Tổng quan nghiên cứu

Sỏi tiết niệu là bệnh lý phổ biến đứng hàng thứ ba trong các bệnh lý ngoại tiết niệu, trong đó tại Việt Nam, sỏi niệu quản chiếm khoảng 28% tổng số các ca sỏi hệ tiết niệu, chỉ đứng sau sỏi thận. Sỏi niệu quản phần lớn hình thành từ thận rồi di chuyển xuống, khi đi qua các vị trí hẹp sinh lý thường bị mắc kẹt lại tại đoạn một phần ba giữa và một phần ba dưới. Tình trạng này gây cản trở dòng chảy nước tiểu, dẫn đến các biến chứng nguy hiểm như thận ứ nước, viêm thận bể thận, ứ mủ và suy giảm chức năng thận không hồi phục. Do đó, việc can thiệp loại bỏ sỏi nhanh chóng, triệt để và an toàn là yêu cầu cấp thiết hàng đầu trong thực hành ngoại khoa tiết niệu.

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu chính là đánh giá kết quả điều trị sỏi niệu quản đoạn một phần ba giữa và một phần ba dưới bằng phương pháp nội soi ngược dòng sử dụng năng lượng laser Holmium tại Bệnh viện Đa khoa huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn từ tháng 06/2018 đến tháng 06/2020. Đồng thời, đề tài tập trung phân tích sâu các yếu tố lâm sàng, cận lâm sàng ảnh hưởng đến tỷ lệ thành công của kỹ thuật. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với hệ thống y tế cơ sở, chứng minh năng lực triển khai kỹ thuật cao ít xâm lấn tại tuyến huyện với tỷ lệ tán sỏi thành công đạt trên 96%, kiểm soát tỷ lệ tai biến dưới 5% và rút ngắn thời gian nằm viện của người bệnh xuống dưới 3 ngày.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết giải phẫu - sinh lý học hệ tiết niệu và cơ chế bệnh sinh của sỏi niệu quản. Niệu quản người trưởng thành có chiều dài từ 25 đến 28 cm, đường kính trong khoảng 3 đến 4 mm, cấu tạo gồm 3 lớp mô học: lớp niêm mạc biểu mô chuyển tiếp, lớp cơ trơn sắp xếp xoắn ốc và lớp bao xơ giàu mạng lưới mạch máu. Niệu quản có 3 vị trí hẹp sinh lý tự nhiên: khúc nối bể thận - niệu quản (đường kính khoảng 2 mm tương đương 6 Fr), vị trí bắt chéo động mạch chậu (đường kính khoảng 4 mm tương đương 12 Fr), và đoạn đổ vào bàng quang (đường kính lỗ niệu quản từ 3 đến 4 mm tương đương 9-12 Fr). Sự dịch chuyển của sỏi thường bị tắc lại tại các điểm hẹp này, gây nên các cơn đau quặn thận điển hình và hội chứng tắc nghẽn đường tiết niệu trên.

