phần mở đầu và kết luận còn có ba phần chính: Phần I Lý luận cơ bản về hạch toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp thương mại. Phần II Thực trạng kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại công ty cổ phần hỗ trợ phát triển tin học – HIPT. Phần III Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hạch toán bán hàng và nâng cao hiệu quả kinh doanh tại công ty cổ phần hỗ trợ phát triển tin học – HIPT. Nguyễn Thị Thanh Mai LỚP KẾ TOÁN 41D Luận văn tốt nghiệp 3 Phần I: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HẠCH TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH. Bán hàng và ý nghĩa của hoạt động bán hàng trong nền kinh tế quốc dân. Bán hàng hay còn gọi là tiêu thụ hàng hoá là quá trình thực hiện trao đổi hàng hoá, dịch vụ thông qua các phương tiện thanh toán để thực hiện giá trị của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ. Trong quá trình đó doanh nghiệp chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá, thành phẩm, dịch vụ cho khách hàng, còn khách hàng phải trả cho doanh nghiệp một khoản tiền tương ứng với giá bán của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đó theo giá thoả thuận hoặc chấp nhận thanh toán.
Bán hàng là quá trình chuyển hoá vốn từ thành phẩm, hàng hoá sang vốn bằng tiền và hình thành kết quả, là giai đoạn của quá trình tuần hoàn vốn ( H – T – H ). Chức năng chủ yếu của doanh nghiệp thương mại là thực hiện kinh doanh lưu chuyển hàng hoá bao gồm các khâu: Mua vào dự trữ và bán ra nhằm phục vụ tiêu dùng xã hội. Trong quá trình lưu chuyển hàng hoá, bán ra là khâu giữ vị trí quan trọng, là khâu trực tiếp thực hiện nhiệm vụ kinh doanh của doanh nghiệp, còn mua vào và dự trữ là nhằm cho việc bán ra được thường xuyên liên tục. Mua vào và dự trữ là một trong những nhân tố đẩy mạnh bán ra và ngược lại việc đẩy mạnh bán ra cũng tác động trở lại các khâu này làm cho hoạt động kinh doanh được thông suốt.
Có thể nói quản lý quá trình bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là cơ sở quyết định sự thành bại của doanh nghiệp. Nguyễn Thị Thanh Mai LỚP KẾ TOÁN 41D Luận văn tốt nghiệp 4 Đối với bản thân doanh nghiệp có bán được hàng thì mới có thu nhập để bù đắp chi phí bỏ ra và hình thành kết quả kinh doanh. Thực hiện tốt khâu bán hàng, hoàn thành kế hoạch bán hàng doanh nghiệp mới thu hồi được vốn, có điều kiện để quay vòng vốn tiếp tục quá trình kinh doanh của mình. Ngược lại nếu không bán được, hàng hoá ế đọng, ứ thừa thì vốn kinh doanh sẽ không có khả năng thu hồi, thu nhập không đủ để bù đắp chi phí, dẫn tới làm ăn thua lỗ, doanh nghiệp có nguy cơ lâm vào tình trạng phá sản.
Đối với người tiêu dùng, quá trình bán hàng sẽ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Chỉ có thông qua quá trình tiêu thụ thì tính hữu ích của hàng hoá mới được thực hiện, mới được xác định hoàn toàn về số lượng, chất lượng, chủng loại, thời gian và sự phù hợp thị hiếu tiêu dùng đồng thời vốn của doanh nghiệp cũng được chuyển hình thái hiện vật sang hình thái giá trị. Doanh nghiệp thu hồi được vốn bỏ ra, bù đắp chi phí và có nguồn tích luỹ để mở rộng kinh doanh. Như vậy, bán hàng là khâu vô cùng quan trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp thương mại, nó là cơ sở là tiền đề cho sự tồn tại và phát triển không chỉ đối với doanh nghiệp thương mại mà còn đối với bất kỳ doanh nghiệp nào tiến hành sản xuất kinh doanh.
Nhờ đó mà doanh nghiệp có thể tự đánh giá được hàng hoá của mình kinh doanh và sản xuất được chấp nhận được ở mức độ nào. Xuất phát từ sự cần thiết của quá trình bán hàng trong kinh doanh, hạch toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh cũng là phần hành kế toán được đặc biệt quan tâm, giữ vị trí quan trọng trong toàn bộ công tác kế toán của doanh nghiệp. Do vậy, nhận thức đúng đắn và đầy đủ vai trò kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là cần thiết cho mỗi cán bộ kế toán trong việc phát triển và tăng lợi nhuận. Để đạt được kết quả kinh doanh cao nhất thì hạch toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh là điều kiện tốt nhất để cung cấp các thông tin cần thiết giúp cho chủ doanh nghiệp, giám đốc điều hành có thể phân tích đánh giá và lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh, phương án đầu tư có hiệu quả Nguyễn Thị Thanh Mai LỚP KẾ TOÁN 41D Luận văn tốt nghiệp 5 nhất.
