Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu về quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một trọng điểm chiến lược của hệ thống giáo dục quốc dân. Theo số liệu tổng kết triển khai Đề án 1956 giai đoạn 2010 - 2014 của Ban Chỉ đạo Trung ương, cả nước có gần 3,2 triệu lao động nông thôn được học nghề, đạt 70,8% mục tiêu tổng quát, trong đó 2.169.562 lượt người nhận hỗ trợ chính sách. Tuy nhiên, tại cấp huyện, chất lượng đào tạo còn nhiều hạn chế, cơ sở vật chất chưa đồng bộ và nội dung dạy nghề còn tách rời nhu cầu sản xuất thực tế. Điển hình tại huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011 - 2014, dù địa phương đã tổ chức đào tạo cho 6.715 lượt người với 70,07% có việc làm (tương đương 4.705 người), nhưng tỷ lệ lao động được doanh nghiệp tuyển dụng trực tiếp chỉ đạt 10,5%, còn lại đa phần là tự tạo việc làm nông nghiệp với năng suất thấp.

Vấn đề then chốt đặt ra là các cơ sở dạy nghề công lập chưa xây dựng được cơ chế gắn kết chặt chẽ để thu hút các nguồn lực xã hội, đặc biệt là nguồn lực từ khối doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp sản xuất trên địa bàn. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ thực trạng quản lý hoạt động huy động 4 nguồn lực chính (tài lực, vật lực, nhân lực, thông tin) của doanh nghiệp vào công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Đề án 1956 tại Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp Dạy nghề Ninh Giang giai đoạn 2011 - 2015. Trên cơ sở đó, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp quản lý đồng bộ nhằm nâng tỷ lệ lao động có việc làm bền vững sau đào tạo lên trên 80% và gia tăng tỷ lệ doanh nghiệp tiếp nhận lao động lên mức 25% - 30% trong giai đoạn 2016 - 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết quản lý tổ chức theo 4 chức năng kinh điển: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá, gắn liền với quan điểm xã hội hóa giáo dục của các nhà nghiên cứu giáo dục trong nước. Nghiên cứu tham chiếu các mô hình hợp tác trường học - doanh nghiệp quốc tế tiêu biểu như: Mô hình đào tạo kép (Dual System) của Cộng hòa Liên bang Đức, Mô hình đào tạo luân phiên (Alternation) của Pháp, Mô hình "Ba kết hợp" của Trung Quốc và Hệ thống kết hợp đào tạo (Link and Match) của Indonesia.

Hệ thống khái niệm công cụ được chuẩn hóa trên cơ sở Luật Dạy nghề năm 2006, các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Bốn khái niệm trọng tâm bao gồm: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (quá trình trang bị kỹ năng thực hành và kiến thức nghề chuyên biệt cho người dân từ 15 tuổi trở lên tại địa bàn nông thôn); Nguồn lực doanh nghiệp (tổng hòa tài lực, vật lực, nhân lực kỹ thuật và tin lực thị trường); Xã hội hóa giáo dục nghề nghiệp; và Quản lý huy động nguồn lực doanh nghiệp (tác động có chủ đích của bộ máy quản lý nhằm thu hút và khai thác tối ưu các nguồn lực ngoài ngân sách phục vụ đào tạo).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm các báo cáo định kỳ giai đoạn 2011 - 2015 của Ủy ban nhân dân huyện Ninh Giang, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Ninh Giang, và Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp Dạy nghề Ninh Giang. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa bằng phiếu hỏi cấu trúc kết hợp phỏng vấn sâu chuyên gia.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 125 đối tượng được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích, đại diện cho 4 nhóm: 15 cán bộ quản lý trung tâm và phòng ban chuyên môn cấp huyện, 40 giáo viên dạy nghề trực tiếp, 30 lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật doanh nghiệp, cùng 40 học viên sau đào tạo. Phương pháp chọn mẫu này đảm bảo phản ánh đa chiều từ phía quản lý, đơn vị đào tạo, người sử dụng lao động và người thụ hưởng. Phương pháp phân tích số liệu sử dụng thống kê toán học (tính điểm trung bình, phương sai, tỷ lệ phần trăm) để xử lý định lượng dữ liệu bảng hỏi và kiểm định mức độ tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp. Quá trình thu thập và xử lý dữ liệu hoàn thành vào tháng 4 năm 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa tỷ lệ việc làm chung và tỷ lệ tuyển dụng của doanh nghiệp. Trong tổng số 6.715 người được đào tạo giai đoạn 2011 - 2014 tại Ninh Giang, 70,07% học viên có việc làm sau tốt nghiệp nhưng tỷ lệ được doanh nghiệp tuyển dụng chỉ chiếm 10,5%. Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 22,8% của toàn quốc trong cùng kỳ.

