CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ KẾ THỪA QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ TỐ TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TẠI TÒA ÁN LÀ CÁ NHÂN TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ 1. Đương sự là cá nhân trong tố tụng dân sự Luật tố tụng điều chỉnh các nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình Toà án giải quyết vụ án, vụ việc theo từng lĩnh vực tố tụng. Ở Việt Nam hiện nay, trong hoạt động pháp luật đã phân chia thành ba lĩnh vực tố tụng của dân sự, hình sự và hành chính. Trong phạm vi bài viết này, học viên đề cập tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề “Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự là cá nhân trong vụ án” được quy định tại Điều 74 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015 thuộc nhóm đương sự trong vụ án dân sự, đây chính là chủ đề xuyên suốt của bài viết này.
Khái niệm “đương sự” Khái niệm “đương sự” theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, được hiểu “là người, là đối tượng trong một sự việc nào đó được đưa ra giải quyết”2. “Người” ở đây được hiểu theo nghĩa chung nhất chính là “cá nhân” bao gồm: công dân Việt Nam, người có quốc tịch nước ngoài, người không quốc tịch. Từ điển Tiếng Việt của Nguyễn Văn Xô thì “đương sự”3 là người có liên quan trực tiếp trong sự việc nào đó được đem ra giải quyết; “tố tụng”4 được định nghĩa là nói chung việc kiện thưa, nhưng đó chỉ là nghĩa hẹp, thực tế, đương sự ngoài yêu cầu tranh chấp kiện thưa, còn có yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định pháp luật tố tụng. Theo xu thế phát triển của xã hội qua từng thời kỳ, hoạt động tố tụng kết hợp với sự phát triển của PL hình thành thủ tục PLTTDS quy định để giải quyết các vụ án, vụ việc.
Đương sự tham gia “pháp luật tố tụng” đều phải có “ năng lực pháp luật” và “ năng lực hành vi” đây chính là hai yếu tố cấu thành “năng lực chủ thể” tham gia quan hệ pháp luật. Vậy “đương sự” là cách gọi chung của một trong các nhóm chủ thể tham gia tố tụng dân sự tại Toà án nhân dân trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân gia đình và lao động. Theo quy định tại BLTTDS hiện hành, Chương IV Mục 1 Điều 68 khoản 1 đến khoản 4 đã quy định “đương sự trong vụ án là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người liên quan”.
Từ đó, cá nhân tham gia tố tụng tại Tòa án được liệt kê thành 2 Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Viện ngôn ngữ học, NXB TP. Hồ Chí Minh, năm 2002, trang 313 3 Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Văn Xô, NXB Trẻ, năm 2001, trang 250 4 Từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Văn Xô, NXB Trẻ, năm 2001, trang 750 9 hai tuyến đương sự cơ bản đó là: Một là, theo nội dung yêu cầu, khởi kiện của người yêu cầu, người khởi kiện thì TAND có thẩm quyền thụ lý phân loại thành hai lĩnh vực TTDS riêng biệt và được phân biệt theo loại vụ, việc tương ứng: đối với vụ án thì có nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; việc dân sự có người yêu cầu, người bị yêu cầu và người liên quan đến yêu cầu (Khoản 1 Điều 68 BLTTDS). Hai là, theo năng lực chủ thể của ĐS phân loại thành: cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức, nếu là cá nhân đều có cả NLPL và NLHV. Nhưng là CQ, TC chỉ cần xác định NLPL của đối tượng CQ, TC có người đại diện hợp pháp.