Huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu hay huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

108
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀO ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Trên thế giới

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO ĐỀ ÁN 1956 TẠI TRUNG TÂM KT TH HN-DN NINH GIANG

3. CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀO HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN THEO ĐỀ ÁN 1956 TẠI TRUNG TÂM KT TH HN-DN NINH GIANG

4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Huy động nguồn lực doanh nghiệp cho đào tạo nghề nông thôn

Đề án 1956 được phê duyệt nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn thông qua việc huy động nguồn lực từ doanh nghiệp. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn không chỉ giúp cải thiện kỹ năng mà còn tạo ra cơ hội việc làm bền vững. Tuy nhiên, việc thực hiện đề án này vẫn gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc kết nối giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo.

1.1. Đề án 1956 và mục tiêu đào tạo nghề

Đề án 1956 nhằm mục tiêu đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, với yêu cầu tối thiểu 70% lao động có việc làm sau khi học nghề. Điều này đòi hỏi sự tham gia tích cực của doanh nghiệp trong việc cung cấp nguồn lực và hỗ trợ đào tạo.

1.2. Vai trò của doanh nghiệp trong đào tạo nghề

Doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin về nhu cầu lao động, hỗ trợ tài chính và tham gia vào quá trình đào tạo. Sự hợp tác này giúp đảm bảo rằng chương trình đào tạo phù hợp với thực tế thị trường lao động.

II. Thách thức trong việc huy động nguồn lực doanh nghiệp cho đào tạo nghề

Mặc dù có nhiều chính sách hỗ trợ, việc huy động nguồn lực từ doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn. Chất lượng đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường, và nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của việc tham gia vào đào tạo nghề.

2.1. Chất lượng đào tạo nghề còn hạn chế

Chương trình đào tạo chưa được cập nhật thường xuyên, dẫn đến việc lao động sau khi học nghề không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Điều này làm giảm khả năng tuyển dụng của lao động nông thôn.

2.2. Thiếu sự kết nối giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo

Nhiều doanh nghiệp chưa chủ động hợp tác với các cơ sở đào tạo, dẫn đến việc thiếu thông tin về nhu cầu lao động. Sự thiếu kết nối này làm giảm hiệu quả của các chương trình đào tạo nghề.

III. Phương pháp huy động nguồn lực doanh nghiệp cho đào tạo nghề

Để nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực doanh nghiệp, cần áp dụng các phương pháp hợp tác chặt chẽ giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Việc xây dựng các chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tế của doanh nghiệp là rất cần thiết.

3.1. Xây dựng chương trình đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp

Các chương trình đào tạo cần được thiết kế dựa trên nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, từ đó giúp lao động nông thôn có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn.

3.2. Tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo

Cần thiết lập các cơ chế hợp tác rõ ràng giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, bao gồm việc doanh nghiệp tham gia vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo và cung cấp thực tập cho học viên.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu từ đề án 1956

Kết quả từ việc huy động nguồn lực doanh nghiệp cho đào tạo nghề đã cho thấy những tín hiệu tích cực. Nhiều lao động nông thôn đã tìm được việc làm sau khi tham gia các chương trình đào tạo, tuy nhiên vẫn cần cải thiện hơn nữa.

4.1. Kết quả thực hiện đề án 1956 tại Ninh Giang

Theo báo cáo, số lao động có việc làm sau khi học nghề đạt 70%, tuy nhiên tỷ lệ lao động được doanh nghiệp tuyển dụng chỉ đạt 10,5%. Điều này cho thấy cần có sự cải thiện trong chất lượng đào tạo.

4.2. Những mô hình thành công trong huy động nguồn lực

Một số mô hình hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo đã thành công, tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho lao động nông thôn. Các mô hình này cần được nhân rộng và áp dụng rộng rãi.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho đào tạo nghề nông thôn

Để đạt được mục tiêu của đề án 1956, cần có sự tham gia tích cực hơn từ doanh nghiệp trong việc huy động nguồn lực cho đào tạo nghề. Việc cải thiện chất lượng đào tạo và kết nối giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo là rất quan trọng.