Thứ hai, việc huy động 4 nhóm nguồn lực doanh nghiệp diễn ra rất mất cân đối. Về tài lực và vật lực, Trung tâm gần như phụ thuộc 100% vào nguồn ngân sách nhà nước cấp từ Đề án 1956; nguồn tài trợ trang thiết bị từ doanh nghiệp chỉ chiếm dưới 2% tổng giá trị tài sản phục vụ dạy nghề. Về nhân lực, tỷ lệ thợ bậc cao và kỹ sư từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy thỉnh giảng chỉ đạt 12,5% tổng số tiết thực hành. Về tin lực, chưa hình thành kênh chia sẻ dữ liệu tuyển dụng định kỳ giữa Trung tâm và các cụm công nghiệp địa phương.

Thứ ba, sự phù hợp giữa danh mục đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động còn thấp. Có tới 65,9% người học sau khóa đào tạo 3 tháng quay lại làm nông nghiệp đơn thuần, năng suất tăng không đáng kể do thiếu vốn đầu tư mở rộng và thiếu công nghệ tiên tiến.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng trên xuất phát từ năng lực quản trị của cơ sở đào tạo chưa chủ động, khi các nghiên cứu quản trị chỉ ra rằng yếu tố quản lý chiếm đến 55% sự thành bại của đơn vị. Trung tâm chưa xây dựng được cơ chế chia sẻ lợi ích rõ ràng, khiến doanh nghiệp nhìn nhận việc hợp tác dạy nghề là gánh nặng trách nhiệm xã hội thay vì một chiến lược đầu tư nhân sự dài hạn.

Khi so sánh với mô hình Dual System của Đức hay Link and Match của Indonesia, hạn chế lớn nhất tại Ninh Giang là thiếu hành lang pháp lý ràng buộc quyền lợi và nghĩa vụ thuế cho doanh nghiệp khi tiếp nhận thực tập sinh. Dữ liệu khảo sát có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ cơ cấu việc làm sau đào tạo (với 10,5% tuyển dụng doanh nghiệp so với 89,5% tự tạo việc làm) và bảng ma trận đánh giá tương quan giữa tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý, giúp lãnh đạo địa phương nhận diện rõ các điểm nghẽn để ưu tiên phân bổ ngân sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 6 biện pháp quản lý trọng tâm:

  1. Xây dựng chiến lược phát triển trung hạn và dài hạn cho Trung tâm: Tích hợp chỉ tiêu liên kết doanh nghiệp vào kế hoạch 5 năm, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ học viên có việc làm ổn định đạt trên 80% giai đoạn 2016 - 2020. Chủ thể thực hiện: Ban Giám đốc Trung tâm; timeline: Quý IV/2016.
  2. Đổi mới quy trình phát triển chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng: Tăng tỷ trọng thời lượng thực hành trực tiếp tại phân xưởng doanh nghiệp lên mức tối thiểu 50% tổng thời lượng khóa học 3 tháng. Chủ thể: Phòng Đào tạo phối hợp với các doanh nghiệp sản xuất; timeline: Hoàn thành trong năm 2017.
  3. Ký kết hợp đồng thỉnh giảng định kỳ với đội ngũ kỹ sư và thợ bậc cao: Phấn đấu đạt tỷ lệ 35% - 40% giáo viên thỉnh giảng là cán bộ kỹ thuật doanh nghiệp nhằm nâng cao tính thực chiến cho học viên. Chủ thể: Tổ chuyên môn nghề; timeline: Triển khai từ đầu năm 2017.
  4. Thiết lập mạng lưới thông tin thị trường lao động và quảng bá thương hiệu: Xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa kết nối trực tiếp với ít nhất 50 doanh nghiệp trong và ngoài huyện. Chủ thể: Bộ phận Hướng nghiệp - Việc làm; timeline: Giai đoạn 2017 - 2018.
  5. Hoàn thiện cơ chế hợp tác công - tư trong sử dụng cơ sở vật chất: Đàm phán để doanh nghiệp hỗ trợ chuyển giao công nghệ và bao tiêu sản phẩm thực hành cho 100% lớp sơ cấp nghề nông nghiệp công nghệ cao. Chủ thể: Ban Giám đốc Trung tâm và đại diện Hội Doanh nghiệp huyện; timeline: Thường niên từ 2017.
  6. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá chuẩn đầu ra độc lập: Mời đại diện doanh nghiệp tham gia hội đồng chấm thi tốt nghiệp đạt tỷ lệ tối thiểu 50% thành viên ban giám khảo. Chủ thể: Hội đồng kiểm tra chất lượng; timeline: Áp dụng từ các khóa đào tạo năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Ban giám đốc và cán bộ quản lý các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên cấp huyện: Cung cấp khung quy trình 4 bước (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra) cùng 6 giải pháp mẫu để vận dụng vào công tác xã hội hóa đào tạo nghề.
  2. Cơ quan quản lý nhà nước (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân cấp huyện): Có thêm căn cứ khoa học và số liệu thực chứng từ địa bàn Ninh Giang để điều chỉnh định mức kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề theo Đề án 1956 và xây dựng chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp liên kết giáo dục.
  3. Lãnh đạo các doanh nghiệp, hợp tác xã tại địa phương: Nắm bắt phương thức phối hợp đào tạo theo đơn đặt hàng, giúp cắt giảm 30% - 40% chi phí đào tạo lại công nhân mới và tiếp cận nguồn lao động ổn định.
  4. Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý giáo dục: Khai thác hệ thống cơ sở lý luận về huy động nguồn lực xã hội, công cụ khảo sát thang đo Likert và phương pháp kiểm định độ tin cậy của giải pháp trong nghiên cứu khoa học giáo dục.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tỷ lệ lao động được doanh nghiệp tuyển dụng tại Ninh Giang chỉ đạt 10,5% dù tỷ lệ có việc làm chung đạt 70,07%?
Thực trạng này do phần lớn chỉ tiêu đào tạo tập trung vào các nghề nông nghiệp truyền thống ngắn hạn. Người học sau đào tạo chủ yếu tự canh tác trên diện tích gia đình mà không có hợp đồng lao động chính thức. Các ngành nghề phi nông nghiệp thiếu thiết bị hiện đại, dẫn đến việc tay nghề chưa đáp ứng tiêu chuẩn tuyển dụng khắt khe của các doanh nghiệp công nghiệp.

