Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hoạt động tư pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp nhằm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự (VADS), có những trường hợp phát sinh sự kiện pháp lý làm cho đối tượng tranh chấp không còn hoặc có những vụ án do sơ suất ban đầu Tòa án đã thụ lý khi chưa đủ điều kiện luật định. Khi đó, Tòa án phải ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án để chấm dứt quá trình tố tụng, khắc phục sai lầm và bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự. Chế định đình chỉ giải quyết VADS đã được ghi nhận qua các thời kỳ từ các Pháp lệnh tố tụng (năm 1989, 1994, 1996), Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2004, BLTTDS sửa đổi năm 2011 và hiện nay là BLTTDS năm 2015. Mặc dù BLTTDS năm 2015 đã bổ sung nhiều quy định mới tiến bộ, thực tiễn thi hành tại Tòa án cấp sơ thẩm vẫn bộc lộ nhiều bất cập, vướng mắc trong việc nhận thức và áp dụng các căn cứ đình chỉ, xác định thẩm quyền và thủ tục thực hiện.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ những vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành chế định đình chỉ giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng. Để đạt được mục đích đó, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết VADS.
  2. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm ở Việt Nam hiện nay.
  3. Phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm hiện nay để chỉ ra các điểm tích cực và hạn chế.
  4. Đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật về đình chỉ giải quyết VADS.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết VADS, hệ thống quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành của Việt Nam về đình chỉ giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm và thực tiễn áp dụng các quy định này.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về nội dung: Nghiên cứu đình chỉ giải quyết VADS dưới góc độ là quyết định của Tòa án làm chấm dứt quá trình tố tụng giải quyết vụ án.
  • Về cấp xét xử: Chỉ tập trung nghiên cứu ở giai đoạn sơ thẩm; không nghiên cứu giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
  • Về không gian và hệ thống pháp luật: Giới hạn trong phạm vi pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, không đối chiếu so sánh chuyên sâu với pháp luật nước ngoài.
  • Về nguồn số liệu thực tiễn: Sử dụng các báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tối cao (năm 2021, 2022) và số liệu, hồ sơ vụ việc thực tế tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2020 - 06 tháng đầu năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và văn bản giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật của cơ quan có thẩm quyền tại Việt Nam, bao gồm:

  • Các đạo luật cơ bản: Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Phá sản năm 2014 và Nghị định số 120/2020/NĐ-CP.
  • Các văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012, Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016, Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017, Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017.
  • Các văn bản nghiệp vụ, giải đáp của Tòa án nhân dân tối cao: Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017, Giải đáp số 01/2018/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018, Công văn số 02/TANDTC-PC và Công văn số 03/TANDTC-PC ngày 02/8/2021.
  • Nền tảng học thuật: Khóa luận kế thừa và đối chiếu các quan điểm lý luận về khái niệm VADS, việc dân sự (VDS) và bản chất của đình chỉ giải quyết VADS của các nhà nghiên cứu như TS. Nguyễn Triều Dương, Nguyễn Công Bình, Hoàng Ngọc Thỉnh, Tống Công Cường, Trần Anh Tuấn, Đinh Kim Dung, Hà Thị Giáng, Trần Mỹ Linh.

Về phương pháp nghiên cứu, đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp. Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể được sử dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các khái niệm, phân tích nội dung các điều luật trong BLTTDS năm 2015 và các văn bản liên quan.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp và xử lý các bảng số liệu về tình hình thụ lý, giải quyết và tỷ lệ đình chỉ VADS trên phạm vi toàn quốc và tại TAND thành phố Thái Bình.
  • Phương pháp diễn dịch và quy nạp: Đưa ra nhận định tổng quát từ các quy phạm pháp luật và kiểm chứng qua các hồ sơ vụ án thực tiễn.
  • Phương pháp nghiên cứu tình huống (Case study): Phân tích các quyết định đình chỉ giải quyết vụ án cụ thể tại Tòa án cấp sơ thẩm để chỉ ra những vướng mắc phát sinh trong thực tế.

