Luận án tiến sĩ: Ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ngoại tiêu hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2019

181
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Phân chia gan và giải phẫu vùng cuống gan

1.2. Đặc điểm giải phẫu vùng cuống gan liên quan đến cắt gan

1.3. Chẩn đoán ung thư tế bào gan

1.4. Chẩn đoán giai đoạn bệnh

1.5. Điều trị ung thư tế bào gan

1.5.1. Điều trị triệt căn

1.5.2. Điều trị không triệt căn

1.6. Cắt gan trong điều trị ung thư tế bào gan

1.6.1. Chuẩn bị trước phẫu thuật

1.6.2. Kỹ thuật cắt gan trong điều trị ung thư tế bào gan

1.6.3. Tai biến trong khi cắt gan

1.6.4. Tái phát sau cắt gan điều trị ung thư tế bào gan

1.7. Kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống Glisson trong nghiên cứu

1.7.1. Kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống Glisson theo Takasaki

1.7.2. Kiểm soát chọn lọc cuống Glisson theo kỹ thuật của Machado

1.8. Tình hình nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật kiểm soát chọn lọc cuống Glisson trong mổ cắt gan điều trị ung thư tế bào gan

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

2.3. Tiêu chuẩn loại trừ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Chọn mẫu nghiên cứu

2.4.3. Phương tiện nghiên cứu

2.4.4. Quy trình phẫu thuật

2.4.5. Các chỉ tiêu nghiên cứu

2.5. Đặc điểm chung

2.6. Lâm sàng và cận lâm sàng

2.7. Loại phẫu thuật

2.8. Kết quả cắt gan

2.9. Xử lý số liệu

2.9.1. Thu thập số liệu

2.9.2. Xử lý số liệu

2.10. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung

3.2. Lâm sàng và cận lâm sàng

3.3. Cận lâm sàng

3.4. Đường mở bụng

3.5. Các loại cắt gan trong nghiên cứu

3.6. Phương tiện cắt gan

3.7. Kiểm soát cuống Glisson

3.8. Kết quả trong mổ

3.9. Kết quả gần

3.10. Kết quả xa

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm chung

4.3. Đặc điểm lâm sàng

4.4. Đặc điểm cận lâm sàng

4.5. Giai đoạn bệnh

4.6. Đặc điểm phẫu thuật

4.7. Đặc điểm khối u trong mổ

4.8. Cắt túi mật, đặt dẫn lưu vào ống cổ túi mật

4.9. Kiểm soát chọn lọc cuống Glisson

4.10. Cặp cắt cuống Glisson

4.11. Cặp cuống Glisson toàn bộ

4.12. Cắt nhu mô gan

4.13. Kiểm tra cầm máu, rò mật

4.14. Kết quả phẫu thuật

4.14.1. Kết quả trong mổ

4.14.2. Kết quả gần

4.14.3. Kết quả xa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson

Kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson (KSCLCG) đã trở thành một phương pháp quan trọng trong điều trị ung thư gan. Phương pháp này giúp giảm thiểu nguy cơ chảy máu và tổn thương nhu mô gan trong quá trình cắt gan. Theo nghiên cứu, KSCLCG cho phép phẫu thuật viên xác định chính xác ranh giới giải phẫu, từ đó cắt bỏ vùng gan bị tổn thương mà không làm ảnh hưởng đến các vùng lân cận. Kỹ thuật này được phát triển từ những năm 2000 và đã được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, việc áp dụng KSCLCG trong điều trị ung thư tế bào gan còn mới mẻ, nhưng đã cho thấy những kết quả khả quan trong việc giảm thiểu biến chứng sau phẫu thuật.

1.1. Lịch sử phát triển kỹ thuật

Kỹ thuật KSCLCG được giới thiệu lần đầu tiên bởi Takasaki vào năm 1986. Trước đó, các phương pháp cắt gan truyền thống thường gặp khó khăn trong việc kiểm soát mạch máu, dẫn đến nguy cơ chảy máu cao. Năm 2003, Machado đã cải tiến kỹ thuật này, giúp việc cắt gan trở nên an toàn hơn. Nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng KSCLCG không chỉ giúp giảm thiểu mất máu mà còn hạn chế sự phát tán tế bào ung thư sang các vùng gan lân cận. Điều này đặc biệt quan trọng trong điều trị ung thư gan, nơi mà việc bảo tồn nhu mô gan là rất cần thiết.

