Chương 1. KHÁI QUAT CHUNG VE GIAM HO 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giám hộ 1. Khải niệm giảm hộ Chế định giám hộ đã đã được quy định tại phần năng lực hành vi trong luật tư pháp Lama.
Luật Lama quy định những người trong độ tuôi 07 đến 14 tuổi đối với nam giới, đến 12 tudi đối với nữ giới là những người chưa trưởng thành (Impuberes), chỉ được tham gia những giao dịch làm tăng giá tri tài sản của bản thân, còn những giao dịch không làm tăng giá trị tài sản của họ đều vô hiệu. Những giao dịch liên quan đến định đoạt tài sản của Impuberes hay thực hiện nghĩa vụ băng tài sản của Impuberes phải được người giám hộ (Tutor) cho phép. Nam trên 14 tuổi và nữ trên 12 tuổi không có dau hiệu của các bệnh tâm thần thì được coi là người có năng lực hành vi toàn phần được tham gia các giao dịch. Người từ đủ 14 tuổi đối với nam, từ đủ 12 tuổi đối với nữ đến 25 tuổi là người có đầy đủ năng lực hành vi.
Ngoại trừ những người mắc bệnh tâm than (furiosi) là người không có năng lực hành vi, vì họ không thể nhận thức và làm chủ hành vi trong các quan hệ xã hội và pháp luật. Những người được xác định furiosi đều phải đặt dưới sự giám hộ bắt buộc của người đã trưởng thành khác (curatela). Ngoài những người nói trên, người mắc bệnh tâm thần, người mất năng lực hành vi, người bị hạn chế về thê chất, người không có ý thức về tài sản đã có hành vi phá tán tài sản của gia đình đều phải đặt dưới sự giám hộ. Người giám hộ phải là người đã trưởng hành và có đầy đủ năng lực hành vi, đương nhiên người giám hộ phải có quốc tịch Lamã.
Người giám hộ thường là người thân thích của người được giám hộ. Người giám hộ chỉ phải thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi quyền mà pháp luật đã quy định. Theo nguyên tắc chung, pháp luật Lamã quy định những người phải đặt dưới sự giám hộ của người khác thì năng lực chủ thê của người được giám hộ bị hạn chế, không được toàn quyền tham gia các giao dịch theo ý chí của mình mà bị ràng buộc vào ý chí của người giám hộ. Như vậy, chế định giám độ đã xuất hiện từ thời La Mã cô đại.
Luật tư pháp Lamã đã quy định chi tiết, cụ thể, đầy đủ, toàn diện về giám hộ, điều này thể hiện trình độ lập pháp cao của người Lama. Ở nước ta, tinh thần tương thân, tương ái là một truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Tinh thần đó không những được thể hiện qua các tác pham văn học mà còn được thé chế hóa thành những quy phạm có tính bắt buộc thực hiện trong xã hội. Vấn đề chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người không có khả năng tự chăm sóc và bảo vệ bản thân lần đầu tiên đã được Nhà nước quy định trong “chế độ đỡ đầu” tại chương VIII của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 (từ Điều 46 đến Điều 51).
Để bảo đảm việc chăm sóc, giáo dục, cũng như bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên có hoàn cảnh đặc biệt. Việc đỡ đầu được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm việc chăm nom, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên mà cha mẹ đã chết, hoặc cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện dé làm nhiệm vụ đó (Điều 46 Luật hôn nhân va gia đình năm 1986). Tuy nhiên, “chế độ đỡ đầu” mới chỉ dừng lại ở các đối tượng là người chưa thành niên; việc chăm sóc và bảo vệ quyên và lợi ích hợp pháp cho người đã thành niên nhưng bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa được pháp luật quy định. Tiếp đó, chế định giám hộ được quy định tại các Bộ luật Dân sự, cụ thể là các Bộ luật Dân sự năm 1995, Bộ luật Dân sư năm 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015.