Nguồn dữ liệu của đề tài gồm các báo cáo tổng kết công tác năm 2021, 2022 của Tòa án nhân dân tối cao; Báo cáo thống kê và hồ sơ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình các năm 2020, 2021, 2022 và 06 tháng đầu năm 2023.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Chương này tập trung làm rõ cơ sở lý luận và phân tích có hệ thống các quy định của BLTTDS năm 2015 về chế định đình chỉ giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm:

  1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa:
  • Phân biệt khái niệm VADS và VDS: Trước BLTTDS năm 2004, pháp luật không tách bạch hai khái niệm này. Từ BLTTDS năm 2004 đến năm 2015, VADS được xác định là các vụ việc tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên, còn VDS là các yêu cầu công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý không có tranh chấp. Từ đó, tác giả đưa ra định nghĩa: Đình chỉ giải quyết VADS là việc Tòa án quyết định ngừng việc giải quyết VADS đã thụ lý khi xuất hiện những căn cứ do pháp luật quy định, làm cho quá trình tố tụng chấm dứt và đương sự không có quyền khởi kiện lại vụ án đó (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác).
  • 5 đặc điểm pháp lý: (1) Là quyết định kết thúc hoàn toàn việc giải quyết vụ án cả về mặt thủ tục lẫn nội dung; (2) Phải dựa trên các căn cứ cụ thể do pháp luật quy định; (3) Thuộc thẩm quyền độc quyền của Tòa án; (4) Phải tuân theo trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ; (5) Làm phát sinh hậu quả pháp lý chấm dứt tư cách tố tụng của đương sự và xóa sổ thụ lý vụ án.
  • Phân biệt đình chỉ với tạm đình chỉ và đình chỉ xét xử phúc thẩm: Tạm đình chỉ chỉ mang tính tạm thời về mặt thủ tục, vụ án sẽ được tiếp tục giải quyết khi lý do tạm ngừng chấm dứt. Đình chỉ xét xử phúc thẩm chỉ chấm dứt hoạt động xét xử ở cấp phúc thẩm làm cho bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, không làm xóa sổ thụ lý vụ án như đình chỉ giải quyết VADS.
  • Ý nghĩa: Khắc phục sai sót khi Tòa án thụ lý không đúng; tiết kiệm thời gian, chi phí cho Nhà nước và đương sự; bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự.
  1. Căn cứ đình chỉ giải quyết VADS theo khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015:
  • Điểm a: Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ không được thừa kế (chủ yếu là quan hệ nhân thân như ly hôn, cấp dưỡng). Nếu là tranh chấp tài sản mà người chết không có người thừa kế thì tài sản thuộc về Nhà nước theo Điều 622 BLDS năm 2015, Tòa án không được đình chỉ mà phải đưa đại diện Nhà nước vào tham gia tố tụng.
  • Điểm b: Cơ quan, tổ chức bị giải thể, phá sản mà không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng.
  • Điểm c: Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn vắng mặt hợp lệ lần thứ hai mà không có đơn xin xét xử vắng mặt, không do sự kiện bất khả kháng/trở ngại khách quan.
  • Điểm d: Tòa án có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự trong vụ án mà việc giải quyết có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của họ (phân biệt với việc chỉ mới thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là căn cứ tạm đình chỉ theo điểm g khoản 1 Điều 214).
  • Điểm đ: Đương sự không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo luật định (căn cứ mới bổ sung của BLTTDS năm 2015).
  • Điểm e: Đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định và thời hiệu khởi kiện đã hết (thay đổi căn bản so với BLTTDS năm 2004 khi chuyển việc xem xét thời hiệu từ trách nhiệm của Tòa án sang quyền của đương sự theo Điều 184).
  • Điểm g: Tòa án đã thụ lý các trường hợp thuộc diện trả lại đơn khởi kiện tại khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 (người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không đủ năng lực hành vi TTDS; chưa đủ điều kiện khởi kiện; sự việc đã được giải quyết bằng bản án/quyết định có hiệu lực; hết thời hạn không nộp biên lai tạm ứng án phí; vụ án không thuộc thẩm quyền Tòa án; không sửa đổi bổ sung đơn; rút đơn trước thời điểm thụ lý).
  • Điểm h: Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
  1. Thẩm quyền, thủ tục và hậu quả pháp lý:
  • Thẩm quyền (Điều 219): Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Thẩm phán được phân công giải quyết; tại phiên tòa sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử (HĐXX).
  • Thủ tục: Ban hành theo mẫu văn bản quy định tại Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP (Mẫu số 45-DS trước khi mở phiên tòa, Mẫu số 46-DS tại phiên tòa). Thời hạn gửi quyết định cho đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp là 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành (rút ngắn từ 05 ngày so với luật cũ). Trường hợp đặc biệt theo khoản 4 Điều 217 (vụ án xét xử lại sau giám đốc thẩm/tái thẩm), việc đình chỉ phải giải quyết hậu quả thi hành án và phải được sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nếu nguyên đơn rút đơn hoặc vắng mặt lần hai.
  • Hậu quả pháp lý (Điều 218): Đương sự không có quyền khởi kiện lại (trừ ngoại lệ tại khoản 3 Điều 192 và điểm c khoản 1 Điều 217); tiền tạm ứng án phí được trả lại hoặc sung công quỹ tùy căn cứ đình chỉ; quyết định có thể bị kháng cáo trong thời hạn 07 ngày, bị Viện kiểm sát cùng cấp kháng nghị trong 07 ngày hoặc Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kháng nghị trong 10 ngày.