II. Tình trạng nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật KSCLCG

Tại Việt Nam, tình hình ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson trong điều trị ung thư gan còn nhiều hạn chế. Số lượng trung tâm có khả năng thực hiện kỹ thuật này còn ít, và kỹ thuật cắt gan tại các trung tâm cũng chưa đồng nhất. Theo thống kê, tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật vẫn còn cao, điều này cho thấy cần có sự cải thiện trong quy trình và kỹ thuật phẫu thuật. Nghiên cứu cho thấy, việc áp dụng KSCLCG giúp cải thiện đáng kể kết quả phẫu thuật, giảm thiểu biến chứng và thời gian nằm viện của bệnh nhân. Điều này khẳng định giá trị thực tiễn của kỹ thuật trong điều trị ung thư tế bào gan.

2.1. Kết quả nghiên cứu

Nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân được phẫu thuật cắt gan với kỹ thuật KSCLCG có tỷ lệ sống sót cao hơn so với các phương pháp truyền thống. Cụ thể, tỷ lệ tái phát ung thư sau phẫu thuật giảm đáng kể, cho thấy hiệu quả của kỹ thuật trong việc loại bỏ hoàn toàn khối u. Hơn nữa, việc áp dụng KSCLCG còn giúp giảm thiểu các biến chứng như chảy máu và rò mật, từ đó nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Kết quả này đã được nhiều nghiên cứu khác nhau xác nhận, khẳng định tính khả thi và hiệu quả của kỹ thuật trong điều trị ung thư gan.

III. Đánh giá và triển vọng của kỹ thuật KSCLCG

Kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson không chỉ mang lại lợi ích trong việc giảm thiểu biến chứng mà còn mở ra hướng đi mới trong điều trị ung thư gan. Việc áp dụng kỹ thuật này trong thực tiễn đã cho thấy những kết quả khả quan, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục nghiên cứu và cải tiến để nâng cao hiệu quả. Các chuyên gia y tế khuyến nghị cần có thêm các khóa đào tạo chuyên sâu cho các phẫu thuật viên để đảm bảo kỹ thuật được thực hiện đúng cách. Hơn nữa, việc nghiên cứu thêm về các biến chứng và cách phòng ngừa cũng là điều cần thiết để tối ưu hóa kết quả điều trị.

3.1. Triển vọng trong tương lai

Với sự phát triển không ngừng của y học, kỹ thuật KSCLCG hứa hẹn sẽ trở thành một tiêu chuẩn trong điều trị ung thư tế bào gan. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc cải thiện quy trình phẫu thuật, cũng như đánh giá lâu dài về hiệu quả của kỹ thuật. Sự hợp tác giữa các trung tâm y tế trong và ngoài nước sẽ giúp nâng cao chất lượng điều trị, từ đó mang lại lợi ích cho bệnh nhân. Kỹ thuật này không chỉ giúp cải thiện tỷ lệ sống sót mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân sau phẫu thuật.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Phân chia gan và giải phẫu vùng cuống gan 1. Phân chia gan Qua nhiều công trình NC có giá trị về giải phẫu gan, người ta nhận thấy có thể phân chia gan thành các phần nhỏ. Có 4 khe chính để làm mốc phân chia gan: - Khe chính hay khe dọc giữa: trong khe này có TM gan giữa.

- Khe phải: trong khe có TM gan phải. - Khe rốn: được xác định trên mặt hoành là chỗ bám của dây chằng liềm và ở mặt tạng bởi khe dây chằng tròn và khe dây chằng TM. - Khe bên trái: trong khe có TM gan trái. Có 3 cách phân chia gan chính thường được các tác giả đề cập đến là: Phân chia gan của Healey và Schroy (Anh-Mỹ) năm 1953, Couinaud (Pháp) năm 1957 và của Tôn Thất Tùng năm 1963 [15].

