CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Phẩm chất, năng lực của học sinh THPT Phẩm chất và năng lực là hai thành phần cơ bản trong cấu trúc nhân cách nói chung và là yếu tố nền tảng tạo nên nhân cách của con người. Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực là sự “tích lũy” dần dần các yếu tố của phẩm chất, năng lực người học để chuyển hóa và góp phần hình thành, phát triển nhân cách.
Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận phẩm chất, năng lực người học, từ chỗ quan tâm tới việc HS học được gì đến chỗ quan tâm tới việc HS làm được gì qua việc học. Có thể thấy, dạy học phát triển phẩm chất, năng lực có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo trong giáo dục phổ thông nói riêng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quốc gia nói chung. Khái niệm về phẩm chất, năng lực Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ở thái độ, hành vi ứng xử của con người; cùng với năng lực tạo nên nhân cách con người. Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ vào các tố chất và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kinh nghiệm, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện đạt kết quả các hoạt động trong những điều kiện cụ thể. Chương trình GDPT 2018 đã xác định mục tiêu hình thành và phát triển cho HS các NL cốt lõi gồm các NL chung và các NL đặc thù. Phẩm chất, năng lực cần phát triển cho học sinh trung học phổ thông Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2018 đã đề ra đối với HS phổ thông cần phát triển một số phẩm chất, năng lực chung, năng lực đặc thù: Phẩm chất chủ yếu của học sinh: +Yêu nước +Nhân ái +Chăm chỉ +Trung thực +Trách nhiệm Năng lực chung là những NL cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. như: Năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán; năng lực giao tiếp,… Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau.
Theo chương trình GDPT 2018 các năng lực chung của HS THPT đó là: Năng lực 3 skkn tự học; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo. Năng lực đặc thù môn học là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của các lĩnh vực học tập như ngôn ngữ, toán học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và nhân văn, công nghệ, nghệ thuật, đạo đức- giáo dục công dân, giáo dục thể chất. Do đặc thù môn học “Hóa học là một môn khoa học vừa lý thuyết vừa thực nghiệm” nên có những năng lực đặc thù sau: Năng lực nhận thức hóa học; năng lực tìm hiểu thế giới tự nhiên dưới góc độ hóa học; năng lực vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học. Các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực trong dạy học môn Hóa học 1.
Kiểm tra, đánh giá học sinh THPT 1. Hình thức đánh giá học sinh THPT Theo từ điển Giáo dục, Kiểm tra là một bộ phân của quá trình họat động dạy - học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết qủa học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra các bịên pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời để củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của họat động dạy – học. 4 skkn Theo thông tư 26/2020/TT-BGDĐT có hai hình thức là đánh giá thường xuyên (đánh giá quá trình) và đánh giá định kì (đánh giá tổng kết) là hai hình thức cơ bản được vận dụng trong các nhà trường phổ thông ở Việt Nam hiện nay. Kiểm tra, đánh giá thường xuyên Kiểm tra, đánh giá thường xuyên được thực hiện trong quá trình dạy học và giáo dục, nhằm kiểm tra, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học sinh theo chương trình môn học, hoạt động giáo dục trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Kiểm tra, đánh giá thường xuyên được thực hiện theo hình thức trực tiếp hoặc trực tuyến thông qua: hỏi - đáp, viết, thuyết trình, thực hành, thí nghiệm, sản phẩm học tập; 1.
Kiểm tra, đánh giá định kì Kiểm tra, đánh giá định kì được thực hiện sau mỗi giai đoạn giáo dục nhằm đánh giá kết quả học tập, rèn luyện và mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của học sinh theo chương trình môn học, hoạt động giáo dục quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Đặc trưng của quan điểm đánh giá (đánh giá là học tập, đánh giá vì học tập, đánh giá kết quả học tập) được thể hiện và gắn kết chặt chẽ với mục đích đánh giá trong từng hình thức. Mối quan hệ đó được thể hiện ở sơ đồ sau: 1. Phương pháp đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh THPT Đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực HS phù hợp với thực tiễn giáo 5 skkn dục Việt Nam hiện nay là đánh giá quá trình (đánh giá thường xuyên) và đánh giá kết quả (đánh giá định kì).
