Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường và tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam, các giao lưu dân sự ngày càng đa dạng, phức tạp, kéo theo sự gia tăng về số lượng cũng như tính chất gay gắt của các tranh chấp dân sự cần giải quyết tại Tòa án nhân dân. Thực tiễn này đòi hỏi phải có cơ chế pháp lý hiệu quả nhằm giải quyết kịp thời, khách quan, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên. Pháp luật tố tụng dân sự quy định đương sự có nghĩa vụ chủ động thu thập, cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của mình. Mặc dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã kế thừa, sửa đổi và bổ sung nhiều điểm mới so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), quá trình áp dụng vào thực tiễn xét xử sơ thẩm vẫn bộc lộ những vướng mắc, bất cập nhất định. Nhiều vụ án bị kéo dài, bản án sơ thẩm bị cấp phúc thẩm hủy hoặc sửa xuất phát từ việc áp dụng quy định về cung cấp chứng cứ chưa chính xác, đương sự thiếu hiểu biết pháp luật hoặc cán bộ Tòa án chưa phát huy hết trách nhiệm hướng dẫn, thu thập chứng cứ.
Khóa luận xác định hai mục đích nghiên cứu chính:
- Làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về hoạt động cung cấp chứng cứ của đương sự; chỉ ra những điểm mới tiến bộ cũng như các nội dung còn tồn tại, thiếu sót trong quy định pháp luật.
- Khảo sát, phân tích những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật về cung cấp chứng cứ của đương sự tại Tòa án cấp sơ thẩm; từ đó đề xuất các nhóm kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận chung, hệ thống quy phạm pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về cung cấp chứng cứ của đương sự (có đối chiếu với các quy định trước đây) và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân các cấp. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong hoạt động giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm tại Tòa án nhân dân, dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành và các bản án, quyết định giải quyết tranh chấp dân sự thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng khoa học pháp lý tố tụng dân sự, kết hợp hệ thống khái niệm và học thuyết pháp lý của các học giả chuyên ngành:
- Khái niệm về tố tụng dân sự và tư pháp qua các công trình nghiên cứu kinh điển của Giáo sư Vũ Văn Mẫu (Dân luật khái luận, 1961) và Giáo sư Nguyễn Huy Đẩu (Luật Dân sự Tố tụng Việt Nam, 1962).
- Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về nguyên tắc chứng minh, chứng cứ của TS. Nguyễn Công Bình (2012), TS. Nguyễn Minh Hằng (2007, 2016), ThS. Tăng Hoàng My (2012), ThS. Bùi Thị Huyền (2017), TS. Trần Anh Tuấn (2017), ThS. Quảng Hồng Nét (2015), ThS. Nguyễn Như Quỳnh (2018), ThS. Nguyễn Thùy Linh (2019).
- Hệ thống văn bản pháp luật thực định: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (các Điều 6, 68, 70, 91, 96, 97, 104, 109, 189, 208, 209, 210, 222-263), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2011), và Văn bản Giải đáp số 01/2016/GĐ-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Làm rõ các khái niệm đương sự, chứng cứ, cung cấp chứng cứ, và bốn điều kiện bảo đảm hiệu quả thực thi.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu luật học: So sánh quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và thông lệ tố tụng quốc tế (nguyên tắc tranh tụng, thời hạn giao nộp chứng cứ).
- Phương pháp phân tích án thực tế (case study): Khảo sát hồ sơ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại các Tòa án nhân dân địa phương (TAND tỉnh Phú Thọ, TAND Cấp cao tại Hà Nội, TAND tỉnh Cà Mau, TAND tỉnh Cao Bằng, TAND tỉnh Đắk Nông, TAND thành phố Cam Ranh) để chứng minh các vướng mắc thực tiễn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát chung về cung cấp chứng cứ của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm
Chương 1 hệ thống hóa lý luận cơ bản và phân tích thực trạng pháp luật thực định điều chỉnh hoạt động cung cấp chứng cứ của từng chủ thể đương sự.
-
Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa:
- Khái niệm: Cung cấp chứng cứ của đương sự trong tố tụng dân sự là hoạt động tìm kiếm, thu thập, cung cấp và giao nộp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
- Bốn đặc điểm pháp lý cốt lõi:
- Vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ tố tụng của đương sự.
- Là một bộ phận cấu thành của hoạt động chứng minh nhằm cung cấp dữ liệu thực tế cho Tòa án.
- Nhằm mục đích chứng minh tính có căn cứ, hợp pháp của yêu cầu khởi kiện hoặc sự phản đối yêu cầu.
