CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng trong doanh nghiệp 1. Một số khái niệm có liên quan Để đi sâu vào nghiên cứu và hiểu được bản chất của kế toán bán hàng thì trước hết ta đi tìm hiểu một số khái niệm cơ bản sau: Khái niệm về bán hàng Khái niệm bán hàng theo giáo trình “Kế toán tài chính doanh nghiệp thương mại”- Trường Đại học Thương Mại, năm 2012, của tác giả Trần Thị Hồng Mai làm chủ biên thì: “Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền được đòi tiền ở người mua”.
Khái niệm bán hàng theo giáo trình phân tích kinh tế DNTM của trường Đại học Thương Mại thì: “ Bán hàng là quá trình trao đổi hàng hóa - tiền tệ trong đó người bán trao hàng cho người mua và người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền cho người bán. Bán hàng là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Nó kết thúc một chu kỳ hoạt động kinh doanh và mở ra một chu kỳ sản xuất kinh doanh mới”. Kế toán bán hàng trong doanh nghiệp với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế, thu nhận xử lý và cung cấp toàn bộ thông tin về hàng hóa và sự vận động của hàng hóa đó trong doanh nghiệp nhằm kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Khái niệm về doanh thu: Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác, ban hành theo quyết định 149 ngày 31/12/2001 của Bộ Tài Chính thì Doanh thu được hiểu như sau: “Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Theo đó, các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, do đó sẽ không được coi là doanh thu. 6 Luan van Theo VAS 01- chuẩn mực chung, doanh thu phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường bao gồm: doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ, tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong năm phát sinh từ các hoạt động tiêu thụ hàng hóa, sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, được khách hàng chấp nhận thanh toán.
Các khoản giảm trừ doanh thu Trong quá trình bán hàng có thể phát sinh các trường hợp đặc biệt làm giảm trừ doanh thu. Chẳng hạn như các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại,. Chiết khấu thương mại (theo chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác): Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. Giảm giá hàng bán (theo chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác): Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
Giá trị hàng bán bị trả lại (theo chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác): Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Chiết khấu thanh toán (theo chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác): Là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng. Thu nhập khác (theo chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác): Là khoản thu góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu từ hoạt động ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu. Giá trị hợp lý (theo chuẩn mực kế toán số 14 - Doanh thu và thu nhập khác): Là giá trị tài sản có thể trao đổi hoặc giá trị một khoản nợ được thanh toán một cách tự nguyện giữa các bên có đầy đủ hiểu biết trong sự trao đổi ngang giá.
Giá vốn hàng bán Theo giáo trình “Kế toán tài chính doanh nghiệp thương mại” trường Đại học Thương Mại, năm 2012, của tác giả Trần Thị Hồng Mai làm chủ biên “Giá vốn hàng 7 Luan van bán là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh giá trị thực tế của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, bất động sản đầu tư đã tiêu thụ trong kỳ”. Giá vốn hàng bán bao gồm: - Giá trị của sản phẩm, hàng hóa đã bán trong kỳ - Số trích lập giảm giá hàng tồn kho - Các khoản hao hụt, mất mát hàng tồng kho sau khi trừ đi phần bồi thường do trách nhiệm cá nhân gây ra. Nguyên tắc quan trọng nhất trong hạch toán giá vốn hàng bán là nguyên tắc nhất quán. Để tính giá thực tế của thành phẩm, hàng hóa xuất kho của doanh nghiệp có nhiều phương pháp để lựa chọn.
Mỗi phương pháp sẽ ra một kết quả khác nhau, do đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doah của doanh nghiệp. Chi phí bán hàng Theo giáo trình “Kế toán tài chính doanh nghiệp thương mại” trường Đại học Thương Mại, năm 2012, của tác giả Trần Thị Hồng Mai làm chủ biên “ Chí phí bán hàng là toàn bộ chi phí liên quan đến việc tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa của doanh nghiệp, bao gồm: chi phí bảo quản, đóng gói, vận chuyển, chi phí chào hàng, giới thiệu, quảng cáo, chi phí hoa hồng đại lý, chi phí bảo hành sản phẩm. Đặc điểm, yêu cầu quản lý và nhiệm vụ kế toán bán hàng trong doanh nghiệp 1. Đặc điểm nghiệp vụ bán hàng trong doanh nghiệp a.
