn đốt sống trước (đã bỏ các cuống).
Mỏm khớp dưới Bao khớp củ a khớp mỏm Dây chằng dọc trước Mỏm khớ p trên Thân đố t sống M ỏm ngang th ắt lưng Mỏm gai Đĩa gian đốt s ống Dây ch ằ ng vàng Dây chằng gai Dây chằ ng dọc trước Dây chằng trên gai Lỗ gian đ ốt số ng Dây chằ ng dọ c sau Hình 1.6: Một đơn vị vận động. 8 Cuống m ặt c ắ t Dây chằ ng vang Mả nh Mỏm khớ p trên Mỏm ngang Diên khớp dưới Hình 1.7: Các đoạn đốt sống sau. Thân đốt sống Lỗ đ ố t số ng Cuống Mỏm ngang Mỏ m khớ p trên Mỏ m M ỏ m núm vú phụ M ảnh Mỏ m gai Hình 1.8: Đốt sống thắt lưng thứ 2 (nhìn từ phía trên). 9 Vòng sợi Nhân tủy (nhân nh ầy) Hình 1.9: Đĩa gian đốt sống (đĩa đệm).
ĐIỂM TỲ LỰC KÉO VÀ PHƯƠNG KÉO I. Điểm tỳ lực kéo Trên hộp sọ hầu như không có những ụ nhô để cho khung treo bám vào, do đó người ta thường sử dụng hai vị trí đểm tỳ là: tay kéo dài phía trước tỳ vào xương hàm dưới và tay kéo ngắn phía sau tỳ vào xương chẩm (hình 1. 10 Giá treo Ròng rọc Dây kéo 20º – 30º Điểm chẩm Xương hàm dưới Vật nặng Hình 1.10: Điểm tỳ lực kéo. Phương kéo Phương kéo theo mặt phẳng trước sau: chọn phương kéo sao cho làm cột sống hơi gấp ra trước 20º - 30º (như hình 1.10), khi đó giữa hai đốt sống tạo nên góc mở ra sau tạo điều kiện cho nhân nhày đĩa đệm đang thoát vị ra sau trở lại vị trí bình thường, đồng thời làm mở rộng lỗ tiếp hợp.
CÁC KỸ THUẬT KÉO GIÃN CHÍNH VÀ TÁC DỤNG Từ lâu điều trị kéo giãn đã được ứng dụng nhằm mục tiêu đơn giản là giải toả hẹp khe liên đốt để giải phóng chèn ép rễ thần kinh, một số công trình nghiên cứu đã xác nhận với lực kéo trung bình (khoảng nửa trọng lượng cơ thể) trên tư thế nằm, sau 15-20 phút có thể tăng chiều cao khoang liên đốt đoạn thắt lưng 1- 11 1,5mm. Kỹ thuật kéo giãn cột sống từ giản đơn phát triển ngày càng khoa học hơn. Kéo giãn bằng tự trọng trên bàn dốc Chỉ cần một ván phẳng (giảm lực ma sát) cùng một bộ đai cố định ở nách, ngực hay đầu, lực kéo điều chỉnh bằng góc độ dốc của bàn so với mặt phẳng nền, độ dốc càng nhiều thì lực kéo càng lớn do tự trọng của bệnh nhân trượt xuống trên mặt bàn. Cách kéo này lực bị dàn đều từ chỗ cố định trở xuống, tuy nhiên đoạn cột sống ở càng gần nơi cố định chịu lực lớn hơn, có tính định lượng tương đối.
Nhưng trang bị giản đơn, lực kéo một phần phụ thuộc vào trọng lượng bệnh nhân, nên còn gọi là kéo giãn cột sống bằng tự trọng, dễ dàng triển khai ở mọi cơ sở cho nên có thể ứng dụng rộng rãi ở y tế cộng đồng, chỉ có một số chế độ kéo liên tục. Kéo giãn bằng lực đối trọng Đoạn ngực và thắt lưng kéo ở tư thế nằm, lực kéo có thể tập trung vào các vùng nhất định bằng cách đặt đai cố định và đai kéo (khoảng giữa 2 đai là phần chịu lực kéo chủ yếu). Lực kéo được xác định bằng số cân nặng của lực kéo (kéo bằng tạ), trong khi kéo có thể thay đổi lực bằng tăng giảm trọng lượng tạ, chủ yếu vẫn là kéo liên tục và phải theo dõi thận trọng, là một kỹ thuật phổ biến hiện nay ở các cơ sở chưa có thiết bị máy kéo. Kéo đoạn cổ thường ở tư thế ngồi, phần cố định là trọng lượng cơ thể còn lực kéo bằng trọng lượng tạ qua đai kéo cổ.
Kéo giãn trên hệ thống bàn-máy kéo Ngày nay hệ thống bàn-máy kéo được tự động hoá, xử lý vi tính, sử dụng nguyên lý trượt rất hiện đại như hệ thống kéo giãn cột sống của ITO –Nhật bản, hãng đi đầu về thiết bị vật lý trị liệu phục hồi chức năng trên thế giới. • Bàn kéo đối với các đốt sống đoạn ngực và thắt lưng có phần tự lăn trượt trên con lăn để khi kéo tập trung lực kéo vào từng vùng loại bỏ được lực cản do trọng lượng phần cơ thể tạo nên. Bàn kéo còn có loại điều khiển bằng điện để tư thế kéo phù hợp. • Máy kép với nhiều chế độ và điều khiển bằng số với màn hiển thị theo dõi dễ dàng các thông số bằng công nghệ vi xử lý.
• Lực kéo được tính bằng đơn vị Newton (N) ∼ 0,1kg, phạm vi lực kéo rộng 1,5 – 90 hoặc 100kg. • Chế độ kéo có thể: Liên tục, ngắt quãng, tăng dần, giảm dần, có lực nền… nên khả năng ứng dụng lâm sàng rộng và phù hợp với sinh cơ học cột sống. Có hệ thống bệnh nhân tự ngừng kéo lúc thấy khó chịu. Hệ thống kéo giãn dưới nước Là một kỹ thuật kết hợp thuỷ liệu và kéo giãn gồm một bể nước sâu khoảng 2m với nhiệt độ ấm giúp cho giãn cơ lúc kéo, kéo theo trục thẳng đứng, được cố định bằng các phao ở (cổ và nách), lực kéo bằng tạ móc ở đai kéo ở thắt lưng.
Do sức đẩy của nước nên lực kéo thường phải lớn hơn khi kéo bình thường. Tác dụng kéo giãn cột sống Tác dụng có tính chất cơ học tác động trực tiếp tại vùng kéo.