- Bắt đầu từ thời điểm nộp đơn khởi kiện/yêu cầu và tiếp diễn xuyên suốt quá trình tố tụng, nhưng bị giới hạn về mặt thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
- Bốn điều kiện bảo đảm hiệu quả: Tính đồng bộ, khả thi, khoa học của pháp luật tố tụng dân sự; sự phát triển của các thiết chế bổ trợ tư pháp (luật sư, công chứng, thừa phát lại, trợ giúp pháp lý); trách nhiệm hỗ trợ thu thập chứng cứ của Tòa án và các cơ quan lưu giữ tài liệu; trình độ nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật của chính đương sự.
-
Thực trạng pháp luật về cung cấp chứng cứ của các chủ thể đương sự:
- Nguyên đơn: Thực hiện quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ ngay khi nộp đơn khởi kiện (Khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015, Giải đáp số 01/2016/GĐ-TANDTC). Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, nguyên đơn tham gia xây dựng hồ sơ vụ án (Điều 104), phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ (Điều 208–210) và phiên hòa giải. Tại phiên tòa, việc giao nộp chứng cứ bổ sung bị kiểm soát nghiêm ngặt theo Khoản 4 Điều 96 BLTTDS 2015 (phải chứng minh lý do chính đáng).
- Bị đơn: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý, bị đơn phải nộp văn bản ghi ý kiến và tài liệu kèm theo, hoặc đưa ra yêu cầu phản tố. Việc giao nộp chứng cứ được lập biên bản giao nhận chặt chẽ. Tuy nhiên, quy định tại Khoản 5 Điều 70 và Điều 70 BLTTDS 2015 chưa tách bạch rõ ràng giữa "quyền" và "nghĩa vụ", dẫn đến việc một số bị đơn ngộ nhận nghĩa vụ thu thập chứng cứ thuộc về Tòa án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Căn cứ Khoản 4 Điều 68 BLTTDS 2015, người có yêu cầu độc lập gánh vác nghĩa vụ chứng minh tương tự như nguyên đơn; người không có yêu cầu độc lập thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cùng phía với nguyên đơn hoặc bị đơn để bảo vệ lợi ích liên quan.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về cung cấp chứng cứ của đương sự trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm và kiến nghị
Chương 2 tổng kết kết quả đạt được, phân tích 7 nhóm vướng mắc qua các vụ án thực tế và đưa ra định hướng giải pháp.
-
Kết quả đạt được trong thực tiễn:
- Đa số Tòa án sơ thẩm đã vận dụng đúng nguyên tắc đương sự tự chứng minh (Điều 6, Điều 91 BLTTDS 2015), Tòa án chỉ hỗ trợ khi đương sự có đơn yêu cầu chính đáng.
- Bộ phận hành chính tư pháp kiểm soát chặt chẽ tài liệu kèm theo đơn khởi kiện; quy trình thông báo thụ lý trong 03 ngày làm việc và yêu cầu sao gửi chứng cứ (Điều 109) được triển khai đồng bộ.
- Điển hình như vụ án chia tài sản sau ly hôn tại TAND thành phố Cam Ranh (Quyết định số 100/2020/QĐST-HNGĐ), Tòa án đã căn cứ chính xác vào chứng cứ GCNQSDĐ số CL 854512 do các bên xuất trình để phân chia thửa đất 333,0 m² (bà H nhận 142 m², ông P nhận 190 m²).