5.1. Đề xuất các giải pháp cải thiện

Cần xây dựng các chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào đào tạo nghề, đồng thời cải thiện chất lượng chương trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu thực tế.

5.2. Tương lai của đào tạo nghề nông thôn

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn sẽ tiếp tục là một trong những ưu tiên hàng đầu trong phát triển kinh tế xã hội. Sự hợp tác giữa doanh nghiệp và cơ sở đào tạo sẽ là chìa khóa cho thành công.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hay huy động nguồn lực doanh nghiệp vào hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đề án 1956 tại trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp dạy nghề ninh giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG NGUỒN LỰC DOANH NGHIỆP VÀO ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN Ở TRUNG TÂM KỸ THUẬT TỔNG HỢP HƯỚNG NGHIỆP DẠY NGHỀ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Nghiên cứu về huy động nguồn lực doanh nghiệp (DN), nguồn lực xã hội để phát triển giáo dục đã được quan tâm nghiên cứu từ lâu. UNESCO đã tổ chức các cuộc hội thảo, nghiên cứu về vấn đề gắn đào tạo với sử dụng trong đào tạo nghề.

Trong đó, vấn đề huy động nguồn lực doanh nghiệp thông qua chương trình hợp tác đào tạo nghề tại trường và doanh nghiệp được quan tâm hàng đầu. UNESCO đưa ra quan điểm định hướng cho tất cả các nước về kết hợp đào tạo nghề tại Trung tâm và DNSX bao gồm hai hướng cơ bản sau: Tăng cường năng lực thực hiện hệ thống song hành sửa đổi (Modified Dual System) để tiến hành học tập tại nơi làm việc cùng với học tập tại trường. Nghiên cứu các phương thức kết hợp học tập tại trường với học tập tại nơi làm việc, ví dụ: kết hợp đào tạo [9]. Trên thế giới, ở nhiều nước đã nghiên cứu, áp dụng kết hợp đào tạo tại trường và DNSX.

Điển hình là: Ở CHLB Đức, kết hợp đào tạo tại trường và DNSX được coi là loại hình đào tạo cơ bản và được áp dụng rộng rãi trong toàn quốc. Điển hình là mô hình Dual 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các nhà nghiên cứu giáo dục Việt Nam gọi là “đào tạo kép”, "đào tạo song hành" hay còn gọi là “đào tạo song tuyến”, "Khái niệm Dual system" [14]. Ở Cộng hòa Pháp, việc đào tạo kết hợp tại trường và DNSX đã và đang được nghiên cứu, áp dụng.

Điển hình là mô hình đào tạo “luân phiên” (Alternation) của Viện IFABTP (Viện đào tạo luân phiên về Xây dựng và Công trình công cộng) [39]. Mô hình này tỏ ra phù hợp với điều kiện hiện nay ở nước ta, nhưng về phương diện tổ chức đào tạo sẽ gặp một số khó khăn nhất định. Nghiên cứu về vai trò, lợi ích của việc DN tham gia vào quá trình đào tạo nghề đã từng bước được nghiên cứu ở châu Á, đáng chú ý là ở nước có điều kiện kinh tế - xã hội không khác xa so với Việt Nam. Ở Trung Quốc, quán triệt quan điểm “Ba kết hợp” (Đào tạo, sản xuất và dịch vụ).

"Ba trong một" là quan điểm được quán triệt trong đào tạo nghề ở Trung Quốc hiện nay: Đào tạo, sản xuất, dịch vụ. Theo đó, các trường dạy nghề phải gắn bó chặt chẽ với các cơ sở sản xuất và dịch vụ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề [8]. Ở In-đô-nê-xia, để đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho thị trường thương mại tự do ASEAN năm 2003 và APEC năm 2020, hệ thống đào tạo nghề được nghiên cứu phát triển mạnh. Trong đó, kết hợp nguồn lực của DN và nguồn lực của nhà trường trong đào tạo nghề được quan tâm đặc biệt.

