CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. 1 Tổng quan nghiên cứu Tác giả Agbejule, Adebayo và Burrowes (2007) đã nghiên cứu đến mối quan hệ giữa việc các nhà quản trị nhận thức được môi trường không chắc chắn và việc sử dụng thông tin hệ thống kế toán quản trị thông qua khảo sát 120 tổ chức tại North – Western Finland. Thông qua nghiên cứu này, các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng mức độ nhận thức về môi trường không chắc chắn càng cao thì các nhà quản trị dễ dàng đối phó với sự thay đổi ngày càng cao để đưa ra các quyết định một cách chính xác hơn. Nghiên cứu một yếu tố khác tác động tới hệ thống kế toán quản trị, tác giả Gary Spraakman đã cho thấy sử dụng hệ thống ERP tích hợp sẽ rất hữu ích cho các công việc như: kiểm soát ngân sách, kiểm soát chi phí, phân tích lợi nhuận, phân tích phương sai.
Tác giả cũng đề cập đến vai trò của kế toán quản trị đã thay đổi, họ không chỉ tham gia vào quá trình nhập liệu đơn giản mà còn tham gia vào thiết kế các quy trình kinh doanh và họ cần phải biết về công nghệ thông tin. Như vậy, có thể kết luận yếu tố công nghệ thông tin đã giúp hệ thống thông tin kế toán quản trị làm việc hiệu quả hơn, đưa ra các quyết định tốt hơn và nắm vững hơn các hành vi trong kế toán. Dựa vào thuyết bất định, một yếu tố trung tâm ảnh hưởng đến cấu trúc tổ chức là thông tin và công nghệ được sử dụng trong tổ chức, trong khi đó hệ thống kế toán quản trị là một thành phần của cấu trúc tổ chức Chenhall (2007). Chenhall và Morris (1986) đã kiểm tra tác động của sự phân cấp cấu trúc, môi trường không chắn chắn được nhận thức, sự phụ thuộc về tổ chức trong thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị.
Thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị được xác định về sự hữu dụng được nhận thức của một vài đặc điểm thông tin có liên kết với một hệ thống thông tin kế toán quản trị. Những đặc điểm này là: phạm vi, tính kịp thời, mức độ tổng hợp và thông tin này sẽ hỗ trợ sự tích hợp. Thêm vào đó, bài nghiên cứu kiểm tra tác động trực tiếp của các biến ngữ cảnh và xác định làm thế nào các biến phụ thuộc bị tương tác. Kết quả chỉ ra rằng: sự phân cấp có liên quan đến một sự ưa thích 7 thông tin được tích hợp và tổng hợp; nhận thức về môi trường không chắc chắn với phạm vi thông tin rộng và thông tin kịp thời; Sự phụ thuộc vào tổ chức với thông tin có phạm vi rộng, được tổng hợp và tích hợp.
Tiếp đến vào năm 1994 các tác giả Gul và Chia (1994) điều tra sự tương tác của các yếu tố sau: Nhận thức về môi trường không chắc chắn (PEU), sự phân cấp (decentralization) và thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị được xác định như nhận thức sẵn có của hai đặc điểm thông tin: phạm vi và mức độ tích hợp. Nghiên cứu được thực hiện tại Singapore với 48 nhà quản lý, hình thức khảo sát bằng các bảng câu hỏi. Kết quả chỉ ra rằng sự phân cấp và sẵn có của hệ thống thông tin kế toán quản trị có liên quan tới kết quả kinh doanh của doanh nghiệp là cao dưới điều kiện là nhận thức môi trường không chắc chắn cao.
Dưới điều kiện nhận thức về môi trường không chắc chắn thấp thì mối quan hệ trên liên quan tới hiệu suất quản trị thấp hơn. Cũng theo Mia, Lokman và Chenhall (1994) kiểm tra vai trò của thông tin ở phạm vi rộng, được tạo ra sẵn bởi hệ thống kế toán quản trị trong việc nâng cao hiệu suất quản trị. Bài nghiên cứu của hai tác giả đề nghị rằng: sự khác nhau của các hoạt động tới các bộ phận như bộ phận thị trường và sản xuất là sự phản ứng của tổ chức để quản lý sự không chắc chắn. Và sự khác nhau giữa các hoạt động sản xuất điều tiết mối quan hệ giữa mức độ các nhà quản lý sử dụng thông tin kế toán quản trị ở phạm vi rộng và hiệu suất.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự liên kết giữa mức độ sử dụng thông tin kế toán quản trị (MAS) ở phạm vi rộng và hiệu suất là mạnh bởi các nhà quản lý của các hoạt động thị trường hơn là các hoạt động sản xuất. Wooldridge (1990) đã tiến hành điều tra sự tham gia vào các chiến lược liên quan tới các nhà quản lý cấp trung ở 20 tổ chức khác nhau. Kết quả cuối cùng cho thấy sự tham gia và quá trình chiến lược gắn liền với cải thiện hoạt động của tổ chức và sự đồng thuận giữa các nhà quản lý cấp trung, được định nghĩa như sự hiểu biết chiến lược chứ không phải đến kết quả hoạt động của tổ chức. Trong bài nghiên cứu này, tác 8 giả đã sử dụng thang đo của bài nghiên cứu để đo lường biến nghiên cứu liên quan trong bài.