Năm 1986 Takasaki đưa ra cách phân chia gan dựa theo chi phối của cuống Glisson ngoài gan [6]. Hội nghị gan mật tụy quốc tế tại Brisbane năm 2000 đã đưa ra một số khuyến nghị về thuật ngữ trong phân chia gan như: PT là đơn vị giải phẫu nhỏ nhất (Tôn Thất Tùng gọi là hạ phân thùy (HPT)), sử dụng số Ả-rập (1, 2.) thay cho số La mã (I, II.), trên PT là phân khúc. Tuy nhiên, nhiều tác giả trên thế giới và tại Việt Nam vẫn sử dụng thuật ngữ PT, HPT và khái niệm vị trí theo Tôn Thất Tùng. Luận án này sử dụng thuật ngữ theo phân chia gan của Tôn Thất Tùng và số Ả-rập để xác định tên HPT.

Phân chia gan của Healey và Schroy + Năm 1953, Healey và Schroy [16] qua NC 100 tiêu bản ăn mòn đường mật trong gan, chia gan thành 2 thuỳ phải và trái ngăn cách nhau bởi khe gian thuỳ. Thùy phải lại phân chia thành 2 PT: trước và sau ngăn cách bởi luan an 4 khe PT phải. Thùy trái phân chia thành 2 PT: giữa và bên ngăn cách nhau bởi khe PT trái. Phân chia gan theo Healey và Schroy Nguồn: Healey và Schroy [16] + Năm 1957, Goldsmith và Woodburne cũng tán thành với cách chia PT gan theo sự phân bố đường mật trong gan của Healey và Schroy nhưng không chia PT giữa thành 2 diện nhỏ và PT bên theo một rãnh chếch.

Phân chia gan theo Couinaud Couinaud sử dụng sự phân chia TM cửa để phân chia gan. Cách phân chia như sau: - Gan được chia thành nửa gan phải và nửa gan trái qua khe giữa. - Mỗi nửa gan được chia làm 2 phần gọi là khu vực. Khu vực phải gồm khu vực bên phải và khu vực cạnh giữa phải.

Khu vực trái gồm khu vực bên trái và khu vực cạnh giữa trái. - Thùy đuôi cổ điển được xếp thành khu vực lưng riêng biệt. - Các khu vực được chia làm 2 phần (trừ khu vực lưng và khu vực bên trái) gọi là các PT đánh số thứ tự từ I đến VIII. luan an 5 Hình 1.

Phân chia gan theo Couinaud Nguồn: C. Tôn Thất Tùng Tôn Thất Tùng (1963) [15] sử dụng các khe đã được các tác giả khác mô tả để phân chia gan, bao gồm: - Ba khe chính là khe giữa, khe bên phải và khe rốn. - Các khe phụ là khe bên trái, khe phụ giữa gan phải. Theo Tôn Thất Tùng, cách phân chia và thuật ngữ gọi tên như sau: - Chữ “thùy” dùng để chỉ hai thùy gan phải và trái cổ điển, cách nhau bởi khe rốn.

- “Nửa gan phải và nửa gan trái”dùng để chỉ hai phần gan được dẫn lưu bởi ống gan phải và ống gan trái, cách nhau bởi khe giữa gan. - Nửa gan phải được chia thành hai PT: PT trước và PT sau, cách nhau bởi khe bên phải. Nửa gan trái được chia thành: PT giữa và PT bên, cách nhau bởi khe rốn. - Thùy đuôi cổ điển được giữ nguyên và gọi là PT lưng.

- Các PT lại chia thành các HPT đánh số từ 1 dến 8 (tương ứng với các PT của Couinaud). luan an 6 Hình 1. Phân chia gan theo Tôn Thất Tùng Nguồn: Tôn Thất Tùng [15] 1. Takasaki Tại cuống gan: đường mật, ĐM gan, TM cửa là ba thành phần riêng biệt khi đến rốn gan thì được bao Glisson bao bọc cả ba thành phần này tạo thành cuống Glisson đi vào nhu mô gan.