Các Bộ luật Dân sự đã quy định về giám hộ như sau: Khoản 1 Điều 67 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định: Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức hoặc cơ quan nhà nước (gọi là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử dé thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thé nhận thức, làm chủ được hành vi của mình (gọi là người được giám hộ). Đây là lần đầu tiên khái niệm “Giám hộ” được quy định trong Bộ luật Dân sự. Khái niệm “Giám hộ” được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995 đã chỉ ra ba chủ thể là người giám hộ gồm cá nhân, tô chức và cơ quan nhà nước. Cùng với đó là những chủ thể là người được giám hộ gồm người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức hoặc làm chủ hành vi.
Quy định này tương thích với ba cơ chế giám hộ là giám hộ đương nhiên, giảm hộ cử và giám hộ của cơ quan nhà nước. Sau mười năm thực hiện, Bộ luật Dân sự năm 1995 được thay thế bởi Bộ luật Dân sự năm 2005. Khoản 1 Điều 58 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Giám hộ là việc cá nhân, tô chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử dé thực hiện việc chăm sóc va bảo vệ quyên, lợi ich hợp pháp của người chưa thành niên, người mat năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ). Như vậy, khái niệm “Giám hộ” được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2005 có thay đôi so với khái niệm “Giám hộ” được quy định tại Bộ luật Dân sự năm 1995.
Đó là, Bộ luật Dân sự năm 2005 đã bỏ cơ chế giám hộ của cơ quan nhà nước. Đến Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định về giám hộ đã chi tiết, bao quát hơn và chỉ ra thêm những người được giám hộ gồm người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đặc biệt là người có năng lực hành vi dân Sự đây đủ cũng là người được giám hộ nếu ho lựa chon người giám hộ dé giám hộ khi họ ở tình trang cần được giám hộ. Cụ thể là: Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giảm hộ). Ngoài những quy định của Bộ luật Dân sự về chế định giám hộ, chế định giám hộ còn được quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, cụ thé là từ Điều 79 đến Điều 84 của chương IX quy định về giám hộ giữa các thành viên trong gia đình.
Điều 79 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định “Khi trong gia đình có người can được giảm hộ thì việc giảm hộ được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dán sự và Luật này ”. Mục đích của việc giám hộ nhằm đảm bảo cho những người thuộc đối tượng được giám hộ được chăm sóc, giáo dục và được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp. Từ những phân tích và quy định của Bộ luật Dân sự có thể hiểu: Giám hộ là quan hệ pháp luật được xác lập giữa người được giám hộ và người giảm hộ theo quy định của pháp luật, do Ủy ban nhân dân cấp xã cử, do Tòa án chỉ định hoặc theo lựa chọn của người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Đặc điểm của giảm hộ Thứ nhất, trong quan hệ giám hộ thì người được giám hộ luôn luôn là cá nhân và ở trong tình trạng yếu thế.
Người được giám hộ bao gồm: Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ. Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mat năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bi hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ. Người mat năng lực hành vi dân sự. Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ đã lựa chọn người giám hộ cho mình và người giám hộ đồng ý khi họ ở tình trạng cần được giám hộ. Người được giám hộ là những người không thé tự mình hoặc ở tình trạng không thể tự mình xác lập, thực hiện các quyên, nghĩa vụ của mình nên cần phải có cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự hoặc pháp phân thực hiện thay người được giám hộ dé đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người được giám hộ. Người giám hộ chỉ có thể là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ hoặc pháp nhân. Người giám hộ có thê được xác định theo quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, theo chỉ định của Tòa án, do Ủy ban nhân dân cấp xã cử hoặc do người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ lựa chọn, trường hợp này phải có sự đồng ý của người được lựa chọn làm người giám hộ.
Thứ hai, trong quan hệ giám hộ thì người được giảm hộ chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giảm hộ cho con hoặc ông, ba cùng giám hộ cho chau. Trong quan hệ giám hộ, người giám hộ là người thay người được giám hộ hay nói cách khác người giám hộ là người đại diện cho người được giám hộ dé xác lập, thực hiện, bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp cho người được giám hộ. Do đó, dé thuận lợi cho việc thực hiện quyên, nghĩa vụ của người giám hộ thì chỉ cần một người giám hộ.