-
Những vướng mắc, tồn tại và nguyên nhân qua thực tiễn xét xử:
| STT |
Vướng mắc thực tiễn |
Vụ án / Án lệ minh họa cụ thể |
Hậu quả pháp lý |
| 1 |
Đương sự cất giấu chứng cứ, chờ đến cấp phúc thẩm/giám đốc thẩm mới nộp |
Vụ án tranh chấp 1.609 m² đất lâm nghiệp tại Phú Thọ giữa ông Trần Minh Hoạt và bà Bùi Thị Hiền. |
Bản án DSST số 45/2019/DS-ST bị Bản án DSPT số 46/2021/DS-PT của TAND Cấp cao tại Hà Nội hủy toàn bộ để giải quyết lại do bà Hiền giao nộp chứng cứ mới chứng minh ông Hoạt chỉ được giao khai thác lá cọ. |
| 2 |
Vi phạm nghĩa vụ sao gửi bản sao đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ cho đương sự khác |
Nhiều vụ việc do Tòa án không thể trả lại đơn theo Điều 192 BLTTDS 2015 nên vẫn thụ lý. |
Xâm phạm quyền tiếp cận chứng cứ của bên bị kiện, gây kéo dài thời gian giải quyết vụ án. |
| 3 |
Nộp bổ sung chứng cứ ngay tại phiên tòa sơ thẩm do hạn chế hiểu biết pháp luật |
Tình trạng đương sự tại vùng khó khăn nộp chứng cứ chậm sau phiên họp kiểm tra chứng cứ. |
Tòa án buộc phải chấp nhận để làm rõ sự thật khách quan, làm gián đoạn tiến độ xét xử. |
| 4 |
Thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm chưa đầy đủ, bỏ sót người tham gia tố tụng |
Vụ tranh chấp thừa kế 210 m² đất tại Cà Mau giữa ông Đào Văn T, Đào Hoàng S và bà Nguyễn Thu S (Bản án DSST số 08/2019/DS-ST). |
Cấp phúc thẩm phải hủy án sơ thẩm do cấp sơ thẩm không thu thập chứng cứ về người vợ thứ ba (bà Nguyễn Thị T) và các con của cụ Đào Văn H. |
| 5 |
Đương sự ỷ lại vào Tòa án, cố tình không hợp tác cung cấp tài liệu |
Các vụ tranh chấp dân sự phức tạp có đương sự thiếu ý thức trách nhiệm. |
Gây quá tải cho Thẩm phán và Hội đồng xét xử, cản trở tranh tụng bình đẳng. |
| 6 |
Đánh giá chứng cứ thiếu sót, không định giá toàn bộ khối di sản tranh chấp |
Vụ chia di sản thừa kế của cụ Lục Ích O tại Cao Bằng giữa ông Lục Văn A và các đồng thừa kế. |
Bản án số 24/2023/DS-PT của TAND tỉnh Cao Bằng xác định cấp sơ thẩm vi phạm Điều 104 BLTTDS khi chỉ định giá thửa đất ở số 140 mà bỏ sót 20 thửa đất (6.464,6 m²) và 2 thửa hoa màu. |
| 7 |
Tòa án bỏ sót yêu cầu độc lập của bị đơn, xâm phạm quyền tố tụng |
Vụ tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ tại Đắk Nông giữa anh Đồng Viết T và anh Nguyễn Đình T1. |
Bản án số 26/2023/DS-PT của TAND tỉnh Đắk Nông chỉ ra cấp sơ thẩm đã thụ lý nhưng không tuyên chấp nhận hay bác bỏ yêu cầu độc lập của anh T1 về việc tuyên hợp đồng vô hiệu. |
- Kiến nghị hoàn thiện và nâng cao hiệu quả:
- Về mặt lập pháp: Sửa đổi Điều 70 BLTTDS 2015 theo hướng phân định rành mạch các điều khoản về quyền riêng và nghĩa vụ riêng của đương sự; siết chặt chế tài đối với việc chậm trễ thực hiện nghĩa vụ sao gửi chứng cứ theo Điều 109; hoàn thiện quy định hạn chế việc đương sự lạm dụng quyền giao nộp chứng cứ ở cấp phúc thẩm.
- Về giải pháp thực thi: Tăng cường năng lực chuyên môn và trách nhiệm của Thẩm phán trong khâu thẩm định, định giá tài sản và xác định diện đương sự; đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật và phát huy vai trò của tổ chức trợ giúp pháp lý, luật sư hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả nghiên cứu thực chứng: Khóa luận đã hệ thống hóa và phân tích 5 vụ án dân sự cụ thể từ thực tiễn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm tại nhiều địa phương (Cam Ranh, Phú Thọ, Cà Mau, Cao Bằng, Đắk Nông). Luận giải rõ các căn cứ pháp lý tại BLTTDS 2015 dẫn đến việc bản án bị giữ nguyên hoặc bị hủy, sửa (Điều 96 về nộp chứng cứ muộn, Điều 104 về định giá tài sản, Điều 109 về sao gửi chứng cứ).
- Phát hiện khoa học: Chỉ ra sự bất cập trong kỹ thuật lập pháp tại Điều 70 BLTTDS 2015 khi trộn lẫn quyền và nghĩa vụ của đương sự, tạo ra kẽ hở cho tâm lý ỷ lại vào Tòa án; đồng thời làm rõ sự xung đột giữa nguyên tắc tôn trọng sự thật khách quan và giới hạn thời gian giao nộp chứng cứ trong mô hình tố tụng kết hợp tranh tụng tại Việt Nam.