Việc kết hợp đựợc thực hiện thông qua Mô hình kết hợp đào tạo nghề được Bộ Văn hóa và Giáo dục bắt đầu đề xuất năm 1993 có tên gọi là Pendidican Sistem Ganda (PSG) - Hệ thống đào tạo kép được thực hiện bởi trường dạy nghề và các bên đại diện cho giới việc làm tham gia đào tạo. Hệ thống PSG có những nét khác biệt với hệ thống đào tạo kép của Đức và phù hợp hơn với điều kiện châu Á. Đến cuối những năm 90, nhà giáo dục Simurat Saruli phát triển phương thức 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kết hợp đào tạo nghề có tên gọi là "Hệ thống kết hợp đào tạo" (Link and Match System) cho giáo dục kỹ thuật ở In-đô-nê-xia [40]. Ở Hàn Quốc, trong vài thập kỷ qua, khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, Chính phủ, các nhà giáo dục và quản lý nhân sự của ngành công nghiệp sản xuất nhận ra vai trò quan trọng của việc kết hợp đào tạo nghề tại trường và doanh nghiệp.

Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra mô hình kết hợp đào tạo nghề có tên gọi là "hệ thống 2+1" (2+1 system). Hệ thống này có những nét giống với mô hình đào tạo kép của Đức. Đặc điểm riêng biệt của hệ thống này là 02 năm đào tạo tại trường và 01 năm đào tạo tại doanh nghiệp. Ở Thái Lan, một trong những mục tiêu chiến lược của kế hoạch phát triển quốc gia lần thứ 8 (1997- 2001) và lần thứ 9 (2002 - 2006) của Thái Lan tập trung vào phát triển nguồn nhân lực trong nền kinh tế năng động.

Thực tế đào tạo nghề chưa đáp ứng được yêu cầu nguồn lao động kỹ thuật. Để có nhân lực kỹ thuật phục vụ tại các doanh nghiệp sản xuất, họ đã tổ chức đào tạo tại xưởng sản xuất của mình. Tuy nhiên, đây chỉ là biện pháp tình thế trước mắt trong thời gian đến năm 1998. Đến năm 1999, Chính phủ Thái Lan đã nghiên cứu và xây dựng "Hệ thống hợp tác đào tạo nghề" (Cooperative Training System) để giải quyết tình trạng bất cập giữa đào tạo nghề và sử dụng nói trên và hướng tới phát triển nhân lực kỹ thuật trong tương lai [41].

Ở Nhật Bản, được Chính phủ hỗ trợ, các DNSX vừa và nhỏ cùng hợp tác thành lập trung tâm đào tạo nghề. Dạy lý thuyết tại trung tâm và thực tập sản xuất tại DNSX. Kết quả nghiên cứu mô hình đào tạo nghề ở các nước trên thế giới cho thấy, nguồn lực DN là một nhân tố quan trong tham gia vào quá trình đào tạo nghề ở các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghề và DN sản xuất là một trong những nhân tố đảm bảo chất lượng chuẩn đầu ra, gắn kết giữa đào tạo và sử dụng.

Ở Việt Nam Ở Việt Nam hiện nay, vấn đề huy động DN, xã hội hoá giáo dục để phát triển giáo dục đã thu hút sự quan tâm rất lớn của các nhà khoa học về giáo dục, các nhà quản lý giáo dục, các chuyên gia. Kết quả nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, muốn đổi mới và phát triển giáo dục và đào tạo thì yếu tố nguồn lực đóng vai trò hết sức quan trọng. Sự phát triển giáo dục và nhu cầu học tập của người dân ngày càng tăng đã khiến cho không một quốc gia nào trên thế giới đủ giàu để có thể bao cấp toàn bộ cho nền giáo dục quốc dân, đặc biệt là giáo dục nghề nghiệp [24]. Nhận thức được vai trò của nguồn lực xã hội trong sự nghiệp phát triển giáo dục, ngay từ những năm đầu của công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã hết sức chú trọng đến việc huy động nguồn lực xã hội, trong đó có nguồn lực từ các Doanh nghiệp để phát triển giáo dục thông qua chủ trương xã hội hóa giáo dục.