Như vậy, cách chia này chỉ khác về gọi tên các PT, còn HPT tương tự Tôn Thất Tùng. Trong phẫu thuật, việc cắt gan theo giải phẫu là cắt bỏ vùng gan cùng với cuống Glisson tương ứng. Do vậy, khi tổn thương khu trú trong HPT hoặc PT chúng ta có thể cắt gan PT hoặc HPT theo đúng giải phẫu, lấy hết tổn thương, vẫn đảm bảo về nguyên tắc ung thư học mà không cần thiết phải cắt gan lớn gây nhiều nguy cơ tai biến và biến chứng đặc biệt là suy gan sau mổ. Ngoài ra, trong ghép gan dựa vào phân chia gan chúng ta cũng có thể chia gan để ghép hoặc lấy một phần gan từ người cho sống để ghép [18].

luan an 7 Hình 1. Phân chia gan theo Takasaki Nguồn: Takasaki [11] Bảng 1. So sánh phân chia gan theo các tác giả Couinaud Tôn Thất Tùng Takasaki PT VI PT sau PT phải PT VII Gan phải PT V Thùy phải PT trước PT giữa PT VIII PT IV PT giữa Gan trái (4A &4B) PT trái PT 3 Thùy trái PT bên PT II Thùy đuôi Gan sau HPT I PT đuôi Vùng đuôi 1. Đặc điểm giải phẫu vùng cuống gan liên quan đến cắt gan Những thành phần chính thường được đề cập đến trong giải phẫu ngoại khoa cuống gan đó là: TM cửa, ĐM gan, đường mật và vùng rốn gan.

Động mạch gan Theo Trịnh Văn Minh NC trên 120 mẫu phẫu tích gan thấy có ba nhóm biến thể giải phẫu của ĐM gan ngoài gan [19] (Hình 1. Trong đó thường gặp là ngành phải ĐM gan cấp máu cho gan phải có nguồn gốc từ ĐM mạc treo tràng trên, còn ngành trái ĐM gan cấp máu cho gan trái có nguồn gốc từ ĐM vị trái. luan an 8 Hình 1. Biến thể giải phẫu của động mạch gan ngoài gan Nguồn: Theo Trịnh Văn Minh (2007) [19] Khi thực hiện cắt gan, việc nhận biết các ĐM cấp máu cho các vùng của gan là vô cùng quan trọng.

Một dấu hiệu giá trị là các ĐM nằm bên phải ống mật thì thường cấp máu cho gan phải nhưng ĐM nằm bên trái ống mật thì có thể cấp máu cho bên đối diện. Tĩnh mạch cửa Bất thường của TM cửa trong gan hiếm khi gặp. Loại bất thường phổ biến nhất là không có ngành phải của TM cửa, các nhánh TM cửa trước phải và sau phải xuất phát trực tiếp từ thân TM cửa. Khi đó nhánh trước phải sẽ nằm khá cao phía trên cửa gan và có thể sẽ không nhìn thấy được.

Phẫu thuật viên (PTV) có thể nhầm lẫn giữa nhánh TM cửa sau phải với ngành phải TM cửa trong trường hợp này nếu không chú ý [20]. luan an 9 Hình 1. Móc Hjortso Nguồn: Hjortso.rauberg (2008)[20] Một biến thể khác cực kỳ hiếm gặp và có thể gây hậu quả nghiêm trọng nếu không được phát hiện là ngành trái TM cửa nằm ngoài gan. Trong bất thường này, ngành phải TM cửa đồng thời cũng là thân TM cửa đi vào gan, đi về bên phải sau đó vòng bên trong nhu mô gan để cấp máu cho gan trái.

Về vị trí thân TM cửa nằm ở vị trí tương tự ngành phải TM cửa nhưng có kích thước lớn hơn [20]. Cắt ngang qua trong trường hợp này sẽ làm gián đoạn hoàn toàn nguồn cấp máu của gan từ hệ TM cửa. Đây là bất thường luôn luôn phải được phát hiện trước mổ bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh(CĐHA). Hệ thống đường mật Đường mật gan phải: Đường mật gan phải được cấu tạo từ các ống mật HPT hợp lưu với nhau thành ống mật tiểu phần, rồi các ống này tiếp tục hợp lưu thành ống gan phải.

Một đặc điểm giải phẫu quan trọng của hệ thống đường mật gan phải là Móc Hjortsjo tức là hiện tượng ống mật tiểu phần sau phải bắt chéo qua nguyên ủy của TM cửa tiểu phần trước phải. Trong phẫu thuật, việc kẹp quá luan an 10 gần vị trí chia nhánh của ngành phải TM cửa có thể làm tổn thương cấu trúc này. Theo Trịnh Hồng Sơn, tỉ lệ gặp bất thường này là 43/130, còn theo Hjortso tỉ lệ gặp là 69/100 [12]. Không có ống gan phải Nguồn: Theo Strauberg (2008) [20] Biến thể giải phẫu quan trọng của đường mật gan phải liên quan tới cắt gan là hiện tượng không có ống gan phải.