Các phương thức bán hàng trong doanh nghiệp Bán buôn qua kho Là hình thức bán hàng mà hàng hóa, thành phẩm được xuất bán từ kho bảo quản của doanh nghiệp. Cụ thể có hai hình thức sau: + Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này, bên mua cử người đại diện đến kho của DN để nhận hàng. DN phải xuất kho hàng hóa, giao trực tiếp cho người đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, thì hàng hóa thành phẩm mới chấp nhận là đã tiêu thụ.
+ Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã kí kết hoặc theo đơn đặt hàng, DN xuất kho hàng hóa, thành phẩm dùng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuê ngoài, chuyển hàng giao cho bên mua ở một 8 Luan van địa điểm thỏa thuận. Hàng hóa, chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của DN. Hàng hóa chỉ xác nhận là tiêu thụ khi nhận được tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhân thanh toán. Chi phí vận chuyển do DN hay do bên mua chịu là do thỏa thuận từ trước giữa hai bên.
Nếu DN chịu chi phí vận chuyển, sẽ được ghi vào chi phí bán hàng. Nếu bên mua chịu chi phí vận chuyển thì sẽ phải thu tiền của bên mua. Bán buôn vận chuyển thẳng Theo hình thức này, thành phẩm sản xuất xong không nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể hiện theo hai hình thức sau: + Bán hàng vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp: Theo hình thức này, thành phẩm sản xuất xong không nhập kho mà chuyển bán thẳng tại xưởng cho bên mua.
Sau khi giao nhận, đại diện bên mua kí nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác nhận là đã tiêu thụ + Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, thành phẩm sản xuất xong không nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài chuyển hàng đến một địa điểm đã được thỏa thuận. Thành phẩm, hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của DN. Khi nhận được tiền của bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán thì hàng hóa được xác nhận là tiêu thụ Phương thức bán lẻ Là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dung hoặc các tổ chức kinh tế hoặc các dơn vị tập thể mua về để tiêu dung nội bộ. Có 4 hình thức: + Hình thức bán hàng thu tiền tập trung: Theo hình thức này nhân viên bán hàng phụ trách việc quản lý hàng, giao hàng, thu tiền do nhân viên khác đảm nhận.
cuối ngày hoặc cuối ca, nhân viên thu tiền lập phiếu nộp tiền, nhân viên bán hàng lập báo cáo bán hàng. Thực hiện đối chiếu giữa báo cáo bán hàng và giấy nộp tiền và sau đó chuyển đến phòng kế toán để ghi sổ + Hình thức bán hàng thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho khách hàng. Hết ca, hết ngày bán hàng nhân viên bán hàng nộp tiền cho thủ quỹ và làm giấy nộp tiền bán hàng. Sau đó, kiểm kê hàng hóa tồn quầy để xác định số lượng hàng bán ra trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng 9 Luan van + Hình thức bán hàng tự phục vụ : Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hóa, trước khi ra khỏi cửa hàng mang đến bộ phận thu tiền để thanh toán tiền hàng.
Nhân viên thu tiền nhận hóa đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng. Hình thức này phổ biến ở các siêu thị + Hình thức bán hàng trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua hàng thành nhiều lần. Lúc này, DNTM còn được thu thêm phần lãi tiền hàng do trả chậm của khách hàng Phương thức gửi đại lý bán Theo hình thức này, DN giao hàng cho cơ sở đại lý. Đại lý sẽ trực tiếp bán hàng và thanh toán cho DN và được hưởng hoa hồng đại lý bán.
Số hàng gửi bán ở đại lý vẫn thuộc quyền sở hữu của DN. Số hàng được xác định là tiêu thụ khi DN nhận được tiền do bên đại lý thạnh toán hoặc chấp nhận thanh toán b.