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm và kiến nghị

Chương này tập trung đánh giá số liệu thực tế, phân tích các vụ việc cụ thể và chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân cùng các giải pháp đề xuất:

  1. Thực tiễn áp dụng và số liệu minh chứng:
  • Số liệu toàn quốc (TANDTC): Năm 2021, ngành Tòa án thụ lý 411.299 vụ việc dân sự, giải quyết 324.813 vụ việc (đạt tỷ lệ 79%), trong đó thụ lý sơ thẩm 393.962 vụ việc, giải quyết 312.398 vụ việc. Năm 2022, thụ lý 444.402 vụ việc, giải quyết 386.944 vụ việc (đạt tỷ lệ 87,07%), trong đó thụ lý sơ thẩm 426.279 vụ việc, giải quyết 370.676 vụ việc. Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do nguyên nhân chủ quan là 0,39% (2021) và 0,4% (2022); bị sửa do nguyên nhân chủ quan là 0,4% (2021) và 0,5% (2022).
  • Số liệu tại TAND thành phố Thái Bình: Năm 2020 giải quyết 483/568 vụ (đạt 85%), đình chỉ 95 vụ (chiếm 19,7%); Năm 2021 giải quyết 407/467 vụ (đạt 87,15%), đình chỉ 70 vụ (chiếm 17,2%); Năm 2022 giải quyết 325/400 vụ (đạt 81,25%), đình chỉ 49 vụ (chiếm 15,1%); 06 tháng đầu năm 2023 giải quyết 128/158 vụ (đạt 81%), đình chỉ 21 vụ (chiếm 16,4%). Lý do đình chỉ chủ yếu là nguyên đơn rút đơn khởi kiện hoặc vắng mặt hợp lệ lần thứ hai.
  • Điển hình các vụ việc thực tế tại TAND thành phố Thái Bình:
    • Quyết định số 09/2023/QĐST-DS ngày 15/6/2023: Đình chỉ vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản (thụ lý số 19/2022/TLST-DS) do nguyên đơn Nguyễn Minh H, bị đơn Nguyễn Nam T và người liên quan vắng mặt hợp lệ lần 2 tại phiên tòa, không có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn không có yêu cầu phản tố.
    • Quyết định số 14/2021/QĐST-DS ngày 28/7/2021: Đình chỉ vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất (thụ lý số 01/2021/TLST-DS) giữa nguyên đơn Đỗ Như G, Hà Thị T với bị đơn Nguyễn Mạnh Th, Đỗ Thị P do người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo điểm a khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 (nghĩa vụ trả nợ ngân hàng đang được xem xét theo thủ tục phúc thẩm).
    • Quyết định số 15/2021/QĐST-DS ngày 10/6/2021: Đình chỉ vụ án tranh chấp đất đai (thụ lý số 02/2021/TLST-DS) do bà Nguyễn Thị L khởi kiện vì sự việc đã được giải quyết bằng bản án có hiệu lực pháp luật theo điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015.
  1. Những hạn chế và vướng mắc:
  • Vướng mắc khi vụ án có nhiều quan hệ pháp luật (vừa nhân thân vừa tài sản) mà đương sự chết: Chưa có quy định và hướng dẫn rõ ràng về chủ thể đại diện Nhà nước tham gia tố tụng theo Điều 622 BLDS năm 2015 khi không có người thừa kế tài sản, dẫn đến Tòa án lúng túng giữa việc tạm đình chỉ kéo dài hay đình chỉ sai quy định.
  • Vướng mắc khi nguyên đơn rút đơn khởi kiện trong giai đoạn chuẩn bị xét xử: Theo điểm c khoản 1 Điều 217, Tòa án ra quyết định đình chỉ mà không cần hỏi ý kiến bị đơn, gây bất công cho bị đơn và người liên quan khi họ đã đầu tư thời gian, chi phí theo kiện và đã có văn bản trình bày ý kiến phản bác.
  • Bất cập đối với căn cứ đình chỉ do không nộp tạm ứng chi phí định giá, chi phí tố tụng khác (điểm đ khoản 1 Điều 217): Chưa có cơ chế bảo vệ đương sự có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; Điều 218 BLTTDS năm 2015 không ghi nhận quyền khởi kiện lại cho nguyên đơn trong trường hợp này, dẫn đến xung đột quan điểm xét xử giữa cấp sơ thẩm và phúc thẩm (như vụ án tranh chấp đất lâm nghiệp của ông Đoàn T bị TAND tỉnh P đình chỉ theo Quyết định số 11/2019/QĐST-DS ngày 24/6/2019 và bị kháng cáo hủy quyết định).
  • Chưa phân định ranh giới rõ ràng về thẩm quyền giữa Thẩm phán và HĐXX trong khoảng thời gian từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến trước thời điểm thực tế mở phiên tòa.
  1. Nhóm kiến nghị và giải pháp:
  • Hoàn thiện pháp luật: Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 217 để xác định cơ quan đại diện Nhà nước tham gia tố tụng khi đương sự chết không có người thừa kế; bổ sung quy định phải tham khảo ý kiến của bị đơn/người liên quan khi nguyên đơn rút đơn sau khi các bên đã nộp văn bản phản hồi cho Tòa án; bổ sung quyền khởi kiện lại tại khoản 1 Điều 218 đối với trường hợp bị đình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 217 khi đương sự đã có đủ điều kiện tài chính nộp chi phí; làm rõ khái niệm "trước khi mở phiên tòa" tại Điều 219.
  • Giải pháp thực thi: Nâng cao trình độ nghiệp vụ của Thẩm phán và Thư ký Tòa án; đẩy mạnh công tác giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng cho đương sự; Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành thêm các nghị quyết hướng dẫn chuyên sâu và phát triển án lệ đối với các trường hợp đình chỉ phức tạp.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực tế về công tác thụ lý, giải quyết và đình chỉ VADS tại TANDTC và TAND thành phố Thái Bình qua các bảng số liệu sau:

