LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong điều kiện nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển nhƣ hiện nay, Việt Nam đã là một trong những thành viên của Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO). Khi bƣớc chân vào WTO, Việt Nam đƣợc đánh giá là một nƣớc đang phát triển nhƣng rất khan hiếm về nguồn nhân lực cũng nhƣ về mặt tài chính. Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành điều chỉnh các chính sách kinh tế nhằm góp phần mở ra nhiều cơ hội trong việc kinh doanh.
Bên cạnh những cơ hội, còn có những khó khăn và thách thức trong quá trình hội nhập, nhất là các doanh nghiệp sản xuất, trƣớc những thách thức là sự cạnh tranh khốc liệt của các doanh nghiệp. Đứng trƣớc tình thế đó, nếu các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển trên thị trƣờng thì doanh nghiệp cần phải biết nắm bắt nhu cầu của thị trƣờng môt cách nhanh chóng và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình. Muốn vậy, các nhà quản trị cần phải nắm rõ đƣợc thông tin về việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm phục vụ công tác quản lý, quản trị doanh nghiệp. Vì vậy nhu cầu sử dụng thông tin ngày càng gia tăng, nhất là thông tin kế toán.
Thông tin kế toán là một trong những dữ liệu quan trọng hỗ trợ các nhà quản trị phân tích tình hình kinh doanh và tình hình tài chính. Kế toán là một hệ thống xử lý và truyền đạt thông tin, là công cụ hỗ trợ hữu ích trong việc sản xuất kinh doanh và nhu cầu quản lý của doanh nghiệp. Để hoàn thành và phát huy tốt công tác kế toán, cần phải có công tác KTQTCP. Theo Luật Kế toán Việt Nam, KTQT là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” 1.
KTQTCP luôn giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chiến lƣợc của công ty, nó giúp các nhà quản trị trong việc hoạch 1 Luật Kế toán (2015), Luật số 88/2015/QH13 do Quốc Hội ban hành ngày 20/11/2015, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 1 định, kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh của đơn vị, cung cấp các thông tin nhằm hỗ trợ cho việc sản xuất các sản phẩm với mức chi phí thấp, không chỉ đảm bảo chất lƣợng sản phẩm mà còn giao hàng đúng thời gian quy định. Do vậy, việc quản trị tốt chi phí sản xuất là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, công tác KTQTCP tại các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, khả năng phối hợp giữa các bộ phận chƣa đƣợc tốt nên việc cung cấp thông tin và thu thập đầy đủ dữ liệu còn nhiều hạn chế. Để các nhà quản trị kiểm soát và đƣa ra các quyết định đúng đắn, hợp lý và chính xác nhằm góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao và giúp doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài, tác giả quyết định chọn đề tài khóa luận là “Kế toán quản trị chi phí trong Công ty TNHH Sản xuất – Thƣơng mại – Dịch vụ Bảo hộ lao động Lộc An”.
Mục đích của đề tài là phân tích và đánh giá tình hình quản trị chi phí, bên cạnh đó góp phần đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp. Tổng quan tình hình nghiên cứu 2. Trên thế giới Kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng giúp doanh nghiệp kiểm soát và tiết kiệm chi phí nhằm tăng lợi thế cho doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những chủ đề đƣợc nghiên cứu phổ biến không chỉ riêng ở Việt Nam mà còn trên thế giới.
Trong giới hạn về việc tổng hợp tài liệu, tác giả đã tổng hợp đƣợc một vài nghiên cứu về chủ đề này nhƣ sau: Nghiên cứu của Michiharu Sakurai (1989)2 2 Michiharu Sakurai (1989), Target costing and how to use it, Journal of Cost management, Summer 1989, 39-50 1 Nghiên cứu “Target costing and how to use it” của Michiharu Sakurai đƣợc thực hiện vào năm 1989 với mục đích nghiên cứu về chủ đề chi phí mục tiêu. Tác giả đã nêu: “phƣơng pháp chi phí mục tiêu là một công cụ quản trị chi phí nhằm cắt giảm tổng chi phí sản xuất của sản phẩm trong suốt chu kỳ sống của nó nhờ sự hỗ trợ của các bộ phận sản xuất, chế tạo, nghiên cứu thiết kế, marketing và kế toán”. Theo nghiên cứu này, tác giả còn cho thấy việc kiểm soát chi phí ở giai đoạn sản xuất giúp bảo đảm các sản phẩm đạt mục tiêu lợi nhuận cho doanh nghiệp, từ đó góp phần nâng cao công tác kế toán quản trị chi phí. Nghiên cứu của Monden, Y.
Lee (1993)3 Nghiên cứu “How a Japanese auto maker reduces costs” của hai tác giả Monden và Lee nghiên cứu về kỹ thuật tính giá Kaizen so với phƣơng pháp tính giá tiêu chuẩn của Hoa Kỳ. Thuật ngữ “Kaizen” đƣợc dịch là “cải tiến liên tục”. Chi phí Kaizen là một kỹ thuật của Nhật Bản đƣợc sử dụng trong việc quản lý chi phí vào giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế sản phẩm với mục đích làm giảm chi phí hiện tại bằng cách sử dụng các công cụ cải tiến khác nhau. Theo kết quả nghiên cứu, chi phí Kaizen có thể đƣợc sử dụng trong việc lập kế hoạch, thiết kế và các quy trình khác cũng nhƣ sản xuất, các hoạt động chi phí Kaizen không làm giảm chất lƣợng chung của sản phẩm.