Đây là một chủ trương lớn đã được triển khai rất có hiệu quả trong những thập niên qua. Việc huy động nguồn lực xã hội cho giáo dục không chỉ phương diện tài chính, vật lực mà cần đặc biệt chú trọng đến huy động trí lực và nhân lực. Nghị quyết kỳ họp thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI tiếp tục khẳng định “Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học”[1]. Nghị quyết 29 NQ/TW, ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã tạo cơ hội cho việc huy động nguồn lực xã hội để phát triển và đổi mới giáo dục và đào tạo đồng thời cũng đòi hỏi một sự thay đổi về tư duy và phương thức quản lý giáo dục, sự đổi mới về thể chế và tái cơ cấu hệ thống sao cho việc huy động được thực hiện đúng hướng, toàn diện và hiệu quả.

[1] Đảng và Nhà nước ta ngày càng quan tâm tạo điều kiện để cho nhà trường huy động nguồn lực DN để hợp tác với nhà trường trong đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao, nhất là trong những năm gần đây đã ban hành cơ chế chính sách thông thoáng giúp cho sự hợp tác này được thuận lợi. Điều này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề năm 2006 và Điều lệ trường CĐ nghề năm 2007, Điều lệ trường TC nghề năm 2007, Điều lệ trường trung cấp chuyên nghiệp năm 2008, Quy chế mẫu của trung tâm dạy nghề năm 2007, v. Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước ta, cho đến hiện nay có thể nói, thực trạng việc huy động nguồn lực DN cũng như mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường với DN trong đào tạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. Mặc dù có cơ chế, chính sách thuận lợi như vậy song ở nước ta, cho đến hiện nay có thể nói, thực trạng mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường với DN trong đào tạo nghề còn nhiều yếu kém và cũng có rất ít công trình nghiên cứu về vấn đề này.

Một số công trình khoa học nghiên cứu việc thực hiện chủ trương của Đảng trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo bằng con đường xã hội hoá. Trong các 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công trình đó cần nêu lên các đề tài nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học công tác tại Công đoàn Giáo dục Việt Nam, Viện Khoa học Giáo dục, Ban Khoa giáo Trung ương của các tác giả Nguyễn Mậu Bành, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Bảy, Thái Hoà. Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới, NXB Giáo dục. Hà Nội; Báo cáo chuyên đề “Nghiên cứu việc thực hiện các chủ trương của Đảng về giáo dục bằng con đường xã hội hoá” do PGS.

Lê Khanh chủ trì thực hiện từ năm 1997 đến cuối năm 1999. Đề tài cấp Bộ “Đánh giá tác động của các chính sách xã hội hoá giáo dục” (mã số B99-52-TĐ32 Bộ giáo dục - đào tạo - Viện nghiên cứu phát triển giáo dục).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề "Huy động nguồn lực doanh nghiệp cho đào tạo nghề lao động nông thôn theo đề án 1956" tập trung vào việc khai thác và sử dụng hiệu quả nguồn lực từ các doanh nghiệp để nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đề án 1956 không chỉ nhằm cải thiện kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động mà còn góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Tài liệu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức hợp tác giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo, từ đó tạo ra những cơ hội việc làm bền vững cho lao động nông thôn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn thạc sĩ hcmute đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh bình định", nơi đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm cải thiện hiệu quả đào tạo nghề. Bên cạnh đó, tài liệu "Quản lý nhà nƣớc về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn huyện vĩnh linh tỉnh quảng trị" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của chính quyền trong việc quản lý và phát triển đào tạo nghề. Cuối cùng, tài liệu "Công tác đào tạo kỹ thuật viên tại trung tâm điều độ hệ thống điện thành phố hà nội" cũng cung cấp những thông tin hữu ích về đào tạo nghề trong lĩnh vực kỹ thuật, từ đó mở rộng thêm góc nhìn cho bạn về các mô hình đào tạo khác nhau.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm bắt thông tin mà còn mở ra nhiều cơ hội để tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của đào tạo nghề cho lao động nông thôn.