Bảng 1: Tình hình thụ lý và giải quyết VADS toàn quốc năm 2021 - 2022 (Nguồn: Báo cáo TANDTC)

Chỉ tiêu thống kê Năm 2021 Năm 2022
Tổng số vụ việc thụ lý 411.299 vụ việc 444.402 vụ việc
Tổng số vụ việc đã giải quyết 324.813 vụ việc 386.944 vụ việc
Tỷ lệ giải quyết 79% 87,07%
Số vụ việc thụ lý sơ thẩm 393.962 vụ việc 426.279 vụ việc
Số vụ việc giải quyết sơ thẩm 312.398 vụ việc 370.676 vụ việc
Tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy do chủ quan 0,39% 0,4%
Tỷ lệ bản án, quyết định bị sửa do chủ quan 0,4% 0,5%

Bảng 2: Tình hình giải quyết và đình chỉ VADS tại TAND thành phố Thái Bình giai đoạn 2020 - 06 tháng đầu năm 2023 (Nguồn: Phụ lục 1 & 2 khóa luận)

Năm / Giai đoạn Số vụ thụ lý Số vụ giải quyết Tỷ lệ giải quyết Số vụ đình chỉ Tỷ lệ đình chỉ / Tổng giải quyết
Năm 2020 568 vụ 483 vụ 85% 95 vụ 19,7%
Năm 2021 467 vụ 407 vụ 87,15% 70 vụ 17,2%
Năm 2022 400 vụ 325 vụ 81,25% 49 vụ 15,1%
06 tháng đầu năm 2023 158 vụ 128 vụ 81% 21 vụ 16,4%

Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, khóa luận đạt được các kết quả:

  • Hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về bản chất pháp lý, đặc điểm và ý nghĩa của việc đình chỉ giải quyết VADS ở cấp sơ thẩm;
  • Làm rõ từng căn cứ trong số 8 nhóm căn cứ đình chỉ tại Điều 217 BLTTDS năm 2015 đặt trong mối liên hệ với các quy định của BLDS năm 2015, Luật Phá sản năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 và các nghị quyết hướng dẫn của TANDTC;
  • Chỉ ra các khoảng trống pháp lý thực tế: việc đại diện Nhà nước khi đương sự chết không có người thừa kế tài sản, sự thiếu bình đẳng quyền lợi giữa nguyên đơn và bị đơn khi rút đơn khởi kiện, và sự hạn chế quyền tiếp cận công lý do không được khởi kiện lại khi bị đình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 217;
  • Đưa ra hệ thống kiến nghị lập pháp cụ thể kèm giải pháp thực thi đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Giới hạn phạm vi ở cấp sơ thẩm và trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam, chưa mở rộng nghiên cứu sâu thủ tục đình chỉ ở cấp phúc thẩm, thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hoặc so sánh với pháp luật tố tụng dân sự của các quốc gia khác.
  • Dữ liệu thực tiễn cấp cơ sở chủ yếu thu thập tại một đơn vị địa phương là TAND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và các báo cáo tổng hợp chung của TANDTC, chưa bao quát số liệu chi tiết từ nhiều Tòa án địa phương thuộc các vùng miền khác nhau.