Cơ sở kỹ thuật can thiệp áp dụng nguyên lý quang nhiệt và hiệu ứng sóng âm của hệ thống Laser Holmium:YAG bước sóng 2.1 µm. Bức xạ laser này được hấp thụ tối đa bởi các phân tử nước tự do bên trong cấu trúc viên sỏi và môi trường dung dịch rửa (NaCl 0,9%), tạo nên bọt khí plasma nhiệt độ cao trên bề mặt sỏi. Sự giãn nở tức thì của bọt khí sinh ra sóng áp lực vi mô vượt quá sức căng bề mặt của sỏi, phá vỡ liên kết tinh thể thành các hạt bụi mịn có kích thước dưới 0,5 mm mà không làm tổn thương lan tỏa sang lớp niêm mạc niệu quản. Nghiên cứu tích hợp các khái niệm chuẩn mực bao gồm: Phẫu thuật ít xâm lấn (Minimally Invasive Surgery), Nội soi niệu quản ngược dòng (Retrograde Ureterolithotripsy), Dẫn lưu niệu quản bằng ống thông JJ (Double J Stent) và Phân độ giãn thận ứ nước theo chuẩn siêu âm quốc tế.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên toàn bộ đối tượng bệnh nhân được chẩn đoán xác định sỏi niệu quản đoạn một phần ba giữa và một phần ba dưới có chỉ định can thiệp phẫu thuật tại Khoa Ngoại, Bệnh viện Đa khoa huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên từ tháng 06/2018 đến tháng 06/2020. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ được áp dụng, thu thập đầy đủ 100% hồ sơ bệnh án thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu trong 24 tháng nghiên cứu. Cỡ mẫu nghiên cứu thực tế ghi nhận toàn bộ các trường hợp nhập viện thỏa mãn tiêu chuẩn với kích thước sỏi từ 5 mm đến 15 mm, thất bại với điều trị nội khoa hoặc đau nhiều, chức năng thận bình thường hoặc suy thận chức năng độ 1-2 theo phân loại lâm sàng.

Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm các trường hợp sỏi niệu quản một phần ba trên, sỏi kích thước lớn hơn 15 mm, bệnh nhân có hẹp niệu đạo không đặt được máy soi, nhiễm khuẩn niệu cấp chưa kiểm soát, rối loạn đông máu nặng hoặc có bệnh lý toàn thân nghiêm trọng. Toàn bộ quy trình phẫu thuật sử dụng máy soi niệu quản bán cứng Karl Storz 9.5 Fr với hai kênh thao tác, máy phát Laser Holmium Karl Storz công suất xung tối đa 2J tần số 7-8 Hz, dây dẫn đường Guide-wire đường kính 0,8 mm và sonde JJ cỡ 6 Fr. Số liệu thu thập được mã hóa, xử lý và phân tích bằng các phần mềm thống kê y học, sử dụng các thuật toán kiểm định Chi-bình phương (Chi-square test) và kiểm định Fisher với ngưỡng ý nghĩa thống kê được xác lập tại p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận tỷ lệ tiếp cận sỏi và tán sỏi thành công chung đạt 97,5%, trong đó nhóm đạt kết quả phẫu thuật loại tốt (sạch sỏi hoàn toàn, không có tai biến trong mổ) chiếm tỷ lệ 91,2%, nhóm kết quả trung bình (chảy máu nhẹ hoặc trợt xước niêm mạc nhưng tự cầm) chiếm 6,3%, và chỉ có 2,5% trường hợp thất bại phải chuyển đổi phương pháp xử trí do sỏi chạy ngược lên thận hoặc hẹp niệu quản dưới sỏi.

Về đặc điểm sỏi, sỏi niệu quản đoạn một phần ba dưới chiếm tỷ lệ ưu thế với 68,5%, trong khi sỏi đoạn một phần ba giữa chiếm 31,5%. Kích thước sỏi trung bình đo đạc được trên chẩn đoán hình ảnh và trong mổ là 9,4 ± 2,8 mm (dao động từ 5 mm đến 15 mm). Thời gian phẫu thuật trung bình ghi nhận được là 32,5 ± 8,4 phút, ngắn nhất là 15 phút và dài nhất là 65 phút. Thời gian lưu sonde tiểu sau can thiệp trung bình là 24,6 ± 6,2 giờ; số ngày điều trị hậu phẫu trung bình của bệnh nhân đạt 2,4 ± 0,8 ngày.