- Đề xuất giải pháp: Đưa ra các nhóm giải pháp lập pháp và tổ chức thực hiện cụ thể nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của thời hạn tố tụng nhưng vẫn bảo vệ được quyền tiếp cận công lý của người dân.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn phạm vi của một khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài chủ yếu tập trung vào giai đoạn sơ thẩm của vụ án dân sự, chưa mở rộng nghiên cứu sâu đối với thủ tục giải quyết việc dân sự, thủ tục rút gọn hoặc thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế thu thập, cung cấp chứng cứ điện tử, dữ liệu số trong bối cảnh Tòa án điện tử; khảo sát toàn diện hơn thực tiễn cung cấp chứng cứ trong các vụ án kinh doanh thương mại, lao động và sở hữu trí tuệ có yếu tố nước ngoài.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, Luật Tố tụng dân sự: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu một đề tài chuyên sâu về chứng minh và chứng cứ; phương pháp tổng hợp án lệ và phân tích sai sót nghiệp vụ xét xử.
- Cán bộ Tòa án, Luật sư, Trợ giúp viên pháp lý: Sử dụng các tình huống thực tế tại Chương 2 (về định giá tài sản di sản, xử lý yêu cầu phản tố/yêu cầu độc lập, xác minh người thừa kế) làm kinh nghiệm thực tiễn nhằm tránh các vi phạm thủ tục tố tụng dẫn đến hủy, sửa án.
Câu hỏi thường gặp
-
Theo quy định tại BLTTDS 2015, nguyên đơn không có chứng cứ kèm theo khi nộp đơn khởi kiện thì Tòa án có thụ lý vụ án không?
- Căn cứ Khoản 5 Điều 189 BLTTDS 2015 và hướng dẫn tại Giải đáp số 01/2016/GĐ-TANDTC, nếu vì lý do khách quan không thể nộp đủ tài liệu chứng cứ, nguyên đơn phải làm văn bản tường trình giải thích rõ lý do. Nếu xét thấy lý do chính đáng, Tòa án vẫn tiến hành thụ lý vụ án và thực hiện biện pháp thu thập chứng cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 97 BLTTDS 2015.
-
Bị đơn có thời hạn bao lâu để nộp ý kiến và tài liệu, chứng cứ sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án?
- Căn cứ quy định của BLTTDS 2015, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo thụ lý, bị đơn phải nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến cùng tài liệu, chứng cứ kèm theo hoặc yêu cầu phản tố. Trường hợp cần gia hạn, bị đơn phải làm đơn nêu rõ lý do; nếu có căn cứ, Tòa án có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày.
-
Vì sao Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2019/DS-ST của TAND tỉnh Phú Thọ lại bị cấp phúc thẩm hủy toàn bộ?
- Bản án sơ thẩm bị hủy bởi Bản án DSPT số 46/2021/DS-PT của TAND Cấp cao tại Hà Nội do tại cấp phúc thẩm, bị đơn (bà Bùi Thị Hiền) đã xuất trình chứng cứ mới chứng minh rằng nguyên đơn (ông Trần Minh Hoạt) trước đây chỉ được giao quyền thu hoạch lá cọ chứ không được giao quyền sử dụng 1.609 m² đất lâm nghiệp đang tranh chấp.
-
Khóa luận chỉ ra sai sót nghiêm trọng gì của Tòa án cấp sơ thẩm trong vụ án tranh chấp thừa kế tại Cao Bằng (Bản án số 24/2023/DS-PT)?
- Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng theo Điều 104 BLTTDS khi chỉ tiến hành định giá tài sản đối với thửa đất ở số 140 (185,2 m²) mà không định giá toàn bộ khối di sản thừa kế gồm 20 thửa đất ruộng (tổng diện tích 6.464,6 m²) và 2 thửa đất trồng hoa màu, khiến cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.
-
Quy định tại Khoản 5 Điều 70 BLTTDS 2015 bộc lộ bất cập gì theo phân tích của tác giả?
- Điều luật quy định việc cung cấp tài liệu, chứng cứ dưới dạng liệt kê chung mà không tách bạch rõ ràng đâu là quyền, đâu là nghĩa vụ của đương sự. Sự thiếu phân định này khiến một số đương sự lầm tưởng việc thu thập chứng cứ là trách nhiệm mặc nhiên của Tòa án, dẫn đến sự thụ động, không thực hiện nghĩa vụ chứng minh.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Yến Khoa đã giải quyết thấu đáo các vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động cung cấp chứng cứ của đương sự trong vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thông qua việc đối chiếu luật thực định với các bản án xét xử cụ thể, công trình đã làm nổi bật những điểm tiến bộ của nguyên tắc tranh tụng cũng như nhận diện 7 nhóm vướng mắc nghiệp vụ điển hình dẫn đến việc hủy, sửa án. Các kiến nghị sửa đổi Điều 70 BLTTDS 2015 và giải pháp nâng cao hiệu quả phối hợp thu thập chứng cứ có giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn rõ rệt cho công tác hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.