Hướng mở nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng nghiên cứu cơ chế đình chỉ và giải quyết hậu quả thi hành án trong các giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
  • Nghiên cứu so sánh pháp luật tố tụng dân sự quốc tế về cơ chế bảo vệ quyền lợi của bị đơn khi nguyên đơn rút đơn kiện.
  • Khảo sát thực nghiệm diện rộng tại nhiều cấp Tòa án trên toàn quốc để đánh giá mức độ bất cập của quy định đình chỉ do không nộp tạm ứng chi phí định giá, giám định.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật học, đặc biệt là chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự, dùng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Lý luận Tố tụng Dân sự và Kỹ năng giải quyết vụ án dân sự.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên và Luật sư: Tham khảo phân tích chuyên sâu về 8 nhóm căn cứ đình chỉ tại Điều 217 BLTTDS năm 2015, hướng dẫn phân định thẩm quyền giữa Thẩm phán và HĐXX, cũng như các lưu ý xử lý quan hệ pháp luật nhân thân - tài sản đan xen khi đương sự chết.
  • Phần đáng tham khảo nhất: Mục phân tích chi tiết từng căn cứ đình chỉ tại Chương 1 (mục 1.2.1) kèm các văn bản giải đáp của TANDTC và mục phân tích các vướng mắc thực tiễn tại Chương 2 (mục 2.1.2) với các vụ án thực tế.

Câu hỏi thường gặp

1. BLTTDS năm 2015 có những điểm mới căn bản nào so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi năm 2011) về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự? BLTTDS năm 2015 bổ sung căn cứ mới tại điểm đ khoản 1 Điều 217 (đương sự không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác) và sửa đổi căn cứ về thời hiệu tại điểm e khoản 1 Điều 217 theo nguyên tắc Điều 184 (Tòa án chỉ xem xét đình chỉ do hết thời hiệu khi có yêu cầu của một bên hoặc các bên đương sự đưa ra trước khi có bản án, quyết định sơ thẩm, thay vì Tòa án tự động xem xét như điều kiện thụ lý theo luật cũ). Đồng thời, luật mới rút ngắn thời hạn gửi quyết định đình chỉ từ 05 ngày xuống còn 03 ngày làm việc.

2. Tòa án xử lý thế nào khi nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện nhưng bị đơn vẫn giữ yêu cầu phản tố hoặc người liên quan giữ yêu cầu độc lập? Căn cứ khoản 2 Điều 217 BLTTDS năm 2015 và hướng dẫn tại Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC, Tòa án không đình chỉ toàn bộ vụ án mà chỉ ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu của nguyên đơn. Trong quyết định phải ghi rõ việc thay đổi địa vị tố tụng: bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn (đối với yêu cầu phản tố); hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trở thành nguyên đơn (đối với yêu cầu độc lập). Quyết định đình chỉ một phần này không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.

3. Tỷ lệ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại TAND thành phố Thái Bình giai đoạn 2020 - 06 tháng đầu năm 2023 chiếm bao nhiêu và lý do chính là gì? Tỷ lệ vụ án bị đình chỉ giải quyết trên tổng số vụ án đã giải quyết hàng năm tại TAND thành phố Thái Bình dao động từ 15,1% đến 19,7% (năm 2020 là 95/483 vụ, đạt 19,7%; năm 2021 là 70/407 vụ, đạt 17,2%; năm 2022 là 49/325 vụ, đạt 15,1%; 06 tháng đầu năm 2023 là 21/128 vụ, đạt 16,4%). Lý do đình chỉ phần lớn là do nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng.

4. Vì sao việc không quy định quyền khởi kiện lại đối với trường hợp đình chỉ theo điểm đ khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015 bị tác giả đánh giá là bất cập? Vì việc không nộp tạm ứng chi phí định giá, giám định thường xuất phát từ lý do hoàn cảnh kinh tế khó khăn tạm thời của đương sự. Bản chất của việc này tương tự như không nộp tạm ứng án phí (vốn chỉ bị trả lại