Đánh giá kết quả sau phẫu thuật 1 tháng tại thời điểm rút ống thông JJ cho thấy: Tỷ lệ sạch sỏi hoàn toàn trên phim chụp X-quang hệ tiết niệu không chuẩn bị (KUB) đạt 98,7%. Mức độ ứ nước của thận trên siêu âm giảm rõ rệt so với trước can thiệp: tỷ lệ thận hết ứ nước hoàn toàn hoặc chỉ còn giãn nhẹ độ 1 chiếm tới 93,8%, chức năng thận (nồng độ Ure và Creatinin huyết thanh) trở về giới hạn sinh lý bình thường ở 100% bệnh nhân có biểu hiện suy thận nhẹ trước mổ.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ thành công 97,5% trong nghiên cứu này hoàn toàn tương thích và đồng thuận với các công bố khoa học uy tín tại các trung tâm niệu khoa lớn trong nước và quốc tế. Cụ thể, các nghiên cứu gần đây tại Việt Nam ghi nhận tỷ lệ sạch sỏi của laser Holmium dao động từ 95,5% đến 98,3% như tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc (98,2%), Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn (98,3%) và Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên (97,7%). Trên thế giới, các tác giả tại Trung Quốc và khu vực châu Âu cũng công bố tỷ lệ thành công khi tán sỏi niệu quản đoạn thấp và đoạn giữa bằng laser Holmium đạt từ 96,0% đến 100%.

Nguyên nhân đạt được tỷ lệ thành công cao bắt nguồn từ các ưu thế vượt trội của nguồn năng lượng Laser Holmium kết hợp với kích thước ống soi 9.5 Fr nhỏ gọn. Năng lượng laser cho phép tán vụn sỏi có độ cứng cao thành bụi mịn mà không gây lực đẩy cơ học lớn làm viên sỏi trôi ngược lên đài bể thận như phương pháp tán sỏi bằng xung hơi cơ học (Pneumatic Lithotripsy). Đồng thời, việc sử dụng dây dẫn đường Guide-wire linh hoạt và kỹ thuật xoay máy soi 180 độ khi đi qua lỗ niệu quản đã giảm thiểu tối đa nguy cơ tổn thương thủng hoặc rách niêm mạc.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng chỉ ra rằng vị trí sỏi và kích thước sỏi có mối liên quan mật thiết đến thời gian phẫu thuật: nhóm sỏi niệu quản một phần ba giữa có thời gian tán sỏi dài hơn nhóm một phần ba dưới trung bình khoảng 7,2 phút; nhóm sỏi kích thước 10-15 mm cần năng lượng tán và thời gian dài hơn nhóm dưới 10 mm (p < 0,05). Tuy nhiên, vị trí và kích thước trong khoảng chỉ định không làm thay đổi đáng kể tỷ lệ sạch sỏi cuối cùng. Các yếu tố như giới tính, độ tuổi và mức độ ứ nước thận trước mổ không có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê tới tỷ lệ thành công của kỹ thuật (p > 0,05).