2. Đề án 1956 đặt ra những chỉ tiêu cụ thể nào về tỷ lệ việc làm cho lao động nông thôn?
Theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chỉ tiêu tối thiểu đặt ra là 70% lao động nông thôn có việc làm sau học nghề trong giai đoạn 2011 - 2015, và nâng lên tối thiểu 80% trong giai đoạn 2016 - 2020. Mục tiêu toàn quốc đào tạo bình quân 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm.

3. Bốn nguồn lực cốt lõi từ doanh nghiệp mà cơ sở đào tạo nghề cần huy động gồm những gì?
Bốn nguồn lực bao gồm 2 nhóm chính: nguồn lực vật chất (tài lực gồm tài trợ kinh phí, học bổng; vật lực gồm máy móc, nhà xưởng thực hành) và nguồn lực phi vật chất (nhân lực gồm kỹ sư, thợ lành nghề tham gia giảng dạy; tin lực gồm dự báo nhu cầu tuyển dụng và tiêu chuẩn kỹ năng nghề thực tế).

4. Yếu tố chủ quan nào quyết định trực tiếp đến hiệu quả huy động nguồn lực doanh nghiệp?
Năng lực lãnh đạo và quản lý của Trung tâm là yếu tố then chốt nhất. Các nghiên cứu quản trị chứng minh nguyên nhân xuất phát từ khâu quản lý chiếm tới 55% sự thành bại của một đơn vị. Ban lãnh đạo cần chủ động xây dựng cơ chế đôi bên cùng có lợi thay vì thụ động trông chờ ngân sách.

5. Cơ sở khoa học nào chứng minh tính khả thi của 6 biện pháp quản lý được đề xuất?
Tính khả thi được kiểm chứng thông qua khảo nghiệm chuyên gia với 125 phiếu khảo sát đánh giá theo thang đo định lượng. Kết quả phân tích thống kê cho thấy sự tương quan thuận chặt chẽ giữa mức độ cấp thiết và mức độ khả thi của cả 6 biện pháp, với tỷ lệ đồng thuận cao trên 85%.

Kết luận

• Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý huy động 4 nguồn lực doanh nghiệp trong giáo dục nghề nghiệp cho lao động nông thôn.
• Đánh giá sâu sắc thực trạng đào tạo 6.715 lượt học viên tại Ninh Giang giai đoạn 2011 - 2015, chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất là tỷ lệ doanh nghiệp tuyển dụng chỉ đạt 10,5%.
• Chỉ ra nguyên nhân cốt lõi nằm ở công tác quản lý của cơ sở đào tạo, chiếm 55% tác động đến hiệu quả liên kết doanh nghiệp.
• Đề xuất hệ thống 6 biện pháp quản lý đồng bộ với đầy đủ chủ thể, chỉ tiêu và lộ trình thực thi giai đoạn 2016 - 2020.
• Kiểm chứng tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp qua khảo sát 125 chuyên gia và cán bộ quản lý.

Đóng góp trọng tâm của công trình là cung cấp mô hình quản lý liên kết nhà trường - doanh nghiệp có thể nhân rộng cho các trung tâm giáo dục nghề nghiệp cấp huyện trên toàn quốc. Bước tiếp theo, các đơn vị cần khẩn trương số hóa dữ liệu thị trường lao động và ký kết hợp đồng đào tạo theo đơn đặt hàng để hiện thực hóa mục tiêu 80% lao động có việc làm ổn định trước năm 2020. Hãy chủ động đổi mới mô hình quản lý đào tạo nghề ngay hôm nay nhằm tạo đột phá nguồn nhân lực cho nông thôn mới!