Để đạt được mục tiêu đó khâu bán hàng cần phải hạch toán chặt chẽ, khoa học, xác định kết quả kinh doanh của từng mặt hàng, từng bộ phận và trong doanh nghiệp kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh phải cung cấp những thông tin chính xác, kịp thời cho lãnh đạo doanh nghiệp để từ đó có được những quyết định sát với tình hình thực tế bán hàng tại doanh nghiệp. Các phương thức bán hàng chủ yếu. * Bán buôn: Bán buôn hàng hoá là phương thức bán cho các đơn vị thương mại, các doanh nghiệp sản xuất…để thực hiện bán ra hoặc để gia công, chế biến bán ra. Hàng thường được bán theo lô hoặc bán với số lượng lớn.
Giá bán biến động tuỳ thuộc vào khối lượng hàng bán và phương thức thanh toán. Bán buôn gồm hai phương thức: bán buôn qua kho và bán buôn vận chuyển thẳng. Bán buôn hàng hoá qua kho là phương thức bán buôn hàng hoá mà trong đó, hàng bán phải được xuất từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Bán buôn hàng hoá qua kho có thể thực hiện dưới hai hình thức: Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp và bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng.
Bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng là phương thức bán buôn mà trong đó, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, không đưa về nhập kho mà chuyển thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện dưới hai hình thức: Bán buôn hàng hoá vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán và không tham gia thanh toán. Trong bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán lại gồm hai hình thức: Giao hàng trực tiếp và chuyển hàng. * Bán lẻ: Bán lẻ hàng hoá là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ.
Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc số Nguyễn Thị Thanh Mai LỚP KẾ TOÁN 41D Luận văn tốt nghiệp 6 lượng nhỏ, giá bán thường ổn định. Bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình thức: bán lẻ thu tiền tập chung, bán lẻ thu tiền trực tiếp, bán lẻ tự phục vụ ( tự chọn ), hình thức bán trả góp, hình thức bán hàng tự động. * bán hàng đại lý hay ký gửi hàng hoá: Là phương thức bán hàng mà trong đó, doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên nhận làm đại lý, ký gửi sẽ trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng hoá hồng đại lý bán.
Số hàng chuyển giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại cho đến khi cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán tiền, chấp nhận thanh toán hoặc thông báo về số hàng đã bán được. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến hạch toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh. * Doanh thu bán hàng: Phản ánh số doanh thu doanh nghiệp thu được do bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ. * Doanh thu thuần: Là khoản chênh lệch của doanh thu bán hàng và các khoản giảm trừ đó là chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và thuế tiêu thụ * Giá vốn hàng bán: phản ánh toàn bộ chi phí cần thiết để mua số hàng bán hoặc để sản xuất số hàng bán đó.
* Lãi gộp: Là chỉ tiêu phản ánh phần còn lại sau khi lấy doanh thu thuần trừ đi giá vốn hàng bán. * Các khoản giảm trừ: là phản ánh các khoản phát sinh làm giảm doanh thu bán hàng trong kỳ. Các khoản giảm trừ theo chế độ hiện hành bao gồm: - Chiết khấu thương mại: Là khoản mà doanh nghiệp đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho người mua hàng khi người mua nhiều hàng đã cam kết ở hợp đồng kinh tế hoặc là chính sách khuyến mại của doanh nghiệp. - Giảm giá hàng bán: Là những khoản như bớt giá, hồi khấu và giảm giá thực sự ( giảm giá đặc biệt ).
Nguyễn Thị Thanh Mai LỚP KẾ TOÁN 41D Luận văn tốt nghiệp 7 - Hàng bán bị trả lại : Phản ánh doanh thu của số hàng đã tiêu thụ nhưng bị người mua trả lại. - Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu: Phản ánh số thuế TTĐB và thuế xuất khẩu phải nộp về lượng hàng đã thực sự tiêu thụ, thực sự xuất khẩu trong kỳ báo cáo. * Lãi sau thuế: Là phần lãi còn lại sau khi đã loại trừ phần lãi phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ CÁC KHOẢN GIẢM TRỪ DOANH THU.
DOANH NGHIỆP HẠCH TOÁN HÀNG TỒN KHO THEO PHƯƠNG PHÁP KÊ KHAI THƯỜNG XUYÊN VÀ TÍNH THUẾ GTGT THEO PHƯƠNG PHÁP KHẤU TRỪ. Các TK sử dụng. * TK156 – Hàng hoá: TK này dùng để phản ánh giá trị hiện có của hàng hoá tồn kho, hàng hoá nhập xuất trong kỳ. Bên Nợ: + Trị giá mua nhập kho trong kỳ + Trị giá hàng thuê gia công nhập kho + Chi phí thu mua hàng hoá + Kết chuyển trị giá hàng tồn cuối kỳ ( Phương pháp KKĐK ) Bên Có: + Trị giá mua nhập kho hàng hoá trong kỳ + Trị giá hàng xuất trả lại người bán + Các khoản bớt giá, giảm giá, hồi khấu hàng mua.
+ Trị giá hàng hoá phát hiện thiếu, hư hỏng, mất phẩm chất. + Trị giá hàng tồn đầu kỳ đã kết chuyển ( phương pháp KKĐK ) Số dư bên Nợ: + Trị giá mua vào của hàng tồn kho. + Chi phí thu mua của hàng tồn kho, hàng gửi bán.