Dữ liệu lâm sàng được tổng hợp trực quan qua bảng đối chiếu tỷ lệ sạch sỏi theo từng phân đoạn niệu quản và biểu đồ cột biểu diễn diễn tiến phục hồi nhu mô thận trước và sau can thiệp 1 tháng, minh chứng rõ nét cho hiệu quả giải phóng bế tắc đường tiết niệu của phương pháp can thiệp ít xâm lấn này.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật nội soi tán sỏi laser tại tuyến y tế cơ sở: Ban hành và áp dụng thống nhất quy trình chuẩn về việc sử dụng Guide-wire dẫn đường kép trong các ca niệu quản gập góc, duy trì mức năng lượng xung laser ban đầu từ 0,6 đến 1,0 J với tần số 7-8 Hz để tán từ ngoại vi vào tâm sỏi. Mục tiêu duy trì tỷ lệ tán sỏi thành công trên 97% và giảm tỷ lệ trợt niêm mạc xuống dưới 2%. Thời gian thực hiện từ quý I năm 2021 do Khoa Ngoại Bệnh viện Đa khoa huyện Phú Bình chủ trì.
  2. Đào tạo và nâng cao kỹ năng xử trí biến chứng trong mổ cho kíp phẫu thuật: Tổ chức các chương trình đào tạo chuyển giao kỹ thuật chuyên sâu định kỳ 6 tháng một lần, tập trung vào kỹ năng xử lý polyp niệu quản che lấp sỏi bằng cách kết hợp cắt đốt polyp bằng laser, kỹ năng bắt giữ sỏi bằng rọ Dormia khi sỏi di động. Mục tiêu 100% phẫu thuật viên ngoại niệu làm chủ kỹ thuật; triển khai trong giai đoạn 2021-2022 dưới sự phối hợp giữa Bệnh viện Đa khoa huyện Phú Bình và Trường Đại học Y – Dược Thái Nguyên.
  3. Thiết lập quy trình quản lý và theo dõi bệnh nhân có đặt ống thông JJ: Xây dựng hệ thống nhắc lịch hẹn tái khám rút sonde JJ tự động qua hệ thống thông tin bệnh viện sau can thiệp 4 tuần, kết hợp siêu âm kiểm tra lưu thông đường tiểu và xét nghiệm chức năng thận. Mục tiêu đạt 100% bệnh nhân được rút sonde JJ đúng thời hạn, loại trừ hoàn toàn nguy cơ đọng sỏi quanh ống thông; thực hiện thường quy từ năm 2021 do Phòng Kế hoạch tổng hợp và Khoa Khám bệnh điều phối.
  4. Bảo trì và nâng cấp đồng bộ trang thiết bị nội soi tán sỏi: Thực hiện chế độ kiểm định, bảo dưỡng định kỳ hàng quý đối với nguồn phát laser, hệ thống camera phẫu trường và dây dẫn sợi quang; lập kế hoạch đầu tư thêm hệ thống ống soi niệu quản mềm trong giai đoạn 2022-2025. Mục tiêu bảo đảm độ sẵn sàng của máy móc đạt 99,5%, nâng cao tuổi thọ thiết bị do Phòng Vật tư - Thiết bị y tế bệnh viện thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Bác sĩ chuyên khoa Ngoại Tiết niệu tuyến huyện và tuyến tỉnh: Nắm bắt chi tiết các bước kỹ thuật thao tác lâm sàng, cách xử lý các tình huống khó khăn như lỗ niệu quản hẹp, u tuyến tiền liệt thùy giữa chèn ép hoặc sỏi bám dính niêm mạc dạng polyp.
  • Học viên sau đại học (Bác sĩ Chuyên khoa I, Chuyên khoa II, Bác sĩ Nội trú, Thạc sĩ Y học): Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu lâm sàng ngoại khoa, cách xây dựng các tiêu chí đánh giá kết quả phẫu thuật và phân tích thống kê y sinh học.
  • Lãnh đạo bệnh viện và nhà quản lý y tế tuyến cơ sở: Tiếp cận dữ liệu thực chứng về tính khả thi, hiệu quả kinh tế y tế và độ an toàn khi đầu tư triển khai kỹ thuật phẫu thuật nội soi tán sỏi laser tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện.
  • Bác sĩ đa khoa và Bác sĩ nội tiết niệu: Nâng cao kiến thức chẩn đoán, xác định chính xác các tiêu chuẩn chỉ định - chống chỉ định can thiệp nội soi tán sỏi ngược dòng, từ đó thực hiện tư vấn, chuyển tuyến và theo dõi chăm sóc bệnh nhân sau mổ đúng phác đồ.

Câu hỏi thường gặp

Ưu điểm vượt trội của tán sỏi niệu quản bằng Laser Holmium so với tán sỏi bằng xung hơi là gì?
Laser Holmium sử dụng hiệu ứng quang nhiệt với bước sóng 2.1 µm, có khả năng tán vụn mọi loại sỏi có thành phần hóa học khác nhau thành bụi mịn dưới 0,5 mm. Khác với xung hơi tạo lực cơ học mạnh dễ làm sỏi bay ngược lên thận, laser tán êm ái, hạn chế tối đa nguy cơ thủng niệu quản và rút ngắn thời gian mổ còn khoảng 30-35 phút.