Bên cạnh đó, hai tác giả đã cung cấp thông tin chi tiết liên quan đến chi phí Kaizen và hƣớng dẫn về cách kế toán quản trị có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho một công ty. Nghiên cứu của Monden, Y, (1995)4 3 Monden, Y. (1993), How a Japanese auto maker reduces costs, Management Accounting (August), 22-26 4 Monden, Y, (1995), Cost Reduction Systems: Target Costing and Kaizen Costing. Portland, Oregon, Productivity Press 1 Nghiên cứu “Target Costing and Kaizen Costing” cho thấy việc kết hợp chi phí mục tiêu và kaizen là một cách tiếp cận hiệu quả cho các doanh nghiệp hoạt động trong thị trƣờng cạnh tranh, bằng cách đảm bảo giá trị cho khách hàng ở mức giá thấp nhƣng vẫn có lãi.
Nghiên cứu với ý tƣởng trƣớc tiên là thiết kế dự án với mức chi phí cho phép bao gồm sự khác biệt giữa giá mục tiêu đáp ứng kỳ vọng của khách hàng và lợi nhuận mong muốn. Các can thiệp giảm chi phí không nên chỉ giới hạn trong giai đoạn thiết kế, họ tiến hành giai đoạn xây dựng, nơi cần có một loạt hoạt động cải tiến liên tục để đạt đƣợc hiệu suất sản phẩm cao và đồng thời đảm bảo giá trị cho khách hàng với chi phí thấp hơn, từ đó tạo ra một hệ thống quản lý chi phí hiệu quả trong suốt vòng đời của sản phẩm. Nghiên cứu của Cadez và Guilding (2008)5 Nghiên cứu “An exploratory investigation of an integrated contingency model of strategic management accounting” của Cadez và Guilding sử dụng thông tin chi phí nhằm giúp doanh nghiệp có thể xác định chiến lƣợc phát triển một cách hiệu quả và tạo ra lợi thế cạnh tranh vững chắc. Nghiên cứu này còn xem xét tiềm năng để kế toán quản trị tham gia nhiều hơn vào quá trình quản lý chiến lƣợc để hỗ trợ việc ra quyết định và kiểm soát quản lý.
Tại Việt Nam KTQT là việc thu thập, xử lý, phân tích thông tin, số liệu kế toán chính xác nhằm hỗ trợ các nhà quản trị sử dụng thông tin một cách đúng đắn song đề xuất các giải pháp để phục vụ yêu cầu quản trị và ra quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. Thông tƣ số 53/2006/TT-BTC6 ngày 12/06/2006 của Bộ Tài chính về việc “Hƣớng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp”, chuẩn mực này hƣớng dẫn việc áp dụng 5 Cadez và Guilding (2008), An exploratory investigation of an integrated contingency model of strategic management accounting, Accounting, Organizations and Society, 33 (7-8), 836-863 1 kế toán quản trị trong doanh nghiệp nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. KTQT là công việc mà mỗi doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện để làm bƣớc đệm trong công tác quản lý doanh nghiệp. Bên cạnh đó, ngƣời làm nghề kế toán quản trị cũng cần phải tuân thủ Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán để công tác KTQT đƣợc thực hiện một cách hiệu quả.
Nghiên cứu của Trần Văn Dung (2002)7 Nghiên cứu “Tổ chức kế toán quản trị và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam” đã nêu lên bản chất của KTQT trong nhu cầu cung cấp thông tin, phân tích làm rõ cơ sở lý luận về tổ chức KTQTCP và giá thành trong các doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam, đồng thời đƣa ra các giải pháp hoàn thiện công tác KTQT và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất. Hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất rất đa dạng nhƣng nghiên cứu này đƣợc thực hiện mang tính chung cho các doanh nghiệp sản xuất mà chƣa phân loại theo ngành nghề cụ thể. Nghiên cứu của Hoàng Văn Tƣởng (2010)8 Kết quả của nghiên cứu “Tổ chức kế toán quản trị với việc tăng cƣờng quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam” đƣa ra đƣợc một số đề xuất cho vấn đề tổ chức KTQT nhằm tăng cƣờng năng lực quản lý hoạt động kinh doanh. Luận án cho thấy một mô hình tổ chức KTQT hữu ích phục vụ cho quản trị doanh nghiệp.
Luận án nghiên cứu đƣợc công tác tổ chức KTQT theo mô hình kết hợp ba bộ phận (bộ phận dự toán, bộ phận phân tích, bộ phận tƣ vấn quyết định) với mục 6 Bộ Tài chính (2006), Thông tƣ số 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 “Hƣớng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp” 7 Trần Văn Dung (2002), Tổ chức kế toán quản trị và giá thành trong doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Học viện Tài chính 8 Hoàng Văn Tƣởng (2010), Tổ chức kế toán quản trị với việc tăng cường quản lý hoạt động kinh doanh trong các doanh nghiệp xây lắp Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân 1 đích tăng tính trách nhiệm cũng nhƣ phát huy đƣợc chức năng của KTQT đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trƣờng cạnh tranh hiện nay. Nghiên cứu của Dƣơng Thị Mỹ Hoàng (2011)9 Nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Thép Thái Bình Dƣơng” của tác giả Dƣơng Thị Mỹ Hoàng đề cập đến vấn đề quản trị chi phí tại doanh nghiệp.