Bất thường này khá phổ biến, các ống mật gan phải đổ trực tiếp vào ống gan trái có thể là ống mật PT sau hoặc PT trước. Tỉ lệ gặp các bất thường này của Couinaud là 24,6%, của Trịnh Hồng Sơn là 17,2% [12]. Trường hợp vị trí đổ vào ống gan trái của các ống này lệch trái so với mặt phẳng giữa PTV có thể gây tổn thương cho đường mật gan phải khi thực hiện thủ thuật thắt đường mật trong phẫu thuật cắt gan trái. Để tránh điều này, việc thắt đường mật trong phẫu thuật cắt gan trái cần được thực hiện sát vị trí dây chằng liềm.

Đường mật gan trái: Các bất thường quan trọng của đường mật gan trái bao gồm các biến thể về vị trí đổ vào của nhánh đường mật HPT 4 và bất thường hợp lưu của các nhánh đường mật HPT 2,3. luan an 11 Hình 1. Bất thường đường mật gan trái Nguồn: Theo Strauberg (2008) [20] 1. Giải phẫu vùng rốn gan Tại cuống gan, đường mật, ĐM gan, TM cửa, mạch bạch huyết và thần kinh là các thành phần riêng biệt khi đến rốn gan thì được bao Glisson bọc lại thành cuống Glisson đi vào nhu mô gan.

Bao Glisson tiếp tục bọc các thành phần này trong nhu mô gan. Giải phẫu rốn gan Nguồn: Blumgart [21] luan an 12 Ở vùng rốn gan, bao Glisson dày lên phủ rốn gan, giường túi mật, rãnh rốn và rãnh dây chằng TM. Bờ trước trên của vùng rốn gan có thể giải phóng tách khỏi nhu mô gan mà không gây tổn thương mạch máu [11],[21]. Trong vùng rốn gan có chứa vòng nối giữa ĐM gan phải và trái.

Mọi biến đổi giải phẫu đều nằm ở rốn gan, do vậy sự hiểu biết về giải phẫu rốn gan giúp các PTV dễ dàng bộc lộ các cuống Glisson phải, cuống Glisson trái, cuống PT trước, cuống PT sau mà không gây tổn thương các thành phần trong cuống gan, đặc biệt là đường mật. Chẩn đoán ung thư tế bào gan 1. Chẩn đoán xác định UTBG là tổn thương ác tính thường xuất hiện trên nền gan xơ, ngoài tiêu chuẩn vàng là sinh thiết có tế bào ung thư người ta còn có các tiêu chuẩn chẩn đoán cho phép khẳng định là UTBG.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Ứng dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson trong cắt gan điều trị ung thư tế bào gan" của tác giả Trịnh Quốc Đạt, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Tiến Quyết, được thực hiện tại Trường Đại Học Y Hà Nội vào năm 2019. Bài nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng kỹ thuật kiểm soát cuống Glisson trong phẫu thuật cắt gan, nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân mắc ung thư tế bào gan. Kỹ thuật này không chỉ giúp giảm thiểu biến chứng mà còn cải thiện khả năng phục hồi sau phẫu thuật, mang lại lợi ích lớn cho người bệnh.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp điều trị trong lĩnh vực y học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như "Nghiên cứu điều trị bảo tồn ung thư nguyên bào võng mạc bằng laser diode", nơi nghiên cứu về các phương pháp điều trị ung thư khác, hay "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp cắt khối tá tụy và nạo hạch trong điều trị ung thư vùng đầu tụy", cung cấp cái nhìn sâu sắc về các kỹ thuật phẫu thuật trong điều trị ung thư. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về "Luận án tiến sĩ về đặc điểm lâm sàng và điều trị bệnh tăng sinh tủy ác tính giai đoạn 2015-2018", để có cái nhìn tổng quát hơn về các bệnh lý liên quan đến ung thư và phương pháp điều trị hiện đại. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh trong lĩnh vực y học.