Những trường hợp nào chống chỉ định thực hiện nội soi ngược dòng tán sỏi bằng laser?
Chống chỉ định tuyệt đối bao gồm bệnh nhân có hẹp niệu đạo không đặt được máy soi, nhiễm khuẩn tiết niệu đang tiến triển chưa kiểm soát, rối loạn đông máu nặng hoặc dị dạng cơ xương khớp không nằm được tư thế sản khoa. Đối với sỏi niệu quản một phần ba trên kích thước lớn hơn 15 mm, can thiệp nội soi bán cứng có nguy cơ đẩy sỏi lên thận cao nên cần cân nhắc các phương pháp khác.

Tại sao phải đặt sonde JJ sau khi tán sỏi và thời gian lưu ống thông là bao lâu?
Sonde JJ có chức năng nong rộng lòng niệu quản, chống phù nề niêm mạc, đảm bảo dòng chảy lưu thông nước tiểu thông suốt từ thận xuống bàng quang và ngăn ngừa biến chứng chít hẹp niệu quản về sau. Theo quy trình nghiên cứu chuẩn, ống thông JJ được lưu trong cơ thể và hẹn rút sau phẫu thuật đúng 4 tuần (khoảng 30 ngày).

Phương pháp này có thể áp dụng an toàn tại các bệnh viện tuyến huyện hay không?
Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa huyện Phú Bình đã chứng minh kỹ thuật này hoàn toàn khả thi và an toàn tại tuyến huyện với tỷ lệ thành công đạt 97,5% và tỷ lệ tai biến dưới 5%. Điều kiện tiên quyết là đơn vị cần được trang bị dàn máy nội soi, máy laser chuyên dụng và kíp phẫu thuật được đào tạo bài bản.

Bệnh nhân cần chuẩn bị những gì trước khi tiến hành phẫu thuật nội soi tán sỏi?
Người bệnh cần hoàn thành đầy đủ các xét nghiệm đánh giá chức năng đông máu, chức năng thận, chụp X-quang hệ tiết niệu và siêu âm ổ bụng. Bệnh nhân phải nhịn ăn uống tuyệt đối tối thiểu 6 giờ trước phẫu thuật, được thụt tháo làm sạch đại tràng và sử dụng kháng sinh dự phòng tĩnh mạch trước mổ nhằm ngăn chặn triệt để nguy cơ nhiễm khuẩn ngược dòng.

Kết luận

  • Hiệu quả điều trị vượt trội: Kỹ thuật nội soi ngược dòng tán sỏi bằng Laser Holmium đạt tỷ lệ thành công 97,5% trên nhóm bệnh nhân sỏi niệu quản đoạn một phần ba giữa và một phần ba dưới.
  • Tính an toàn và ít sang chấn: Thời gian can thiệp ngắn (trung bình 32,5 phút), thời gian nằm viện chỉ 2,4 ngày, tỷ lệ biến chứng thấp dưới 5% và không ghi nhận các tai biến nặng nề như đứt niệu quản hay thủng lớn.
  • Giá trị học thuật và thực tiễn: Khẳng định sự tối ưu của năng lượng Laser Holmium và máy soi bán cứng 9.5 Fr trong điều trị sỏi niệu quản, làm cơ sở khoa học cho việc nhân rộng kỹ thuật tại các bệnh viện tuyến cơ sở.
  • Định hướng phát triển kỹ thuật: Kế hoạch tiếp tục hoàn thiện năng lực can thiệp chuyên sâu, tiến tới triển khai hệ thống nội soi ống mềm tán sỏi niệu quản một phần ba trên và sỏi đài bể thận trong giai đoạn 2021-2025.
  • Khuyến nghị hành động: Các cơ sở y tế tuyến huyện đủ điều kiện nhân lực và trang thiết bị cần chủ động triển khai thường quy phương pháp nội soi tán sỏi laser nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, giảm tải cho tuyến trên và tối ưu hóa lợi ích phục hồi sức khỏe cho người bệnh.