Giáo viên sẽ lựa chọn các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với mục đích, thời điểm và yêu cầu của từng hình thức đánh giá; Và mỗi phương pháp cũng sẽ có những công cụ kiểm tra, đánh giá phù hợ. Mối quan hệ giữa hình thức, phương pháp và công cụ kiểm tra, đánh giá được thể hiện như sau: Hình thức Phương pháp đánh giá Công cụ đánh giá đánh giá Đánh giá Phương pháp hỏi– đáp Câu hỏi. thường xuyên/ Đánh giá quá Phương pháp quan sát Ghi chép các sự kiện thường Trình(Đánh giá vì nhật,thang đo, bảng kiểm,. học tập; Đánh giá là học tập) Phương pháp đánh giá qua hồ Bảng quan sát, câu hỏi vấn sơ học tập đáp, phiếu đánh giá theo tiêu chí (Rubric),… Phương pháp đánh giá qua sản Bảng kiểm, thang đánh giá, phẩm học tập phiếu đánh giá theo tiêu chí (Rubric),… Phương pháp kiểm tra viết KWL, KWLH, câu trả lời ngắn, thẻ kiểm tra,… Đánh giá định kì/ -Phươngpháp kiểm tra viết Bài kiểm tra (câu hỏi tự luận, Đánh giá tổng kết -Phương pháp đánh giá qua câu hỏi trắc nghiệm), bài luận, (Đánh giá kết quả hồ sơ học tập bảng kiểm, phiếu đánh giá theo học tập) tiêu chí, thang đo.
-Phương pháp đánh giá qua sản phẩm học tập 1. Lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá trong dạy học chủ đề/bài học môn Hóa học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Để nâng cao hiệu quả của KTĐG, cần xây dựng kế hoạch KTĐG (song song với KHDH) cho từng giai đoạn dạy học (có thể là 1 năm, 1 học kì, 1 giai đoạn cần đánh giá kết quả học tập hoặc 1 chủ đề, 1 bài học), bao gồm cả đánh giá quá trình (đánh giá thường xuyên) và đánh giá tổng kết (đánh giá định kì). Giai đoạn lập kế hoạch càng ngắn thì kế hoạch đánh giá càng chi tiết. Đối với mỗi chủ đề, bài học thì kế hoạch KTĐG cần chi tiết và được lồng ghép vào từng hoạt động dạy học mà GV định triển khai.
Mục đích của đánh giá là để phát triển học tập và thực hiện trong cả quá trình dạy học. GV cần xác định rõ mục tiêu dạy học, mô tả chi tiết các nội dung, khái niệm, quy trình, thuật ngữ, và những kĩ năng 6 skkn mà HS cần tích lũy và sử dụng. Cần đề cập rõ các hoạt động KTĐG ứng với các hoạt động dạy học, hoạt động KTĐG thường xuyên hay định kì, thời điểm triển khai. Với từng hoạt động KTĐG cần xác định rõ câu trả lời cho các câu hỏi: tại sao phải KTĐG? KTĐG cái gì? KTĐG bằng phương pháp nào? Sử dụng công cụ gì để thu thập minh chứng và đánh giá? Những yếu tố nào giúp đảm bảo chất lượng KTĐG? Sử dụng kết quả kiểm tra đánh giá như thế nào? Các bước để lập kế hoạch kiểm tra đánh giá cho 1 chủ đề/bài học: Bước 1: Xác định YCCĐ từ yêu cầu cần đạt của chủ đề Bước 2: Phân tích yêu cầu cần đạt và mô tả mức độ biểu hiện của yêu cầu cần đạt, xác định hoạt động và nội dung ứng với mỗi YCCĐ Bảng phân tích yêu cầu cần đạt và mô tả các mức độ biểu hiện của chủ đề/bài học ….
TT Yêu cầu cần đạt Góp phần phát triển NL thành Mức độ phần của NL hóa học, phẩm biểu hiện chất, NL chung 1 2. Bước 3: Xác định các phương pháp và công cụ đánh giá Xác định các phương pháp và công cụ đánh giá cần dựa theo các YCCĐ, năng lực góp phần phát triển trong các hoạt động cụ thể. Vì vậy trước hết GV cần xác định các hoạt động dạy học cụ thể trong bài học/chủ đề, các YCCĐ ứng với mỗi hoạt động đó, từ đó mới lựa chọn phương pháp và công cụ đánh giá cụ thể. Trong mỗi chủ đề/bài học thường tổ chức các hoạt động: -Khởi động: nhằm huy động kiến thức, kĩ năng liên quan đến chủ đề/bài học, tạo tình huống có vấn đề, giới thiệu mục tiêu, nội dung bài học,….
Trong hoạt động này thường đánh giá kiến thức liên quan đến chủ đề/bài học mà HS đã học trước các bài học, lớp học trước hay môn học khác hoặc các kiến thức kĩ năng trong thực tiễn. Đây là những kiến thức, kĩ năng cơ sở để kiến tạo nội dung mới trong chủ đề/bài học. Phương pháp đánh giá thường là đánh giá viết hoặc hỏi đáp. Công cụ đánh giá trong hoạt động này thường là câu hỏi, bài tập, đề kiểm tra, cũng có thể sử dụng bảng kiểm,… -Hình thành kiến thức mới: Tổ chức các hoạt động hình thành các kiến thức, kĩ năng của chủ đề/bài học để đạt được các YCCĐ, qua đó phát triển phẩm chất, năng lực của HS.
Hoạt động hình thành kiến thức thường chia thành các hoạt động nhỏ hơn tùy nội dung chủ đề/bài học và cách thức tổ chức dạy học.