Chenhall and Morris (1995), thực hiện nghiên cứu để xem xét ảnh hưởng kết hợp của quyết định thuộc về cơ quan, quá trình truyền thông và hệ thống thông tin kế toán quản trị đến kết quả kinh doanh. Các tác giả đưa ra các giả thuyết như sau: Có sự liên quan giữa kết quả kinh doanh được nâng cao và quyết định thuộc về cơ quan cùng với việc mở rộng sử dụng hệ thống thông tin kế toán quản trị là lớn hơn đáng kể ở các doanh nghiệp so với trong các tổ chức bảo thủ. Và quan trọng là giả thuyết này được ủng hộ khi khảo sát các nhà quản lý của 72 nhà máy. Chong (1996) có một bài nghiên cứu xem xét về vai trò của việc thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị trên mối quan hệ giữa: 1) Đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU) và hiệu suất đơn vị kinh doanh chiến lược, 2) Nhận thức về môi trường không chắc chắn tới hiệu suất đơn vị kinh doanh chiến lược.
Thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị đã được xác định theo mức độ mà nhà quản lý sử dụng thông tin ở phạm vi rộng của hệ thống thông tin kế toán quản trị cho quá trình ra quyết định. Sau khi hoàn thành khảo sát và phân tích số liệu, các tác giả tìm ra rằng chiến lược và nhận thức môi trường không chắc chắn là tiền đề quan trọng trong việc thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị và phạm vi thông tin rộng của hệ thống thông tin kế toán quản trị là một tiền đề quan trọng của kết quả kinh doanh (SBU). Reid và Smith (2000), trong nghiên cứu của mình đã đưa ra 4 giả thuyết liên quan đến lý thuyết bất định của kế toán quản trị được trình bày. Dữ liệu được điều tra trong giai đoạn 1994- 1998.
Trong đó giả thuyết thứ 4 có đề cập đến sự phức tạp của hệ thống thông tin kế toán quản trị được xác định bởi các đơn vị phụ thuộc lẫn nhau, động lực của thị trường và phương pháp làm việc. Giả thuyết này ủng hộ một vài khía cạnh của thuyết bất định. Và trong nghiên cứu này hệ thống thông tin kế toán quản trị là một biến điều tiết. (Williams & Seaman, 2002), khám phá tác động gián tiếp của kế toán quản trị và hệ thống kiểm soát tới kết quả hoạt động kinh doanh qua điều tra 232 nhà máy có quy mô trung bình tại Singapore.
Tác giả giả thuyết rằng kế toán quản trị 9 và hệ thống kiểm soát thay đổi kết quả kinh doanh của doanh nghiệp nhưng chỉ là gián tiếp. Thay vào đó, mối quan hệ này là trung gian thông qua thông tin phù hợp với quản trị (managerial-relevant information MRI), bị tác động bởi sự thay đổi hệ thống thông tin kế toán quản trị và hệ thống kiểm soát, qua đó nâng cao kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kết quả ủng hộ cho tác động gián tiếp tiếp tích cực nâng cao kết quả từ nhiều thông tin phù hợp với quản trị hơn được cải thiện bởi sự thay đổi hệ thống thông tin quản trị và hệ thống kiểm soát. Baines, Annette, và Langfield-Smith (2003) thực hiện đề tài nghiên cứu.
Nghiên cứu này báo cáo lại một khảo sát được thực hiện tại các công ty sản xuất và một loạt các biến thuộc về tổ chức như là các tiền đề dẫn đến sự thay đổi hệ thống thông tin kế toán quản trị. Kết quả chỉ ra rằng: môi trường cạnh tranh ngày càng cao dẫn đến sự tập trung cao độ vào các chiến lược khác biệt hóa sản phẩm. Sau đó đến lượt nó ảnh hưởng đến sự thay đổi trong thiết kế tổ chức, công nghệ sản xuất tiến tiến và thực hành kế toán quản trị tiên tiến tại các tổ chức. Ba thay đổi này đã dẫn đến sự phụ thuộc hơn nữa vào thông tin kế toán phi tài chính, cái mà dẫn đến cải thiện hiệu suất phi tài chính.
Nhận thấy rằng, nghiên cứu về sự thay đổi của hệ thống thông tin kế toán quản trị và vai trò của kế toán được quan tâm rất nhiều cả về định hướng học thuật và nghề nghiệp trong những năm gần đây. Trong đó có bài nghiên cứu: sự thay đổi của kế toán quản trị và thay đổi trong vai trò của kế toán. Yazdifar, Hassan, và Tsamenyi (2005) thực hiện một đề tài với mục đích của bài nghiên cứu này là cung cấp thêm một bằng chứng từ các mẫu được thu thập từ các kế toán quản trị đang làm việc tại các tổ chức độc lập và phụ thuộc tại UK. Với số lượng 1.000 thành viên của CIMA tại UK được chọn ngẫu nhiên từ cơ sở dữ liệu của hiệp hội để tiến hành khảo sát thông qua các câu hỏi.
Trong số những người được hỏi có 279 là kế toán quản trị có trình độ chuyên môn cao từ các tổ chức độc lập và phụ thuộc. Nghiên cứu này đã đưa ra một cái nhìn sâu sắc về hệ thống thông tin kế toán quản trị và sự thay đổi trong vai trò của kế toán quản trị. Các tác giả đã tiến hành kiểm định các giả thuyết rằng: Sự khác biệt đáng kể sẽ tồn 10 tại trong nhận thức giữa hai nhóm. Kết quả cuối cùng của nghiên cứu cho thấy các giả thuyết về vấn đề này được ủng hộ (support) yếu và có thể được giải thích bởi sự ảnh hưởng của các tổ chức bên ngoài từ bộ phận kiểm soát đứng đầu, những người có vai trò trong việc hình thành nhận thức của kế toán quản trị.